MyLabel

Tình hình kinh tế- xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế 9 tháng đầu năm 2015

9/23/2015                                                                                                                 
                                                                                     TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI
                                                                                        9 THÁNG ĐẦU NĂM 2015


Tình hình kinh tế xã hội 9 tháng đầu năm 2015 diễn ra trong không khí tổ chức thành công Đại hội Chi, Đảng bộ các cấp, chuẩn bị Đại hội Tỉnh Đảng bộ lần thứ XV vào tháng 10/2015 và tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII.
Kinh tế xã hội 9 tháng đầu năm 2015 cũng ghi nhận những diễn biến quan trọng trên thế giới như: giá dầu liên tục sụt giảm đến mức thấp nhất trong lịch sử nhiều thập niên qua; phá giá đồng nhân dân tệ; biến động mạnh về thị trường chứng khoán, nhất là thị trường Trung Quốc; đánh bom ở Thái Lan... đã có các tác động nhất định đến phát triển kinh tế trong nước. Trong đó, việc giá xăng dầu giảm là yếu tố thuận lợi cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và kích thích tiêu dùng, cùng với tác dụng của những chính sách hỗ trợ đã tạo điều kiện cho doanh nghiệp vượt qua khó khăn và lấy lại đà tăng trưởng. Kinh tế trong tỉnh chuyển biến tích cực, trong đó sản xuất công nghiệp đạt mức tăng trưởng khá cao; sản xuất nông lâm, thủy sản duy trì ổn định và phát triển, chăn nuôi tiếp tục chuyển biến theo hướng qui mô sản xuất hàng hóa. Các lĩnh vực xã hội đạt kết quả tốt, công tác bảo đảm an sinh xã hội thường xuyên được chú trọng. Tuy nhiên nền kinh tế cũng đứng trước những tác động tiêu cực: xuất khẩu gặp khó khăn, thu thuế hải quan giảm; lượng khách du lịch trong 9 tháng đầu năm giảm; một số mặt hàng chủ lực của tỉnh phải đối đầu với cạnh tranh gay gắt trên thị trường trong và ngoài tỉnh; thu hút vốn đầu tư chậm, nguồn thu ngân sách còn hạn chế.
Thực hiện các Nghị quyết và Kế hoạch của: Chính phủ, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, UBND tỉnh về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và dự toán NSNN năm 2015, ngay từ đầu năm UBND tỉnh đã có Công văn số 7375/UBND-TH về triển khai kế hoạch năm 2015, thực hiện quyết liệt các giải pháp, biện pháp để tổ chức thực hiện đạt và vượt các chỉ tiêu được giao. Kết quả thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội 9 tháng đầu năm 2015 trên các lĩnh vực như sau:
1. Tài chính
Tổng thu ngân sách 9 tháng đầu năm 2015 ước đạt 3.491,4 tỷ đồng, bằng 71,2% dự toán năm, tăng 5,58% so cùng kỳ năm trước; trong đó thu nội địa 3.014,8 tỷ đồng, bằng 73,2% DT, tăng 13,46%; thu thuế xuất nhập khẩu 225,5 tỷ đồng, bằng 57,8%DT, giảm 19,54%.
Trong thu nội địa: Thu doanh nghiệp Nhà nước đạt 333,5 tỷ đồng, bằng 74,1%DT, tăng 23,83% so cùng kỳ năm trước; thu DN có vốn đầu tư nước ngoài 1.022,1 tỷ đồng, bằng 64,5%DT, tăng 7,51%, nguồn thu DN có vốn đầu tư nước ngoài đạt thấp so dự toán do sản phẩm bia trong 9 tháng đầu năm sản xuất và tiêu thụ chậm lại, đây là nguồn thu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu ngân sách của Tỉnh; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 596,5 tỷ đồng, bằng 67,6%DT, tăng 7,3%. Hai nguồn thu còn lại có tốc độ thu tăng cao là thu thuế thu nhập cá nhân đạt 144,7 tỷ đồng, bằng 96,4%DT, tăng 26,45% so cùng kỳ; thu thuế bảo vệ môi trường 147,6 tỷ đồng, bằng 101,1%DT, tăng 58,01%.
Tổng chi ngân sách địa phương 9 tháng đầu năm 2015 ước đạt 4.899 tỷ đồng, bằng 69,15%DT; trong đó chi đầu tư phát triển 826,7 tỷ đồng, bằng 56,36%DT; chi sự nghiệp kinh tế đạt 412,8 tỷ đồng, bằng 75,0%DT; chi sự nghiệp giáo dục đào tạo 1.587,3 tỷ đồng, bằng 69,87%DT; chi sự nghiệp y tế 320,8 tỷ đồng, bằng 70,68%DT; chi quản lý Nhà nước 762,7 tỷ đồng, bằng 78,78%DT.
2. Đầu tư phát triển
Tổng vốn đầu tư thực hiện theo giá hiện hành trên địa bàn trong 9 tháng đầu năm 2015 ước đạt 11.970 tỷ đồng,  bằng 73,9%  KH năm, tăng 8,6% so với cùng kỳ năm trước; trong đó vốn Trung ương quản lý 3.610 tỷ đồng, bằng 73,9% KH, tăng 17,2%, chiếm 30,2% tổng vốn; vốn Địa phương quản lý 8.360 tỷ đồng, bằng 73,9% KH, tăng 5,3%, chiếm 69,8%.
Vốn thuộc ngân sách Nhà nước đạt 2.881 tỷ đồng, bằng 75,9% KH, tăng 2,0% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 24,1% tổng vốn, gồm có: Vốn ngân sách Trung ương quản lý 1.210 tỷ đồng, bằng 73,6% KH, tăng 9%; vốn ngân sách Địa phương  quản lý 1.671 tỷ đồng, bằng 77,7% KH, giảm 2,6%. Nguồn vốn tín dụng đạt 5.039 tỷ đồng, bằng 75,5% KH, tăng 22,3% so cùng kỳ, chiếm 42,1% trong tổng vốn; vốn đầu tư của doanh nghiệp 1.530 tỷ đồng, bằng 74,6% KH, tăng 19,5%, chiếm 12,8%; vốn viện trợ 550 tỷ đồng, bằng 41,8% KH, giảm 17,9%, chiếm 4,6%; vốn đầu tư nước ngoài 620 tỷ đồng, bằng 93,9% KH, giảm 31,5%, chiếm 5,2%.
Trong 9 tháng đầu năm việc phân bổ nguồn vốn trên địa bàn tỉnh thực hiện nghiêm túc Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ theo thứ tự ưu tiên là tập trung thanh toán các dự án hoàn thành, các dự án dự kiến hoàn thành năm 2015, dự án chuyển tiếp, hạn chế tối đa khởi công mới. Năm nay, thời tiết thuận lợi cho thi công công trình, dự án; công tác đền bù, giải phóng mặt bằng được tập trung chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc, bảo đảm thực hiện đúng quy trình, chế độ chính sách của Nhà nước; kịp thời ban hành các quyết định sửa đổi, bổ sung phù hợp tình hình thực tế để giải quyết kịp thời khó khăn, vướng mắc, những vấn đề phát sinh trong quá trình thi công.
Vốn ngân sách Nhà nước đầu tư trên địa bàn tăng thấp so cùng kỳ, trong đó nguồn vốn ngân sách địa phương giảm do đến thời điểm này nguồn vốn chỉ được bổ sung 35,6 tỷ đồng, trong khi cùng kỳ năm trước nguồn vốn ngân sách nhà nước được bổ sung 238 tỷ đồng nhằm thực hiện những công trình có tính cấp thiết. Nhưng nguồn vốn này đạt tiến độ khá cao so với kế hoạch do nhiều dự án mới khởi công trong năm đến nay tiến độ thực hiện nhanh: Cống Đập Đá; Nâng cấp, mở rộng đường Tứ Phú - Đức Trọng; Đường vào thôn Hà Châu, xã Lộc An;… Nhiều dự án dự kiến hoàn thành trong năm đến nay đã được đưa vào sử dụng: Hệ thống nối mạng cấp nước sạch xã Phong Sơn; Trụ sở HĐND và UBND xã A Roàng; Nhà văn hoá huyện Quảng Điền,… Bên cạnh đó trong 9 tháng, nguồn vốn NSNN địa phương quản lý cũng còn gặp khó khăn trong thực hiện một số dự án do chưa thống nhất thiết kế nên đến nay vẫn chưa được thi công: Đường Lâm Hoằng, Trụ sở Phòng Cảnh sát giao thông đường bộ; Hệ thống cấp điện cho trạm kiểm soát biên phòng Hồng Thái. Nguồn vốn ngân sách Nhà nước Trung ương tiếp tục tăng khá so cùng kỳ, tập trung chủ yếu dự án của các Bộ, ngành: Nhà công vụ Công an Thừa Thiên Huế; Trung tâm Ung bướu Bệnh viện Trung ương Huế; Quốc lộ 49B;... Nguồn vốn trái phiếu Chính phủ tập trung đầu tư vào các công trình trọng điểm trên địa bàn: Đường quốc lộ 1A đoạn La Sơn - Lăng Cô, La Sơn - Nam Đông, các dự án trong chương trình nông thôn mới.
 Nguồn viện trợ đạt thấp so với nguồn bố trí, do dự án cải thiện môi trường nước thành phố có tỷ lệ vốn chiếm trên 70% tổng nguồn vốn này, nhưng đến nay dự án chỉ thực hiện số vốn còn lại của gói chuyển tiếp, mặc dù trong tháng 8 khởi công Nhà máy xử lý rác thải thành phố với mức đầu tư 56,5 triệu USD, nhưng do dự án này mới được đưa vào thi công nên giá trị thực hiện chưa cao.
Trong 9 tháng đầu năm 2015, nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp tăng cao, những dự án đầu tư trong giao thông đạt tiến độ nhanh nhằm đưa vào sự dụng cuối năm, nhất là những dự án BOT: Dự án mở rộng quốc lộ 1A; dự án hầm đường bộ Phú Gia- Phước Tượng; những dự án trong công nghiệp: Nhà máy 1,5 vạn cọc sợi của công ty Thiên An Thịnh; nhà máy sản xuất viên nén năng lượng của công ty kinh doanh lâm nghiệp. Những dự án doanh nghiệp tiếp tục đầu tư vào ngành công nghiệp: Các nhà máy thủy điện nhỏ A Roàng, Thượng Lộ. Trong 9 tháng đầu năm, Tập đoàn Vingroup đã khởi công dự án tổ hợp trung tâm thương mại Vincom Hùng Vương và khách sạn 5 sao Vinpearl Huế, dự án này hiện đang có sự điều chỉnh vốn và chờ ý kiến của Tỉnh để nâng số tầng từ 15 lên 33 tầng; Dự án Khu nhà ở Tam Thai, phường An Cựu do Công ty CP Xây lắp Thừa Thiên Huế làm chủ đầu tư; một số dự án công nghiệp được cấp phép đầu tư: dự án dây chuyền 14.000 cọc sợi (giai đoạn 3) của Công ty Cổ phần Sợi Phú Anh; Nhà máy sản xuất thùng carton, ống côn giấy, sợi và phụ kiện may mặc của công ty Thiên An Phát; Nhà máy sản xuất viên nén năng lượng tái tạo của công ty Đại Lộc Thiên Phú,...
Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt cao so kế hoạch đề ra, do Nhà máy sản xuất vỏ nhôm có mức đầu tư lớn và thời gian hoàn thành dự án chỉ trong 1 năm được đưa vào khởi công trong tháng 6, đến nay tiến độ thực hiện nhanh. Bên cạnh đó dự án giai đoạn 2 của Laguna tiến độ thực hiện đảm bảo kế hoạch đề ra. Một số dự án tiếp tục đầu tư vào hạ tầng các khu công nghiệp Tứ Hạ, Khu công nghiệp Phong Điền.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài trong tháng 9/2015 có 1 dự án đăng ký mới với số vốn đăng ký 0,23 triệu USD. Tính từ đầu năm đến nay, tổng số dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài có 6 dự án được cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 77,3 triệu USD, giảm 2 dự án và tăng 81,93% về số vốn so với cùng kỳ năm 2014. Trong số 6 dự án được cấp phép, đầu tư vào thông tin truyền thông 1 dự án và thương mại 1 dự án của Nhật Bản với tổng số vốn đăng ký 0,37 triệu USD; dịch vụ lữ hành 1 dự án của Lào với số vốn đăng ký 1,93 triệu USD; xuất khẩu thủy sản 1 dự án của Hàn Quốc với số vốn đăng ký 0,1 triệu USD và 2 dự án của Trung Quốc đầu tư về công nghiệp với số vốn đăng ký 74,91 triệu USD, chiếm 97,2% tổng số vốn đăng ký của các dự án nước ngoài trên địa bàn tỉnh trong 9 tháng đầu năm.
3. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
a. Sản xuất nông nghiệp
Tổng diện tích gieo trồng lúa vụ hè thu năm 2015 đạt 25.895 ha, tăng 1,9% so với vụ hè thu năm 2014, nguyên nhân tăng do hệ thống thủy lợi, trạm bơm nước ở nhiều địa phương được xây dựng, nâng cấp, sửa chữa đảm bảo nguồn nước, mặc dù năm nay nắng hạn gay gắt, nhờ đó một số diện tích vụ hè thu năm trước bỏ hoang đã được đưa vào gieo cấy trong vụ hè thu năm nay, một số diện tích trồng hoa màu chuyển sang trồng lúa, một số nơi trước đây ruộng làm 1 vụ nay làm 2 vụ.
Để đảm bảo khung lịch thời vụ, tránh lũ sớm thường hay xảy ra các địa phương đã bố trí cơ cấu giống lúa hè thu chủ yếu nhóm giống lúa ngắn ngày và cực ngắn như Khang dân, TH5, HT1, Iri352, HN6,… Các giống có ưu thế về thời gian sinh trưởng ngắn như PC6, TH5,... tập trung bố trí gieo trên các diện tích gieo cấy muộn, vùng đất thấp trũng.
Vụ hè thu năm 2015, có 3.600 ha lúa bị nhiễm sâu bệnh trong toàn tỉnh, chiếm 13,9% diện tích nhưng mức độ nhẹ, không ảnh hưởng nhiều đến năng suất. Trong đó có 175 ha lúa bị nhiễm lem lép hạt khá nặng với tỷ lệ bệnh 30%. Ngành chức năng đã phối hợp các địa phương xử lý kịp thời, giảm thiểu thiệt hại do sâu bệnh gây ra.
Vụ hè thu năm nay khá thuận lợi cho quá trình sinh trưởng và phát triển của cây lúa, chỉ có trà lúa đầu gieo sạ sớm ở một số chân ruộng khoảng 4.000 ha, chiếm 15% diện tích, khi lúa trổ gặp thời tiết không thuận lợi làm ảnh hưởng đến năng suất.
Theo báo cáo của các đơn vị, lúa hè thu năm nay được đánh giá là được mùa với năng suất đạt 58,1 tạ/ha, giảm 0,4 tạ/ha, giảm 0,7% so với hè thu 2014. Bao gồm các đơn vị như sau: Thành phố Huế đạt 55,4 tạ/ ha, tăng 0,7 tạ; huyện Phong Điền 57,4 tạ/ha, tăng 0,6 tạ/ha; huyện Quảng Điền 61,5 tạ/ha, giảm 2,3 tạ/ha; thị xã Hương Trà 56,3 tạ/ha, giảm 1,3 tạ/ha; huyện Phú Vang 60,5 tạ/ha, tăng 0,3 tạ/ha; thị xã Hương Thủy 61 tạ/ha, giảm 0,3 tạ/ha; huyện Phú Lộc 55,5 tạ/ha, giảm 0,5 tạ/ha; huyện A Lưới 44 tạ/ha, giảm 1 tạ/ha; huyện Nam Đông 49,8 tạ/ha, tăng 2,6 tạ/ha.
 Tuy năng suất lúa có giảm 0,4 tạ/ha, nhưng do diện tích tăng, nên sản lượng lúa hè thu năm 2015 đạt 150.456 tấn, tăng 1,2% so với vụ hè thu năm trước. Ước thực hiện cả năm 2015, sản lượng lúa đạt 319 nghìn tấn, tăng  0,6% so với năm 2014; năng suất lúa ước đạt 58,6 tạ/ha, giảm 0,4 tạ/ha, giảm 0,7%.
Sản xuất nông nghiệp vụ mùa năm 2015, tính đến 15/9/2015 đã kết thúc gieo trồng các loại cây hàng năm vụ mùa. Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ mùa năm 2015 đạt 5.724 ha, giảm 2,8% so với vụ mùa năm 2014. Trong đó cây lúa vụ mùa đạt 623 ha, bằng 96,5% so cùng kỳ, toàn bộ diện tích lúa mùa tập trung ở huyện miền núi A Lưới; nguyên nhân giảm là do một số diện tích không đảm bảo nguồn nước nên không thể gieo cấy lúa mùa. Diện tích cây ngô đạt 517 ha,  giảm 2,3% so cùng kỳ năm trước; cây khoai lang 673 ha, giảm 10%; cây sắn 406 ha, tăng 4,1%; cây lạc 290 ha, tăng 1%; cây vừng 131 ha, giảm 3,3%; cây rau các loại 1.550 ha, giảm 2,8%; cây đậu các loại 1.008 ha, giảm 3,7%; cây ớt cây 73 ha, giảm 8,7%.
Trong 9 tháng đầu năm 2015, tổng diện tích cây lâu năm giảm 513 ha, giảm 3,7% so với cùng kỳ năm 2014; trong đó chủ yếu giảm 494 ha cà phê ở huyện miền núi A Lưới, giảm 68,7%. Nguyên nhân chủ yếu là do toàn bộ diện tích cà phê trong những năm qua trồng trên địa bàn huyện miền núi A Lưới thực tế không hợp với điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng nên năng suất thấp, không có hiệu quả kinh tế, Nông trường cà phê A Lưới phá sản, diện tích cà phê này đã giao lại cho người dân trong tình trạng hư hại, không thể tiếp tục đầu tư, nên đã bị chặt bỏ trồng lại một số loại cây khác mang lại lợi ích kinh tế hơn như sắn, keo,…
 Cây lâu năm chiếm tỷ trọng cao nhất là cao su chiếm gần 70% tổng diện tích cây lâu năm, diện tích hiện có cây cao su ước đạt 9.396 ha, không tăng so với cùng kỳ năm trước, nguyên nhân diện tích cao su không tăng do gặp khó khăn trong khâu tiêu thụ sản phẩm vì giá mủ cao su trong năm giảm mạnh.
Tổng diện tích cây lâu năm hiện có đạt 13.476 ha; trong đó cây bưởi bòng 1.056 ha, giảm 0,2%; cây xoài 108 ha, giảm 5,3%; cây hồ tiêu 260 ha, tăng 3,2%; cây chuối 826 ha, tăng 10,7%, diện tích cây chuối tăng khá là nhờ trong những năm gần đây sản phẩm chuối tiêu thụ ổn định trên thị trường, đồng thời được sự hỗ trợ của nhà nước về cây giống để trồng chuối hàng hóa.
Trong 9 tháng đầu năm 2015 sản lượng cà phê giảm mạnh, đạt 45 tấn, giảm 85,9% so với cùng kỳ; sản lượng mủ cao su đạt 5.720 tấn, tăng 7,8%. Đối với một số cây lâu năm chủ yếu khác như bưởi, thanh trà 9 tháng đầu năm đạt 9.238 tấn, tăng 35%, nguyên nhân tăng cao là do thời tiết năm nay thuận lợi, sâu bệnh gây hại trên cây bưởi thanh trà giảm nên năng suất đạt khá, trong khi đó năm 2014 bị mất mùa lớn; chuối đạt 13.150 tấn, tăng 9,7%; xoài 349 tấn, giảm 1,4%; cam 1.290 tấn, giảm 2,7%, sản lượng cam giảm chủ yếu là do diện tích giảm; hồ tiêu 182 tấn, tăng 2,2%.
Chăn nuôi: Trong 9 tháng đầu năm 2015, chăn nuôi gia súc, gia cầm tương đối ổn định và có bước phát triển. Trên địa bàn toàn tỉnh không xảy ra dịch bệnh ở đàn gia súc và gia cầm. Hiện nay chăn nuôi lợn trong khu vực nông thôn theo mô hình nhỏ lẻ, kém hiệu quả đang có xu hướng giảm, chuyển dần sang chăn nuôi tập trung với quy mô lớn của các doanh nghiệp, hình thức trang trại và gia trại, nên đàn lợn phát triển khá.
Tại thời điểm 01/9/2015, đàn trâu đạt 21.236 con, giảm 0,5% so cùng kỳ năm trước, đàn bò 22.510 con, tăng 7,3%. Nguyên nhân đàn trâu giảm do chăn nuôi trâu hiện nay chủ yếu để lấy thịt nhưng hiệu quả kinh tế  không bằng chăn nuôi bò. Đàn bò tăng khá là do nhận được sự hỗ trợ về chính sách của chính quyền địa phương về vốn vay cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo, các hộ dân tộc thiểu số để nuôi bò xóa đói giảm nghèo. Đàn lợn thời điểm 01/9/2015 đạt 198.530 con, tăng 3,4% so cùng kỳ năm trước; đàn gà đạt 1.427 nghìn con, tăng 0,7%.
Sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng 9 tháng 2015 ước đạt 686 tấn, giảm 0,7% so cùng kỳ năm trước; thịt bò hơi xuất chuồng 798 tấn, tăng 6,1%; sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng 16.130 tấn, tăng 2,8%; sản lượng lợn sữa bán giết thịt 460 tấn, giảm 1,9%; sản lượng thịt gà hơi xuất chuồng 1.784 tấn, tăng 3,2%, sản lượng trứng gà 16.980 nghìn quả, tăng 3,5%; sản lượng thịt vịt hơi 1.156 tấn, tăng 4,2%; sản lượng trứng vịt 7.125 nghìn quả, tăng 2,5%; sản lượng thịt hơi đàn ngan, ngỗng 114 tấn, tăng 3,6%; trứng ngan, ngỗng 207 nghìn quả, tăng 1,5%.
 Trong tháng 9/2015 tiếp tục triển khai công tác tiêm phòng gia súc, gia cầm vụ thu, tính đến 15/9/2015, tiêm phòng vắc xin tam liên lợn đạt 89.190 liều, bằng 75% kế hoạch; vắc xin THT trâu bò 4.120 liều, bằng 79% KH; vắc xin dịch tả vịt 328.000 liều, bằng 60% KH; vắc xin Newcastle gà 241.540 liều, bằng 26% KH; vắc xin tụ huyết trùng gia cầm 11.440 liều, bằng 30% KH, vắc xin đậu gà 65.400 liều, bằng 45% KH; người chăn nuôi chủ động mua 310.500 liều vắc xin cúm gia cầm tại các cơ sở thú y để tiêm phòng.
b. Lâm nghiệp
Tháng 9/2015, khai thác gỗ ước đạt 36.481 m3, tăng 14,2% so tháng 9/2014; trong đó toàn bộ là gỗ rừng trồng, khai thác gỗ rừng trồng tăng cao là do thời tiết thuận lợi cho việc khai thác, đồng thời giá gỗ giữ mức ổn định, diện tích rừng trồng đến kỳ đưa vào khai thác đạt cao. Thực hiện khâu lâm sinh trồng rừng tập trung trong tháng 9/2015 là 51 ha, giảm 13,6% so tháng 9/2014, nguyên nhân giảm là do trong tháng thời tiết tiếp tục nắng nóng nên công tác trồng rừng gặp khó khăn.
Sản lượng gỗ khai thác 9 tháng đầu năm 2015 ước đạt 266.042 m3, tăng 20,3% so với cùng kỳ năm trước; trong đó toàn bộ là sản lượng khai thác gỗ rừng trồng; sản lượng củi khai thác ước đạt 160.292 ster, tăng 18,8%, sản lượng củi tăng khá là do người dân thu củi từ việc khai thác gỗ rừng trồng.
Diện tích trồng rừng tập trung 9 tháng đầu năm 2015 ước đạt 890 ha, tăng 1,9% so cùng kỳ, trong đó toàn bộ là rừng sản xuất trồng mới. Diện tích rừng trồng được chăm sóc 12.821 ha, tăng 0,6%; diện tích rừng được khoanh nuôi tái sinh 3.750 ha, giảm 29,1%, nguyên nhân giảm do trong năm 2015 rừng tự nhiên không còn khai thác nên diện tích đưa vào khoanh nuôi giảm, chủ yếu tiếp tục thực hiện diện tích khoanh nuôi rừng của những năm trước; diện tích rừng được giao khoán bảo vệ 22.288 ha, giảm 5,7%; giảm chủ yếu do nguồn vốn ngân sách dành cho việc bảo vệ rừng giảm; số cây lâm nghiệp trồng phân tán 1.980 nghìn cây, giảm 16,2%, nguyên nhân giảm chủ yếu là do diện tích đất trồng cây lâm nghiệp phân tán ngày càng thu hẹp, diện tích vùng gò đồi trước đây trồng cây lâm nghiệp phân tán đã chuyển sang trồng sắn nguyên liệu, măng tươi,...; Ươm giống cây lâm nghiệp 7,8 nghìn cây, tăng 4,7% so cùng kỳ năm trước.
Từ đầu năm đến nay, xảy ra 427 vụ vi phạm quy định quản lý bảo vệ rừng, giảm 24 vụ, giảm 5,3 % so cùng kỳ; trong đó có 37 vụ phá rừng trái phép, 6 vụ vi phạm quy định về phòng cháy chữa cháy rừng, 13 vụ vi phạm quy định về quản lý động vật hoang dã, 98 vụ mua bán vận chuyển lâm sản trái phép, 1 vụ vi phạm quy định về chế biến gỗ và lâm sản, 2 vụ vi phạm thủ tục vận chuyển, 4 vụ đưa công cụ, phương tiện vào rừng trái phép, 266 vụ vi phạm khác. Đã tiến hành xử lý 415 vụ, tịch thu 565 m3 gỗ tròn, trong đó có 6,4 m3 gỗ quý hiếm. Tổng các khoản thu nộp vào ngân sách Nhà nước là 2.773 triệu đồng, trong đó tiền phạt vi phạm 644 triệu đồng, tiền bán tang vật tịch thu 2.129 triệu đồng.
Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh xảy ra 6 vụ cháy rừng, bằng 35,3% so với cùng kỳ năm trước, giảm 11 vụ. Diện tích rừng bị cháy 17 ha rừng trồng, bằng 74,1%, giá trị thiệt hại ước tính 204 triệu đồng. Nguyên nhân chính xảy ra cháy rừng chủ yếu là do nắng nóng kéo dài, thắp hương đốt vàng mã, do đạn nổ. Số vụ chặt phá rừng 37 vụ, tăng 5 vụ so với cùng kỳ năm trước, tăng 15,6%. Diện tích rừng bị chặt phá 9,3 ha, giảm 1,1%; giá trị thiệt hại ước tính 53,7 triệu đồng; nguyên nhân chủ yếu là do người dân chặt phá rừng để làm nương rẫy.
c. Thủy sản
Trong 9 tháng đầu năm 2015 dịch bệnh nuôi trồng thủy sản không xảy ra trên địa bàn tỉnh, chỉ có một số diện tích nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng bị nhiễm bệnh thông thường nhưng đã xử lý kịp thời. Diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng giảm, tập trung ở huyện Phong Điền do Công ty cổ phần Trường Sơn bán lại diện tích cho Công ty cổ phần chăn nuôi Việt Nam tại Huế, số diện tích này trong 9 tháng đầu năm 2015 chưa thả nuôi; mặt khác năm nay giá tôm chân trắng giảm mạnh nên người dân chủ động giảm diện tích nuôi.
Diện tích nuôi trồng thủy sản tháng 9/2015 ước đạt 87,2 ha (toàn bộ diện tích là nuôi tôm thẻ chân trắng ở trên cát của huyện Phong Điền), giảm 40,2% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế diện tích nuôi trồng thủy sản 9 tháng đầu năm 2015 ước đạt 6.716,1 ha, tăng 1,5% so với cùng kỳ năm trước; trong đó diện tích cá tra, ba sa 3 ha, bằng cùng kỳ năm trước; diện tích nuôi tôm sú 2.347 ha, tăng 7,9%; nuôi tôm thẻ chân trắng 460,5 ha, giảm 9,4%. Số lồng, bè nuôi thủy sản 4.437 cái, tăng 3,6% so cùng kỳ.
Lượng giống thả nuôi: Sản xuất giống trên địa bàn tỉnh trong tháng 9/2015 đã sản xuất được 6,5 triệu con cá giống các loại, giảm 7,1% so cùng kỳ năm trước. Nâng tổng số giống sản xuất 9 tháng đầu năm 2015 ước đạt 144 triệu con, tăng 0,7% so với cùng kỳ; trong đó tôm sú 78 triệu con, cá giống 64,5 triệu con, cua, ếch giống 1,5 triệu con, phục vụ cho nhu cầu nuôi trong tỉnh, số giống còn lại mua ngoại tỉnh, do đó việc kiểm dịch tôm giống thiếu chặt chẽ, nguy cơ dịch bệnh xảy ra rất lớn.
Tháng 9/2015 lượng giống tôm thẻ chân trắng thả nuôi 99,8 triệu con, giảm 16,8% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng đầu năm 2015 lượng tôm sú thả nuôi 145,6 triệu con, tăng 7,9% so với cùng kỳ; tôm thẻ chân trắng thả nuôi 514 triệu con, giảm 6,5%; cá giống 100,9 triệu con, tăng 15,2%.
Sản lượng thu hoạch: Tháng 9/2015 sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 2.001 tấn, giảm 12,4% so với cùng kỳ năm trước; trong đó cá các loại 1.600 tấn, tăng 13,1%; tôm sú 50 tấn, tăng 8,7%; tôm thẻ chân trắng 250 tấn, giảm 65,8%; thủy sản khác 91 tấn, giảm 1,1%. Lũy kế 9 tháng đầu năm 2015 sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 11.421 tấn, tăng 4,7% so với cùng kỳ năm trước; trong đó cá các loại 6.320 tấn, tăng 10,4%; tôm các loại 4.305 tấn, giảm 1,5%, trong đó tôm sú 950 tấn, tăng 2,6%; tôm thẻ chân trắng 3.170 tấn, giảm 3,2%; thủy sản khác 796 tấn, giảm 1,7%, trong đó cua 464 tấn, giảm 1,5%.
Sản lượng khai thác thủy sản tháng 9/2015 ước đạt 3.540 tấn, tăng 7,0% so với cùng kỳ năm trước; trong đó khai thác biển 3.175 tấn, tăng 8,4%; khai thác nội địa 365 tấn, giảm 3,4%. Lũy kế sản lượng thủy sản khai thác 9 tháng đầu năm 2015 ước đạt 30.245 tấn, tăng 6,2% so với cùng kỳ năm trước; trong đó khai thác biển 27.340 tấn, tăng 7,2%, chiếm tỷ trọng 90,4% tổng sản lượng; khai thác nội địa 2.905 tấn, giảm 3,1%. Sản lượng khai thác nội địa giảm do nguồn lợi thủy sản và ngư trường đánh bắt ngày càng bị thu hẹp.
Tính chung 9 tháng đầu năm 2015 tổng sản lượng thủy sản ước đạt 41.666 tấn, tăng 5,8% so với cùng kỳ năm trước.
Theo kết quả điều tra thủy sản 01/5/2015, số tàu thuyền khai thác hải sản có động cơ là 1.950 chiếc, giảm 1,9% so với cùng kỳ năm trước, với tổng công suất 97.608 CV, tăng 13,1%; trong đó tàu có công suất 90CV trở lên 284 chiếc, tăng 10,5%, với tổng công suất 51.135 CV, tăng 13,5%; tàu có công suất từ 90CV trở lên tăng là do việc triển khai thực hiện Nghị định 67/2014/NĐ-CP ngày 7/7/2014 của Chính phủ về chủ trương tiến hành đóng mới, nâng cấp cải hoán tàu thuyền, hỗ trợ về nhiên liệu,... nhằm tạo điều kiện cho ngư dân yên tâm bám biển dài ngày để khai thác thủy sản và bảo vệ chủ quyền biển đảo.
4. Sản xuất công nghiệp
Tháng 9 năm 2015, sản xuất công nghiệp trên địa bàn tiếp tục duy trì đà tăng trưởng. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 9 năm 2015 tăng 2,55% so với tháng trước và tăng 6,59% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng đầu năm 2015 chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 9,5%; trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,63%; ngành sản xuất, phân phối điện tăng 37,72%; ngành cung cấp nước và xử lý nước thải, rác thải tăng 11,37%; riêng ngành khai khoáng giảm 16,25%.
Một số ngành công nghiệp có chỉ số sản xuất 9 tháng đầu năm tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất sợi tăng 25,15%; may mặc tăng 6,81%; sản xuất xi măng, thạch cao tăng 70,64%; sản xuất ô tô tăng 2,52 lần; sản xuất và phân phối điện tăng 39,57% (trong đó điện sản xuất tăng 46,75%); thu gom rác thải tăng 24,09%.
Chỉ số sản xuất công nghiệp 9 tháng đầu năm tăng khá chủ yếu nhờ đóng góp của các ngành dệt may, điện năng, thu gom, xử lý rác thải, sản xuất xi măng. Trong đó Công ty xi măng Đồng Lâm tiếp tục đạt mức sản xuất và tiêu thụ tăng cao đã đóng góp lớn cho tăng trưởng ngành công nghiệp.
Một số ngành công nghiệp có chỉ số sản xuất 9 tháng đầu năm giảm so với cùng kỳ năm trước: Khai thác quặng ti tan giảm 28,29%; Chế biến dăm gỗ giảm 2,57%; in ấn giảm 20,04%; sản xuất gạch ngói giảm 2,08%; chế biến thủy sản giảm 6,86%; sản xuất bia giảm 3,51%.
Ngành sản xuất bia của tỉnh hiện đang phải đối mặt với cạnh tranh gay gắt trên thị trường, nhất là thị trường các tỉnh phía Bắc miền Trung có chiều hướng thu hẹp, khả năng tiếp tục phát triển và mở rộng thị trường là rất khó. Sản xuất bia giảm đã ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ tăng trưởng công nghiệp địa phương trong 9 tháng và cả năm 2015.
Bước sang quí III/2015, ngành chế biến thủy sản đã có những chuyển biến tích cực trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm,  nhưng tính chung 9 tháng đầu năm chỉ số sản xuất của ngành vẫn còn giảm khá mạnh. Nguyên nhân chủ yếu do những tháng đầu năm nguyên liệu đầu vào cung cấp cho các nhà máy chế biến giảm, đồng thời thị trường tiêu thụ chính là Nhật Bản gặp khó khăn.
Ngành chế biến dăm gỗ 9 tháng đầu năm đã phát triển thêm năng lực sản xuất mới là Công ty TNHH Hào Hưng Huế đi vào hoạt động. Tuy nhiên do nguồn nguyên liệu đầu vào cung cấp cho các nhà máy chưa đáp ứng đủ nên sản lượng còn đạt thấp so cùng kỳ năm trước.
Các sản phẩm công nghiệp chủ yếu có mức sản xuất tăng khá trong 9 tháng đầu năm 2015 so cùng kỳ năm trước: Đá vôi nguyên liệu đạt 1.013,3 nghìn m3, tăng 15,17%; tôm đông lạnh 2.058,3 tấn, tăng 7,44%; sợi các loại 47,3 nghìn tấn, tăng 25,15%; quần áo lót 200 triệu cái, tăng 5,78%; clanhke 1.600 nghìn tấn, tăng 2,1 lần; xi măng 1.226,3 nghìn tấn, tăng 40,6%; men frit 61 nghìn tấn, tăng 79,31%; xe ô tô 68 chiếc, tăng 2,52 lần; điện sản xuất 616,2 triệu kwh, tăng 46,75%; rác thải 94,2 nghìn tấn, tăng 24,09%.
Các sản phẩm có mức sản xuất giảm  trong 9 tháng đầu năm so cùng kỳ: Quặng inmenit đạt 13,9 nghìn tấn, giảm 25,11%; Quặng zircon, rutile 8.564 tấn, giảm 28,8%; đá xây dựng khác 654,4 nghìn tấn, giảm 12,76%; mực đông lạnh 570,6 tấn, giảm 34,95%; bia đóng chai 86 triệu lít, giảm 9,38%; dăm gỗ 409,3 nghìn tấn, giảm 2,57%; gạch nung 112,4 triệu viên, giảm 2,08%; bê tông trộn sẵn 67,9 nghìn m3, giảm 22,78%.
Chỉ số sử dụng lao động tháng 9/2015 tăng 1,1% so với tháng trước và tăng 6,76% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng đầu năm chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp tăng 8,03% so với cùng kỳ năm trước, giải quyết việc làm cho hơn 1.200 lao động. Trong đó tập trung vào một số ngành như: chế biến thực phẩm tăng 50,53%; sản xuất sợi tăng 12,71%; may mặc tăng 7,09%; sản xuất các sản phẩm khoáng phi kim loại tăng 15,96%; cấp nước tăng 1,34%. Chỉ số sử dụng lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước 9 tháng đầu năm 2015 giảm 1,71% so với cùng kỳ năm trước; doanh nghiệp ngoài Nhà nước giảm 2,52% và doanh nghiệp có vốn đầu tư  nước ngoài tăng 21,15%. Chỉ số lao động trong 9 tháng đầu năm tăng cùng với tăng chỉ số sản xuất là nhờ các doanh nghiệp đã mở rộng qui mô sản xuất, đồng thời phát triển thêm một số năng lực sản xuất mới.
Xu hướng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, Kết quả điều tra xu hướng sản xuất kinh doanh doanh nghiệp cho thấy hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến chế tạo trong quí III năm 2015 như sau:
Về khối lượng sản phẩm sản xuất quý III năm nay so với quý trước, có 46,8% số doanh nghiệp có khối lượng sản phẩm sản xuất tăng lên; 17% số doanh nghiệp có khối lượng sản phẩm sản xuất giảm đi và 36,2% số doanh nghiệp có khối lượng sản phẩm sản xuất giữ ổn định. Xu hướng quý IV so với quý III có giảm nhẹ với 40,4% số doanh nghiệp dự kiến có khối lượng sản phẩm sản xuất tăng lên; 44,7% số doanh nghiệp dự kiến có khối lượng sản phẩm sản xuất giảm đi và 14,9% số doanh nghiệp có khối lượng sản phẩm sản xuất giữ ổn định. Xu hướng tăng quí IV tập trung vào một số ngành như chế biến thực phẩm và đồ uống; sản xuất dăm gỗ; sản xuất vật liệu xây dựng (khoáng phi kim loại).
Về đơn đặt hàng sản xuất quý III năm nay so với quý trước, có 40,4% số doanh nghiệp có số đơn đặt hàng cao hơn; 17% số doanh nghiệp có đơn đặt hàng giảm và 42,6% số doanh nghiệp có số đơn đặt hàng ổn định. Xu hướng quí IV so với quí III có giảm nhẹ với 36,2% số doanh nghiệp dự kiến có đơn hàng cao hơn; 42,6% số doanh nghiệp dự kiến đơn hàng giảm và 21,2% số doanh nghiệp có đơn hàng ổn định.
Về đơn đặt hàng xuất khẩu quý III năm nay so với quý trước, có 39,5% số doanh nghiệp khẳng định số đơn hàng xuất khẩu cao hơn; 8,7% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu giảm và 52,2% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu ổn định. Xu hướng quí IV so với quí III khả quan hơn, có 43,5% số doanh nghiệp dự kiến tăng đơn hàng xuất khẩu; 21,7% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu giảm và 34,8% số doanh nghiệp dự kiến ổn định.
Về tồn kho sản phẩm quý III năm nay so với quý trước, có 12,8% số doanh nghiệp có lượng hàng tồn kho tăng; 46,8% số doanh nghiệp có lượng hàng tồn kho giảm và 40,4% số doanh nghiệp giữ ổn định. Xu hướng quý IV so với quý III, có 21,3% số doanh nghiệp dự kiến lượng hàng tồn kho sẽ tăng; 40,4% số doanh nghiệp dự kiến lượng hàng tồn kho giảm và 38,3% số doanh nghiệp sẽ giữ ổn định.
Về chi phí sản xuất quý III năm nay so với quý trước, có 25,5% số doanh nghiệp có chi phí sản xuất trên một đơn vị sản phẩm tăng; 17% số doanh nghiệp có chi phí giảm và 57,5% số doanh nghiệp có chi phí ổn định. Xu hướng quý IV so với quý III, có 23,4% số doanh nghiệp cho rằng chi phí sản xuất sẽ tăng; 19,1% số doanh nghiệp cho rằng chi phí sản xuất giảm và 57,5% số doanh nghiệp ổn định.
Về giá bán sản phẩm quý III năm nay so với quý trước, có 17% số doanh nghiệp có giá bán sản phẩm tăng; 25,5% số doanh nghiệp có giá bán thấp hơn và 57,5% số doanh nghiệp giữ giá ổn định. Xu hướng quý IV so với quý III, có 10,6% số doanh nghiệp dự báo giá bán sản phẩm sẽ cao hơn; 23,4% số doanh nghiệp dự báo giá bán sẽ thấp hơn và 66% số doanh nghiệp sẽ ổn định giá bán sản phẩm.
Về sử dụng lao động quý III năm nay so với quý trước, có 25,5% số doanh nghiệp có qui mô lao động tăng lên; 4,3% số doanh nghiệp có qui mô lao động giảm đi và 70,2% số doanh nghiệp có qui mô lao động ổn định. Xu hướng quý IV so với quý III, có 19,2% số doanh nghiệp dự báo qui mô lao động tăng lên; 6,4% số doanh nghiệp dự báo qui mô lao động giảm đi và 74,4% số doanh nghiệp dự báo qui mô lao động ổn định.
Qua dự báo về số lao động của các doanh nghiệp cho thấy tình hình lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp chế biến ở Thừa Thiên Huế đã tăng lên qua các quý, chỉ số này tăng tỷ lệ thuận với chỉ số sản xuất là tín hiệu tốt, góp phần giải quyết việc làm cho lao động địa phương.
Các yếu tố tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp:
Có 68,1% DN cho rằng yếu tố tính cạnh tranh của hàng trong nước đã ảnh hưởng đến hoạt động SXKD của doanh nghiệp; tương tự nhu cầu thị trường trong nước thấp có 38,3% DN; nhu cầu thị trường ngoài nước thấp có 36,2% DN; thiếu nguyên vật liệu 34% DN; không tuyển được lao động theo yêu cầu và khó khăn về tài chính 23,4% DN.
Về đánh giá chung:
Tổng quan về tình hình SXKD, có 36,2% số DN đánh giá SXKD quý III/2015 khả quan hơn; 14,9% đánh giá là khó khăn hơn; 48,9% số DN đánh giá ổn định so với quý II/2015.
Xu hướng quý IV so với quý III, có 38,3% số DN nhận định SXKD sẽ tốt hơn; 44,7% số DN nhận định kém hơn và 17% số DN nhận định giữ ổn định.
5. Thương mại, dịch vụ
a. Bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Tháng 09/2015, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 2.520,1 tỷ đồng, giảm 1,98% so với tháng trước và tăng 8,47% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 1.995,2 tỷ đồng, tương ứng giảm 0,49% và tăng 10,53%; doanh thu dịch vụ lưu trú ăn uống đạt 370,3 tỷ đồng, giảm 9,16% và giảm 2,7%; doanh thu dịch vụ du lịch lữ hành đạt 10 tỷ đồng, giảm 13,51% và giảm 1,52%; doanh thu dịch vụ khác đạt 144,6 tỷ đồng, giảm 1,6% và tăng 13,49%.
Tính chung 9 tháng đầu năm 2015, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế ước đạt 22.669,6 tỷ đồng, tăng 8,83% so với cùng kỳ năm trước. Xét theo loại hình kinh tế, khu vực Nhà nước đạt 1.922,8 tỷ đồng, chiếm 8,48% tổng số và tăng 1,26% so cùng kỳ năm trước; khu vực ngoài Nhà nước 20.087,9  tỷ đồng, chiếm  88,61% và tăng 9,59%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 658,9 tỷ đồng, chiếm  2,91% và tăng  9,79%. Trong tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 9 tháng đầu năm 2015, kinh doanh bán lẻ hàng hóa đạt 17.500,6  tỷ đồng, chiếm 77,2%  tổng số và tăng 10,03% so cùng kỳ năm trước; dịch vụ lưu trú và ăn uống 3.780,1 tỷ đồng, chiếm 16,67% và tăng 3,38%; du lịch lữ hành 113,8 tỷ đồng, chiếm 0,5% và tăng 0,88%; dịch vụ khác 1.275,1 tỷ đồng, chiếm 5,62% và tăng 10,36%.
b. Lượt khách các cơ sở lưu trú phục vụ và du lịch lữ hành
Năm 2015, các hoạt động quảng bá, xúc tiến du lịch của Tỉnh được đẩy mạnh; hình thành nhiều tour du lịch với các hình thức phong phú. Đặc biệt đã kết nối tổ chức thành công chuyến bay thuê bao Bangkok - Phú Bài Huế, là sự kiện quan trọng trong hợp tác phát triển kinh tế và du lịch giữa tỉnh Thừa Thiên Huế và các địa phương của Thái Lan. Tuy nhiên 9 tháng đầu năm nay lượng khách đến Huế giảm do lượng khách quốc tế đến Việt Nam giảm (8 tháng tháng đầu năm giảm 7,5% so cùng kỳ).
Tháng 9 năm 2015, ước tính lượt khách đến Huế do cơ sở lưu trú phục vụ đạt 124,5 nghìn lượt khách, giảm 20,85% so với tháng trước và giảm 3,3% so với cùng kỳ năm trước. Lượng khách giảm mạnh so với tháng trước vì tháng 9 đã bắt đầu bước vào mùa mưa bão. Tính chung 9 tháng đầu năm, lượt khách phục vụ ước đạt 1.385,1 nghìn lượt khách, giảm 3,8% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: lượt khách ngủ qua đêm đạt 1.240,8 nghìn lượt, giảm 3,85%, trong đó khách quốc tế đạt 561,3 nghìn lượt, giảm 2,12%; lượt khách trong ngày đạt 144,3 nghìn lượt khách, giảm 3,42%. Tổng ngày khách phục vụ 9 tháng đầu năm đạt 2.643 nghìn ngày khách, giảm 4,35% so với cùng kỳ năm trước; trong đó ngày khách quốc tế 1.259,8 nghìn ngày khách, giảm 2,63%.
Trong tổng lượt khách quốc tế đến Huế do các cơ sở lưu trú phục vụ 9 tháng đầu năm 2015, khách Pháp chiếm 13,7%; Thái Lan chiếm 10,9%; Hàn Quốc chiếm 9,5%; Anh chiếm 7,8%; Mỹ chiếm 7,3%; Đức chiếm 6,7%; Úc chiếm 6,7%; Nhật chiếm 4,2%; Trung Quốc chiếm 2,1%; còn lại các quốc gia khác.
Doanh thu các cơ sở lưu trú tháng 9/2015 ước đạt 100,2 tỷ đồng, giảm 21,46% so với tháng trước và giảm 0,51% so cùng kỳ năm trước. Đưa doanh thu các cơ sở lưu trú 9 tháng đầu năm 2015 ước đạt 1.158 tỷ đồng, tăng 0,07% so cùng kỳ năm trước.
Tháng 9/2015 ước tính lượt khách du lịch theo tour đạt 6,5 nghìn lượt, giảm 14,92% so với tháng trước và tăng 3,02% so cùng kỳ năm trước. Đưa tổng lượt khách theo tour thực hiện 9 tháng đầu năm 2015 ước đạt 69,1 nghìn lượt, giảm 3% so cùng kỳ năm trước; ngày khách theo tour đạt 142,9 nghìn ngày, giảm 3,99%.
c. Xuất, nhập khẩu hàng hóa
Chín tháng đầu năm 2015, hoạt động xuất nhập khẩu trên địa bàn tăng chậm. Xuất khẩu vẫn phụ thuộc lớn vào khối doanh nghiệp FDI với chủ yếu là hàng dệt may chiếm tỷ trọng lớn.
- Xuất khẩu hàng hóa
Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 09/2015 ước đạt 58,46 triệu USD, tăng 2,03% so với tháng trước và tăng 1,83% so cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước đạt 473,45 triệu USD, đạt 69,62% kế hoạch, tăng 4,1% so cùng kỳ năm trước; trong đó khu vực kinh tế Nhà nước đạt 83,28 triệu USD, giảm 6,09% so cùng kỳ; kinh tế tư nhân 113,1 triệu USD, tăng 6,02%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 277,07 triệu USD, tăng 6,8%. Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 58,5% tổng kim ngạch xuất khẩu và đóng góp 3,88 điểm phần trăm vào mức tăng chung, khu vực trong nước chiếm 41,5% và đóng góp 0,22 điểm phần trăm.
Chín tháng đầu năm 2015, các mặt hàng xuất khẩu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu: Hàng dệt may đạt 302,3 triệu USD, chiếm 63,9%; gỗ và sản phẩm bằng gỗ 54,27 triệu USD, chiếm 11,5%; hàng thủy sản 25,59 triệu USD, chiếm 5,4%.
Về thị trường xuất khẩu, Hoa Kỳ vẫn là thị trường có kim ngạch lớn nhất, ước đạt 217,0 triệu USD, chiếm 45,5% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu và giảm 5,15% so với cùng kỳ năm trước; Nhật Bản 70,4 triệu USD, chiếm 14,87% và tăng 53,27%; thị trường EU 46,4 triệu USD, chiếm 9,8% và tăng 23,53%; Thổ Nhĩ Kỳ 26,79 triệu USD, chiếm 5,66% và giảm 35,01%; còn lại là các nước khác đạt 112,86 triệu USD, chiếm 23,84% và tăng 11,42%.
Cơ cấu kim ngạch hàng hóa xuất khẩu 9 tháng đầu năm 2015 có sự thay đổi so với cùng kỳ: Tỷ trọng nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp tăng từ 79,6% lên 81,59%; nhóm hàng nông, lâm sản giảm từ 14,17% xuống 11,46%; nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản giảm từ 2,49% xuống 1,55%; nhóm hàng thủy sản tăng từ 3,74% lên 5,4%.
- Nhập khẩu hàng hóa
Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 09/2015 ước đạt 35,94 triệu USD, tăng 3,33% so với tháng trước và tăng 11,48% so cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng đầu năm kim ngạch nhập khẩu hàng hóa ước đạt 288,86 triệu USD, giảm 1,65% so cùng kỳ năm trước, nguyên nhân chủ yếu là nhóm nguyên phụ liệu dệt, may giảm 38,86%; trong kim ngạch xuất khẩu, khu vực kinh tế Nhà nước đạt 52,13 triệu USD, giảm 1,58%; kinh tế tư nhân 77,35 triệu USD, giảm 1,21%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 159,38 triệu USD, giảm 1,88%.
Chín tháng đầu năm 2015, các mặt hàng nhập khẩu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch nhập khẩu: vải các loại ước đạt 162,7 triệu USD, chiếm 56,32%, tăng 15,16% so cùng kỳ năm trước; bông, xơ, sợi dệt 66,13 triệu USD, chiếm 22,89%; máy móc thiết bị phụ tùng khác 12,80 triệu USD, chiếm 4,43%.
Về thị trường hàng hóa nhập khẩu, Trung Quốc vẫn là thị trường lớn nhất của tỉnh với kim ngạch ước đạt 153,29 triệu USD, chiếm 53,07% tổng kim ngạch hàng hóa nhập khẩu và tăng 0,25% so cùng kỳ; Đài Loan 42,22 triệu USD, chiếm 14,62% và tăng 17,95%; thị trường Châu Phi 28,74 triệu USD, chiếm 9,95% và tăng 35,29%; thị trường Asean 13,66 triệu USD, chiếm 4,73% và giảm 42,47%; còn lại là các nước khác 50,95 triệu USD, chiếm 17,64% và giảm 15,1%.
Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa thị trường Trung Quốc trong 9 tháng đầu năm 2015 trên địa bàn tỉnh chưa có những thay đổi đột biến trong bối cảnh Trung Quốc phá giá đồng nhân dân tệ.
Cơ cấu hàng hóa nhập khẩu 9 tháng đầu năm 2015 có sự thay đổi so với cùng kỳ: Tỷ trọng nhóm hàng nguyên, nhiên vật liệu giảm từ 94,87% xuống 94,14%; nhóm máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng tăng từ 4,47% lên 5,53%; nhóm hàng tiêu dùng giảm từ 0,66% xuống 0,33%.
Như vậy hoạt động xuất siêu trên địa bàn 9 tháng đầu năm 2015 ước đạt 184,59 triệu USD, bằng 38,99% tổng kim ngạch xuất khẩu và tăng 14,58% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cán cân thương mại của khối kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có mức thặng dư là 117,69 triệu USD, chiếm 63,8%, tăng 21,33%; khối kinh tế tư nhân có mức thặng dư là 35,75 triệu USD, chiếm 19,4%, tăng 25,95%; khối kinh tế Nhà nước có mức thặng dư là 31,15 triệu USD, chiếm 16,9%, giảm 12,78%;
d. Vận tải hành khách và hàng hóa
Vận tải hành khách tháng 09/2015 ước đạt 1.611,8 nghìn lượt khách và 72,8 triệu lượt khách.km, giảm 1,68% về lượt khách và tăng 0,95% về lượt khách.km so với tháng trước; tăng 4,56% về lượt  khách và tăng 0,06% về lượt khách.km so cùng kỳ năm trước.
Tính chung 9 tháng đầu năm vận tải hành khách ước đạt 14.351,6 nghìn lượt khách, tăng 3,62% và 646,9 triệu lượt khách.km, tăng 1,93% so cùng kỳ năm trước; trong đó vận tải hành khách đường bộ ước đạt 14.184,2 nghìn lượt khách, tăng 7,51% và 646,5 triệu lượt khách.km, tăng 2,34%.
Vận tải hàng hóa tháng 09/2015 ước đạt 680,5 nghìn tấn và 51,8 triệu tấn.km, giảm 0,04% về tấn và 0,01% về tấn.km so với tháng trước; tăng 18,7% về tấn và tăng 12,39% về tấn.km so cùng kỳ năm trước.
Tính chung 9 tháng đầu năm, vận tải hàng hóa ước đạt 5.726,8 nghìn tấn, tăng 12,77% và 471,6 triệu tấn.km tăng 13,48% so cùng kỳ năm trước; trong đó vận tải hàng hóa đường bộ ước đạt 5.571,5 nghìn tấn, tăng 13,21% và 395,7 triệu tấn.km tăng 9,93%; đường biển đạt 65,6 nghìn tấn, tăng 15,26% và 75,1 triệu tấn.km, tăng 37,81%.
Doanh thu vận tải, bốc xếp tháng 09/2015 ước đạt 161,9 tỷ đồng, giảm 1,51% so với tháng trước; tăng 11,65% so cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng đầu năm, doanh thu vận tải, bốc xếp ước đạt 1.443,9 tỷ đồng, tăng 10,41% so cùng kỳ năm trước; trong đó đường bộ đạt 1.340 tỷ đồng, tăng 9,54%; đường biển 98,8 tỷ đồng, tăng 29,54%.
6. Chỉ số giá
a. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
Trong 9 tháng đầu năm 2015, tình hình giá cả thị trường ít biến động, chỉ số giá tiêu dùng tháng 9/2015 tăng 0,49% so với tháng 12 năm trước và tăng 0,07% so với cùng kỳ năm trước, đây là mức tăng rất thấp so mức tăng cùng kỳ nhiều năm trước đây. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 9 tháng năm 2015 tăng 0,99% so với bình quân cùng kỳ năm 2014.
Trong quí I/2015, các yếu tố chính tác động đến chỉ số giá tiêu dùng CPI là giá các mặt hàng chiến lược như xăng dầu, gas liên tục được điều chỉnh giảm mạnh trong những tháng đầu năm đã tác động tích cực đến giá thành của nhiều ngành sản xuất kinh doanh, nhất là ngành vận tải; UBND tỉnh đã chỉ đạo các ngành chức năng làm tốt công tác dự trữ hàng hóa, tổ chức bán hàng bình ổn kết hợp với chương trình đưa hàng Việt về nông thôn phục vụ nhu cầu tiêu dùng tăng lên trong dịp Tết của dân cư, nên không xảy ra hiện tượng tăng giá đột biến. Nhờ đó đã làm chỉ số giá tiêu dùng các tháng trong dịp Tết Nguyên đán như tháng 1/2015 giảm 0,03% so với tháng trước, tháng 2 chỉ tăng 0,18%; tháng 3 sau Tết giảm 0,02%. Sang quí II, cùng với việc điều chỉnh tăng giá điện vào giữa tháng 3 và giá xăng dầu tăng trở lại đã tác động đến chỉ số giá chung. Ngoài ra, tháng 4, tháng 5 có kỳ nghỉ lễ kéo dài nên giá dịch vụ ăn uống, lưu trú cũng có phần tăng. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 4/2015 tăng nhẹ 0,18% so với tháng trước, tháng 5 tăng 0,22%, tháng 6 tăng 0,27%. Trong quí III/2015, ngoài chỉ số giá tiêu dùng tháng 7 tăng 0,16% do tác động giá xăng dầu, giá điện tăng. Hai tháng 8 và 9 chỉ số giá tiêu dùng giảm so với tháng trước, tháng 8 giảm 0,19%, tháng 9 giảm 0,26% do tác động giá xăng dầu, giá gas giảm, đồng thời tháng 9 cũng bắt đầu bước vào mùa mưa nên nhu cầu xây dựng giảm, các mặt hàng lương thực vào mùa vụ cũng giảm nhẹ. Trong chỉ số giá tiêu dùng tháng 9, nhóm hàng hóa dịch vụ có chỉ số giá giảm mạnh là giao thông giảm 3,67%; tiếp đến là nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,76%; lương thực giảm 0,46%; thực phẩm giảm 0,1%; bưu chính viễn thông giảm 0,12%. Nhóm hàng hóa dịch vụ có chỉ số giá tăng cao là giáo dục tăng 1,04% do bước vào năm học mới học phí các trường mầm non tăng; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,76%. Các nhóm còn lại chỉ biến động nhẹ gồm: Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,02%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,01%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,04%. Nhóm không tăng gồm: ăn uống ngoài gia đình; thuốc và dịch vụ y tế; văn hoá, giải trí và du lịch.
Chỉ số giá tiêu dùng 9 tháng đầu năm
%
    2011    2012    2013    2014    2015
Tháng 12 năm trước =100                    
Tháng 1    102,03    101,11    104,68    100,92    99,97
Tháng 2    104,04    102,54    105,99    101,41    100,15
Tháng 3    106,25    102,76    106,14    101,00    100,13
Tháng 4    109,38    106,74    106.02    101,28    100,28
Tháng 5    111,43    106,93    106,22    101,42    100,50
Tháng 6    112,55    106,64    106,29    101,66    100,78
Tháng 7    113,65    106,32    106,51    101,90    100,94
Tháng 8    114,91    106,79    106,81    102,08    100,75
Tháng 9    115,69    108,54    107,84    102,56    100,49
b. Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ
Chỉ số giá vàng tháng 9/2015 tăng 2,3% so với tháng trước, giảm 1,27% so với tháng 12 năm trước và giảm 6,57% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 9/2015 tăng 2,37% so với tháng trước, tăng 4,68% so với tháng 12 năm trước và tăng 5,48% so với cùng kỳ năm trước.
7. Các vấn đề xã hội
a. Chính sách - xã hội
    Nhân dịp Tết Nguyên đán Ất Mùi 2015, lãnh đạo tỉnh và các địa phương đã tổ chức thăm và tặng quà của Chủ tịch Nước, của Tỉnh và các địa phương như sau:
Thăm hỏi, tặng quà các đối tượng chính sách, có công: Giá trị quà của Chủ tịch Nước, của Tỉnh và cấp huyện tặng gồm 38.767 suất trị giá 7,99 tỷ đồng.
    Trợ cấp khó khăn cho các đối tượng xã hội:    Giá trị quà hỗ trợ gồm 96.801 suất quà trị giá 16,4 tỷ đồng và 109,47 tấn gạo.
Tổng giá trị quà trợ cấp cho đối tượng chính sách và đối tượng xã hội là 135.568 suất quà trị giá 24,4 tỷ đồng (Trong đó: Quà Chủ tịch Nước 7,29 tỷ đồng; quà của Tỉnh 10,56 tỷ đồng; huyện 200,9 triệu đồng và thông qua nguồn vận động 6,35 tỷ đồng) và 109,47 tấn gạo.
Nhân Kỷ niệm 68 năm ngày Thương binh liệt sỹ, các ban, ngành và các địa phương trong tỉnh tổ chức trao tặng quà của Chủ tịch nước, quà của địa phương cùng với việc gặp mặt, thăm hỏi. Đã có 37.292 suất quà được trao tặng đến người có công và gia đình người có công với tổng kinh phí hơn 6,1 tỷ đồng. Trong đó: Quà Chủ tịch nước 23.438 suất với tổng trị giá 4.939 triệu đồng; quà tỉnh 50 suất với tổng trị giá 35 triệu đồng; quà huyện/thị xã/thành phố 313 suất với tổng trị giá 119,2 triệu đồng; quà xã/phường/thị trấn 13.413 suất với tổng trị giá 972,3 triệu đồng và các tổ chức, doanh nghiệp khác 78 suất với tổng trị giá 37,5 triệu đồng.
Từ đầu năm đến nay, các địa phương trong tỉnh đã thực hiện tốt công tác trợ cấp xã hội thường xuyên tại cộng đồng, đã chi trả cho 49.276 lượt đối tượng với kinh phí hàng tháng gần 13 tỉ đồng/tháng, tăng hơn 6.000 đối tượng so với cùng kỳ năm trước.
Đã cấp thẻ BHYT năm 2015 cho 509 đối tượng đang được nuôi dưỡng tại các cơ sở bảo trợ xã hội ngoài công lập trên địa bàn tỉnh.
Tổ chức tháng hành động vì trẻ em năm 2015 với chủ đề “Lắng nghe trẻ em nói” tại các địa phương trên địa bàn toàn tỉnh. Từ đầu năm đến nay, thông qua các nguồn đã vận động hơn 4 tỷ đồng và đã giúp đỡ cho 7.500 trẻ em đặc biệt khó khăn.
b. Công tác đào tạo nghề
Từ đầu năm đến nay, các cơ sở đào tạo nghề đã tuyển sinh được 7.938  học viên tham gia các khóa học nghề, đạt 82.68% so với kế hoạch năm 2015 trong đó có: 461 sinh viên cao đẳng nghề; 895 học sinh trung cấp nghề, 6.582 sơ cấp nghề và dưới 3 tháng.
Dạy nghề nông thôn: Từ đầu năm đến nay, có 1.990 lao động nông thôn học nghề theo Đề án 1956 của Thủ tướng Chính phủ, đạt tỷ lệ 90,45% so với kế hoạch.
c. Lao động, giải quyết việc làm 
Chín tháng đầu năm 2015, thông qua việc mở rộng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, xuất khẩu lao động, hoạt động tư vấn giới thiệu việc làm, tổ chức 9 phiên giao dịch việc làm,.. đã giải quyết việc làm mới cho 12.824 lao động, đạt 80,15% kế hoạch năm, trong đó có 103 lao động đi làm việc ở nước ngoài.
Đã giải quyết chế độ bảo hiểm thất nghiệp cho 1.427 người/1.620 người đăng ký hưởng bảo hiểm thất nghiệp với tổng kinh phí 7,89 tỷ đồng.
Tiến hành cấp mới 23 giấy phép lao động và cấp lại 6 giấy phép cho 29 lao động là người nước ngoài, đưa tổng số đến nay có 199 lao động nước ngoài đang làm việc trên địa bàn tỉnh.
d. Chương trình giảm nghèo
Tiếp tục triển khai Kế hoạch thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo năm 2015, UBND tỉnh có kế hoạch phân bổ vốn đầu tư cho công tác giảm nghèo 2015 cho 31 xã đặc biệt khó khăn, vùng bãi ngang ven biển và hải đảo với tổng kinh phí 33,4 tỷ đồng. Triển khai mô hình sinh kế giảm nghèo bền vững năm 2015 tại 2 huyện Phong Điền và Quảng Điền.
e. Giáo dục - Đào tạo
+ Giáo dục phổ thông năm học 2014 - 2015
- Kết quả chất lượng năm học 2014 - 2015 
Khối Tiểu học: Môn toán có 99,31% học sinh hoàn thành; môn Tiếng Việt có 99,14% học sinh hoàn thành; phát triển phẩm chất có 99,96% học sinh đạt; phát triển năng lực có 99,59% học sinh đạt.
Khối Trung học cơ sở: Hạnh kiểm xếp loại tốt có 57.996 em, đạt tỷ lệ 83,5%, tăng 1,43% so với năm học trước; loại khá 10.392 em, đạt tỷ lệ 15,0 %,  giảm 0,88%. Học lực xếp loại giỏi có 14.354 em, đạt tỷ lệ 20,7%, tăng 2,27% so với năm học trước; loại khá 27.248 em, đạt tỷ lệ 39,2%, tăng 0,89%.
Khối Phổ thông trung học:  Hạnh kiểm xếp loại tốt có 29.030 em, đạt tỷ lệ 77,2%, tăng 3,51% so với năm học trước; loại khá 6.827 em, đạt tỷ lệ 18,2 %, giảm 2,38%. Học lực xếp loại giỏi có 4.090 em, đạt tỷ lệ 10,9%, tăng 3,12% so với năm học trước; loại khá 16.866 em, đạt tỷ lệ 44,9%, tăng 5,17%.
     - Kết quả kỳ thi Quốc gia
Học sinh tham gia các kỳ thi, hội thi cấp Quốc gia đạt tổng số 243 giải (19 giải Nhất, 43 giải Nhì, 89 giải Ba và 92 giải Khuyến khích), tăng 105 giải so năm học trước. Trong đó thi học sinh giỏi Quốc gia lớp 12 các môn văn hóa đạt 44 giải (01 giải Nhất; 11 giải Nhì; 10 giải Ba và 22 giải Khuyến khích), ít hơn năm học trước 4 giải, nhưng năm học này chất lượng giải nhất, nhì đã tăng lên. Thi Olympic Tiếng Anh trên internet vòng Quốc gia đạt 124 huy chương (12 huy chương vàng, 21 huy chương bạc, 33 huy chương đồng và 58 giải khuyến khích). Thi Năng lực Tiếng Anh vòng Quốc gia đạt 06 huy chương (01 huy chương vàng, 01 huy chương bạc, 02 huy chương đồng, 02 giải khuyến khích )
- Kết quả các kỳ thi cấp tỉnh
    Thi học sinh giỏi cấp tỉnh các môn văn hóa có 1.141 giải, trong đó 39 giải nhất, 145 giải nhì,  421 giải ba và 536 giải khuyến khích. Thi học sinh giỏi giải toán trên máy tính cầm tay cấp tỉnh có 267 giải, trong đó 9 giải nhất, 34 giải nhì, 102 giải ba và 122 giải khuyến khích.
- Tình hình năm học 2015 – 2016:
Ngành GD-ĐT tỉnh Thừa Thiên Huế đã cơ bản hoàn thành cơ sở vật chất, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên,...chuẩn bị cho năm học mới 2015 - 2016. Báo cáo nhanh về tình hình đầu năm học như sau:
Khối Mầm non: Có 207 trường, tăng 5 trường, tăng 2,48% so với năm học trước, với 52.987 học sinh, giảm 1,5%. Số trường đạt chuẩn quốc gia 51 trường, đạt tỷ lệ  24,64%.
Khối Tiểu học: Có 219 trường (01 trường tư thục ) giảm 07 trường, giảm 3,1% so với năm học trước do ghép một số trường có quy mô nhỏ và khoảng cách giữa các trường gần nhau, với 89.934 học sinh, giảm 2,9%. Số trường đạt chuẩn Quốc gia 133 trường, đạt tỷ lệ 60,73%.
Khối Trung học cơ sở: Có 132 trường (13 trường cấp 1-2) với 73.417 học sinh, tăng 3,7% so với năm học trước. Số trường đạt chuẩn Quốc gia 52 trường, đạt tỷ lệ 39,39%.
Khối Trung học phổ thông: Có 40 trường (3 trường cấp 2-3) với 38.810 học sinh, giảm 8,1% so với năm học trước. Số trường đạt chuẩn Quốc gia 10 trường, đạt tỷ lệ 25%.
Tình hình đội ngũ cán bộ, giáo viên: Toàn ngành có 20.035 cán bộ; giáo viên, trong đó giáo viên 16.277 người, giảm 1,1% so với năm học trước, bao gồm: Mầm non 3.881 giáo viên, tăng 2,6%; Tiểu học 5.065 giáo viên, giảm 4,0%; Trung học cơ sở 4.839 giáo viên, tăng 0,6%; Trung học phổ thông 2.492 giáo viên, giảm 0,4% so với năm học trước.
+ Đào tạo
Năm 2015, Đại học Huế tổ chức một Hội đồng tuyển sinh chung để tuyển cho tất cả 8 Trường đại học thành viên, 2 Khoa trực thuộc và Phân hiệu Đại học Huế tại Quảng Trị. Chỉ tiêu tuyển sinh năm học 2015 là 12.435 sinh viên, tăng 535 sinh viên so với năm 2014; trong đó 12.135 sinh viên đào tạo trình độ đại học cho 107 ngành học và 300 sinh viên đào tạo trình độ cao đẳng cho 6 ngành học.
Trong năm 2015 các trường đại học thành viên của Đại học Huế tiếp tục mở các lớp liên kết đào tạo với các trường nước ngoài như: Trường đại học Virginia Hoa Kỳ với chỉ tiêu 30 sinh viên; Trường đại học kỹ sư Val de Loire-Cộng hòa Pháp với chỉ tiêu 14 sinh viên; Trường đại học Rennes I - Cộng hòa Pháp với chỉ tiêu 50 sinh viên; Trường đại học Sydney - Australia với chỉ tiêu 60 sinh viên.
Đại học Huế đã tổ chức thành công kỳ thi Trung học phổ thông quốc gia tại cụm thi số 26 do Đại học Huế chủ trì đảm bảo an toàn và đúng quy chế thi của Bộ Giáo dục và Đào tạo đề ra. Có 27.845 thí sinh đăng ký dự thi diễn ra trong 4 ngày. Tỷ lệ thí sinh dự thi các môn đều đạt trên 97% so với số thí sinh đăng ký.
Trong 4 ngày diễn ra kỳ thi đã có 39 trường hợp vi phạm qui chế thi bị xử lý, trong đó: 11 thí sinh bị khiển trách, 1 thí sinh bị cảnh cáo, 27 thí sinh bị đình chỉ thi (4 thí sinh bị đình chỉ do mang điện thoại di động vào phòng thi, 23 thí sinh bị đình chỉ do mang tài liệu vào phòng thi). Hầu hết các thí sinh bị đình chỉ là thí sinh dự thi các môn tự luận như văn, sử, địa.
Hiện nay Đại học Huế đang còn xét tuyển các nguyện vọng 2 và 3 cho thí sinh, các trường đại học thành viên thuộc Đại học Huế đang hoàn tất việc thông báo trúng tuyển nguyện vọng 1 cho thí sinh để chuẩn bị nhập học cho năm học mới 2015-2016.
f. Hoạt động văn hóa, thể thao
Trong 9 tháng đầu năm 2015, nhiều hoạt động văn hóa, thể thao diễn ra trên địa bàn tỉnh: Tổ chức các hoạt động mừng Đảng, mừng Xuân Ất Mùi 2015; tổ chức Lễ tế Xã Tắc; tổ chức thành công Festival nghề truyền thống Huế lần thứ VI; tổ chức Chương trình Liên hoan “Bài ca về nguồn” chào mừng kỷ niệm 40 năm ngày giải phóng Miền Nam thống nhất Tổ quốc; tổ chức Ngày hội văn hóa, thể thao các dân tộc miền núi tỉnh Thừa Thiên Huế lần thứ XI-2015; tham gia Lễ hội Làng Sen năm 2015 với chủ đề “Sáng mãi tên người - Hồ Chí Minh” tại Nghệ An; tổ chức Liên hoan dân ca khu vực Bắc Trung bộ lần thứ VI năm 2015; triển lãm “Chủ tịch Hồ Chí Minh với Di sản văn hóa”; triển lãm về Festival Nghề truyền thống Huế; tổ chức Cầu truyền hình trực tiếp “Hà Nội - Huế - Thành phố Hồ Chí Minh: Nghĩa tình sắc son”; tổ chức trọng thể Đại lễ Phật đản Phật lịch 2559; khai mạc Ngày hội Du lịch - Huế 2015; tổ chức tuyên truyền về Đại hội Đảng các cấp, Đại hội thi đua yêu nước toàn tỉnh lần thứ IV; tuyên truyền kỷ niệm 70 năm Ngày Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9; tổ chức triển lãm Thừa Thiên Huế - 70 năm thành tựu kinh tế xã hội; …
Hoạt động thể dục - thể thao, trong 9 tháng đầu năm, cơ sở vật chất đầu tư cho thể dục thể thao được cải thiện đáng kể. Hiện nay trên địa bàn tỉnh có hơn 400 sân cầu lông ngoài trời, 100 sân cầu lông trong nhà, 36 sân quần vợt, 175 nhà tập thể thao, 250 sân bóng đá, 150 sân bóng chuyền và bóng rổ, 530 câu lạc bộ TDTT. Nhờ đó hoạt động thể dục thể thao ở cơ sở ngày càng thu hút đông đảo cán bộ và người dân tham gia; tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”.
Ngành TDTT tỉnh đã tổ chức tốt các hoạt động TDTT cấp toàn quốc trên địa bàn tỉnh như: Tổ chức Giải Karatedo Nghĩa Dũng lần thứ II/2015; Giải bóng đá thiếu niên toàn quốc cúp Mobifone 2015; tổ chức các trận thi đấu bóng đá trong khuôn khổ giải bóng đá quốc gia U15, U17, U19; Giải Bơi – Lặn vô địch quốc gia bể 25m; Giải đua xe đạp tranh Cúp truyền hình thành phố Hồ Chí Minh; Giải Quần vợt vô địch đồng đội quốc gia; Giải Cầu lông đồng đội toàn quốc năm 2015; Giải vô địch vật dân tộc toàn quốc; Giải Vô địch cờ vây, cờ tướng toàn quốc 2015;...
Về thể thao thành tích cao:
- Trong 9 tháng đầu năm 2015, ngành TDTT tỉnh đã cử 14 lượt đội tuyển bao gồm Cờ vua, Điền kinh, Taekwondo, Karatedo, Bóng đá, Bơi lội, Vật, Judo,…tham gia thi đấu tại các giải trẻ khu vực, giải vô địch toàn quốc và đã đạt được 87 Huy chương các loại (25 HCV, 26 HCB, 36 HCĐ), trong đó có 16 Huy chương quốc tế (7HCV, 8HCB, 1HCĐ). Đến nay đã có 399 Vận động viên được đào tạo cho 12 bộ môn.
Công tác kiểm tra hoạt động văn hóa, thể thao, chín tháng đầu năm 2015, công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm được triển khai tích cực, đã kiểm tra và ban hành 31 quyết định xử phạt vi phạm hành chính với các tổ chức, cá nhân với số tiền xử phạt là 140 triệu đồng; cảnh cáo, nhắc nhở 16 trường hợp; tịch thu và tiêu hủy hơn 1000 đĩa CD, VCD, DVD bản ghi âm, ghi hình ca múa nhạc, sân khấu không dán nhãn kiểm soát; buộc tháo dỡ hơn 400 băng rôn, pano, bảng quảng cáo các loại; tịch thu và tiêu hủy 8 bản đồ không thể hiện địa giới hành chính 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
g. Tình hình dịch bệnh
Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế không có dịch bệnh xảy ra. Có 55 ca mắc sốt rét, giảm 18 ca so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu là sốt rét thường; có 122 ca mắc sốt xuất huyết, tăng 23 ca; có 166 ca mắc viêm gan siêu trùng, tăng 93 ca; có 17 ca mắc bệnh Tay-Chân-Miệng, giảm 34 ca. Không có ca nào tử vong. Không có ca mắc bệnh viêm não vi rút, giảm 1 ca so cùng kỳ; không có ca mắc thương hàn, bằng cùng kỳ.
Từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 54 ca nhiễm HIV, 11 ca chuyển qua AIDS, 7 ca tử vong. Như vậy tính đến thời điểm 15/9/2015, trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế có 1.396 ca nhiễm HIV, 517 ca chuyển qua AIDS và đã có 330 ca tử vong.
Tình hình phòng, chống ngộ độc thực phẩm: Từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh không có trường hợp ngộ độc thực phẩm xảy ra.
h. Tai nạn giao thông
Ngày 08/01/2015 UBND tỉnh ra Chỉ thị số 02/CT-UBND về việc tăng cường công tác đảm bảo an ninh trật tự, bảo vệ an toàn tuyệt đối Tết Nguyên đán Ất Mùi, Đại hội Đảng các cấp và các sự kiện quan trọng của quê hương đất nước trong năm 2015. Ủy ban Nhân dân tỉnh cũng đã có Công văn chỉ đạo các sở, ngành chức năng tổ chức tốt công tác phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân và bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trong dịp nghỉ Lễ 30/4, 1/5 và 2/92015.
Trong 8 tháng đầu năm 2015, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 340 vụ tai nạn giao thông, giảm 206 vụ so với cùng kỳ năm trước; làm chết 104 người, giảm 11 người; bị thương 312 người, giảm 244 người. Trong đó tai nạn giao thông đường bộ xảy ra 334 vụ, giảm 208 vụ; làm chết 98 người, giảm 14 người; bị thương 311 người, giảm 243 người; tai nạn giao thông đường sắt xảy ra 6 vụ, tăng 2 vụ, làm chết 6 người, tăng 3 người; làm bị thương 1 người, giảm 1 người; tai nạn đường thủy không xảy ra.
i. Tình hình cháy, nổ và bảo vệ môi trường
Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 19 vụ cháy (không tính vụ cháy chợ Tứ Hạ), giảm 10 vụ so với cùng kỳ năm 2014; làm chết 1 người, không tăng giảm; không có người bị thương, giảm 2 người. Không xảy ra vụ nổ, bằng cùng kỳ năm trước.
Riêng vụ cháy chợ Tứ Hạ (thị xã Hương Trà): Vào khoảng 1 giờ ngày 16/9/2015, một vụ cháy lớn xảy ra tại chợ Tứ Hạ thuộc phường Tứ Hạ, thị xã Hương Trà. Theo thông tin ban đầu, vụ cháy đã thiêu rụi hoàn toàn 145 lô hàng của bà con tiểu thương, kinh doanh buôn bán tại chợ; ước tính tổng thiệt hại lên đến hàng chục tỉ đồng. Nguyên nhân vụ cháy đang được các cơ quan chức năng làm rõ. Cục Thống kê sẽ có báo cáo cụ thể về vụ cháy sau.
Từ đầu năm đến nay, qua kiểm tra đã phát hiện 140 vụ vi phạm môi trường, tăng 21 vụ so với cùng kỳ năm 2014, đã tiến hành xử lý 140 vụ với tổng số tiền phạt hơn  2 tỉ đồng.
Các hành vi vi phạm gồm: thải nước thải ra môi trường không qua xử lý 23 vụ; khai thác và vận chuyển cát sạn trái phép 34 vụ; vận chuyền đất đá, cát sạn rơi vãi 60 vụ; khai thác đất trái phép để san lấp mặt bằng 2 vụ; khai thác rừng trái phép 18 vụ; vận chuyển hàng nhập lậu không rõ nguồn gốc 3 vụ.

Khái quát lại, trong 9 tháng đầu năm 2015, kinh tế xã hội trong tỉnh tiếp tục diễn biến tích cực, các cân đối vĩ mô giữ ổn định; doanh nghiệp trên đà phục hồi sản xuất; năng lực sản xuất mới tăng trong công nghiệp dệt may, xi măng, điện năng phát huy tác dụng tốt; sản xuất nông lâm, thủy sản tiếp tục duy trì ổn định và phát triển, không xảy ra dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm và thủy sản; giá cả thị trường không có những biến động lớn, nhất là giá nguyên vật liệu đầu vào ổn định, giá xăng dầu giảm tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất kinh doanh. Công tác an sinh xã hội, gia đình chính sách, hộ nghèo được quan tâm chăm lo, không có tình trạng thiếu đói trong thời kỳ giáp hạt; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội giữ vững.
Tuy nhiên, tình hình kinh tế xã hội trước mắt vẫn còn khó khăn: Tăng trưởng nền kinh tế chủ yếu nhờ đóng góp của khu vực công nghiệp, nhưng các mặt hàng công nghiệp chủ lực của tỉnh đang đối mặt với cạnh tranh gay gắt, nhất là Bia; nền kinh tế chưa tạo được sức bật về thu hút đầu tư đối với các dự án lớn, chuỗi sản xuất toàn cầu đem lại giá trị gia tăng cao; phần lớn doanh nghiệp trên địa bàn là doanh nghiệp vừa và nhỏ, chưa có những doanh nghiệp qui mô lớn làm xương sống của nền kinh tế có vai trò dẫn dắt vào tạo sức lan tỏa lớn; tiềm lực doanh nghiệp và sức khỏe của nền kinh tế còn hạn chế; du lịch chưa có hướng phát triển mang tính đột phá, chưa tạo được lợi thế cạnh tranh trong khu vực; xuất khẩu 9 tháng đầu năm gặp khó khăn.
Để hoàn thành các mục tiêu kinh tế xã hội năm 2015, góp phần thực hiện cao nhất các chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2011-2015, các cấp, các ngành trong thời gian tới cần tập trung một số vấn đề trọng tâm sau đây:
Một là, tiếp tục có biện pháp tăng cường hỗ trợ Quỹ Đầu tư phát triển và Bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa của tỉnh hoạt động có hiệu quả cao. Tiếp tục tìm kiếm và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm đầu ra các lĩnh vực kinh tế then chốt, đặc biệt là thị trường tiêu thụ sản phẩm trong các dịp lễ cuối năm, Tết Dương lịch và Tết Nguyên đán. Tìm kiếm nhằm khai thác và phát triển thêm năng lực sản xuất mới, tập trung vào các ngành, lĩnh vực tạo ra giá trị gia tăng cao. Chuẩn bị tốt các điều kiện khi Việt Nam là thành viên của Cộng đồng kinh tế ASEAN vào cuối năm 2015. Có chính sách phù hợp đối với các loại hàng hóa nhập khẩu của Trung Quốc trong điều kiện Trung Quốc đang phá giá đồng nhân dân tệ.
.
Hai là, triển khai thực hiện nghiêm túc Luật doanh nghiệp mới ban hành. Tiếp tục thúc đẩy tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước bảo đảm đúng tiến độ và hiệu quả. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hóa quy trình, thủ tục hải quan, thủ tục thuế. Tăng cường các biện pháp thu ngân sách trên địa bàn, chống thất thu, trốn thuế, bảo đảm chỉ tiêu kế hoạch đề ra của năm 2015.
Ba là, tăng cường công tác quản lý thị trường, chống gian lận thương mại, sản xuất, tiêu thụ hàng giả, hàng kém chất lượng để bảo vệ sản xuất trong tỉnh; làm tốt công tác dự trữ hàng hóa, bình ổn giá cả các mặt hàng thiết yếu chuẩn bị Tết. Tích cực mở rộng thị trường tiêu thụ hàng Việt  về nông thôn, vùng sâu, vùng xa; thường xuyên tổ chức các chương trình bán hàng khuyến mại, giảm giá, các hình thức sử dụng dịch vụ giá rẻ để kích cầu tiêu dùng. Tập trung làm tốt công tác dịch vụ lữ hành, tạo ra những sản phẩm du lịch hấp dẫn có lợi thế cạnh tranh để thu hút du khách, trong đó tập trung nghiên cứu khai thác thị trường khách du lịch Hàn Quốc, Nhật Bản.
Tư là, tập trung chỉ đạo và chuẩn bị tốt cho sản xuất vụ đông xuân 2016.  Tiếp tục thúc đẩy sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, chú trọng phát triển chăn nuôi theo mô hình doanh nghiệp, trang trại, gia trại; tạo dựng thương hiệu cho các loại nông sản đặc thù của tỉnh, tập trung phát triển sản phẩm có lợi thế cạnh tranh và thị trường tiêu thụ. Tăng cường các biện pháp phòng chống dịch bệnh đối với đàn gia súc, gia cầm và thủy sản trong điều kiện thời tiết đang chuyển mùa. Triển khai đầy đủ công tác phòng, chống thiên tai, lụt, bão và tìm kiếm cứu nạn năm 2015 và kế hoạch dự trữ hàng hóa ứng phó trong mùa mưa bão.
 Năm là, tiếp tục triển khai thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, các Chương trình mục tiêu quốc gia và Chương trình xây dựng nông thôn mới đảm bảo giải ngân theo kế hoạch năm 2015. Huy động tối đa các nguồn lực hỗ trợ công tác chính sách - xã hội trong các dịp lễ tết cuối năm. Tăng cường công tác bảo đảm an ninh trật tự trong thời gian diễn ra Đại hội Tỉnh Đảng bộ, tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc./.
                                                                                                                                                                                                                                                                             CỤC THỐNG KÊ

































HỆ THỐNG TÊN MIỀN MẠNG GSO
MÁY CHỦ TÊN MIỀN .GSO:
Chính:       10.0.1.1
Dự phòng: 10.0.1.2
  • Góc người dùng
Tên đăng nhập:
Mật khẩu:



Bạn đang dùng -

IP:3.235.22.210

Thống kê

Lượt truy cập  22132
Đang trực tuyến   22