MyLabel

Báo Cáo Tình Hình Kinh Tế Xã Hội Tỉnh Thừa Thiên Huế 6 Tháng Đầu Năm 2019

6/29/2019
                                                                        TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI
                                                                           6 THÁNG ĐẦU NĂM 2019


Năm 2019, năm tăng tốc có ý nghĩa quan trọng trong thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội thời kỳ 5 năm 2016 - 2020. Năm chuẩn bị tiến hành Đại hội Đảng cấp cơ sở, tiến tới Đại hội Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2020-2025. Kinh tế - xã hội trong tỉnh 6 tháng đầu năm 2019 diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới có xu hướng tăng trưởng chậm lại và diễn biến phức tạp do tác động kéo dài của cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung. Trong nước, kinh tế tiếp tục duy trì đà tăng trưởng, kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát tuy còn tiềm ẩn những yếu tố khó lường với việc điều chỉnh tăng giá một số mặt hàng chiến lược, nhất là giá điện; dịch bệnh trên vật nuôi phát sinh, đặc biệt dịch tả lợn Châu Phi tiếp tục nguy cơ lan rộng. Trong tỉnh, bên cạnh các yếu tố thuận lợi về thu hút đầu tư ngay từ đầu năm, các ngành, lĩnh vực kinh tế quan trọng của tỉnh tiếp tục ổn định và phát triển, tuy nhiên để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế vẫn còn là vấn đề khó khăn, thách thức do năng lực sản xuất mới tăng trong những năm qua còn hạn chế, các nguồn lực đầu tư mới phần lớn chưa đi vào hoạt động, một số dự án qui mô lớn chậm khởi động hoặc tiến độ kéo dài.
Thực hiện các Nghị quyết của Chính phủ, Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh về những nhiệm vụ, giải pháp chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2019; với sự nỗ lực của các cấp, các ngành và các địa phương trong tỉnh, kết quả thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế xã hội chủ yếu năm 2019 theo Nghị quyết của HĐND tỉnh trong 6 tháng đầu năm như sau:

Chỉ tiêu Thực hiện 6 tháng đầu năm 2018 Ước thực hiện 6 tháng đầu năm 2019 Chỉ tiêu Nghị quyết năm 2019
1. Tốc độ tăng Tổng sản phẩm GRDP (%)                        5,92 6,87  7,5-8,0
Tr.đó: - Nông lâm nghiệp thủy sản                                         2,15 2,19  2,28
    - Công nghiệp-Xây dựng                                                    6,57 9,29  10,56
    - Dịch vụ                                                                         6,13 6,37   6,9
    - Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm                         7,98 7,73   5,58 
2. Giá trị xuất khẩu (Triệu USD)                                         440 509,5 1.055
3. Tổng vốn đầu tư phát triển  (Tỷ đồng)                         8.926   9.888     22.700
4. Tổng thu ngân sách nhà nước (Tỷ đồng)                    3.436   3.822,5  7.213,5
5. Tạo việc làm mới (người)                                                 9.300   8.680   16.000
1. Tăng trưởng kinh tế
Tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP)  6 tháng đầu năm 2019 ước tăng 6,87%   so cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 5,92% của 6 tháng đầu năm 2018. Trong đó khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,29%, cao hơn mức tăng 6,57% cùng kỳ, đóng góp 2,8 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung, riêng công nghiệp tăng 9,68%, cao hơn mức tăng 7,27% cùng kỳ; khu vực dịch vụ tăng 6,37%, cao hơn mức tăng 6,13% cùng kỳ, đóng góp 3,19 điểm phần trăm; khu vực nông, lâm, thủy sản tăng 2,19%, cao hơn mức tăng 2,15% cùng kỳ, đóng góp 0,26 điểm phần trăm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 7,73%, đóng góp 0,62 điểm phần trăm.
Tăng trưởng GRDP 6 tháng đầu năm 2019 đạt cao hơn mức tăng 6 tháng đầu năm 2018 nhờ ngành sản xuất điện tăng trưởng trở lại (6 tháng đầu năm 2018 tăng trưởng âm); một số nhà máy sản xuất men frit, vỏ lon nhôm, gạch men… được nâng công suất vào những tháng cuối năm 2018 đã phát huy năng lực tăng thêm trong những tháng đầu năm; một số nhà máy mới đưa vào hoạt động trong 6 tháng đầu năm. Ngành xây dựng cũng có những chuyển biến tích cực, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 6 tháng đầu năm đạt cao so cùng kỳ.
Khu vực nông, lâm, thủy sản duy trì mức tăng ổn định, xấp xỉ mức tăng cùng kỳ năm trước. Hoạt động đánh bắt hải sản phục hồi và phát triển, giá trị tăng thêm ngành thủy sản đạt khá cao, tăng 7,12% so cùng kỳ. Ngành lâm nghiệp cũng đạt mức tăng trưởng khá 5,44%, chủ yếu nhờ khai thác gỗ rừng trồng tăng. Tuy nhiên tăng trưởng ngành nông nghiệp 6 tháng đầu năm nay bị ảnh hưởng tình trạng dịch tả lợn Châu Phi xảy ra trên nhiều tỉnh, thành cả nước, trong đó có Thừa Thiên Huế, làm cho chăn nuôi lợn giảm sút, sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng giảm 13,4% so cùng kỳ năm 2018. Khu vực dịch vụ 6 tháng đầu năm nay thu hút được một số dự án đầu tư quan trọng, một số dự án đã khởi công, một số dự án đã hoàn thành và đi vào hoạt động nhưng nhìn chung chưa có những dự án qui mô lớn tác động mạnh lên tăng trưởng của nền kinh tế. Hoạt động du lịch trên địa bàn có những khởi sắc, môi trường du lịch biển phục hồi nhưng chưa mạnh. Bên cạnh đó khu vực dịch vụ công tiếp tục duy trì nhịp độ tăng trưởng chậm do tiến trình đổi mới, sắp xếp mô hình tổ chức, tinh giản biên chế, cắt giảm chi tiêu công và bước đầu xã hội hóa sự nghiệp công lập cũng còn gặp không ít khó khăn. Ngoài ra chỉ số giá sản xuất khu vực dịch vụ công 6 tháng đầu năm nay tăng khá cao so với mức tăng chung, cũng đã ảnh hưởng đến tăng trưởng khu vực dịch vụ nói chung. 
Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm 6 tháng đầu năm 2019 đạt mức tăng khá do bổ sung nguồn thu từ sản xuất điện năm qua giảm và nguồn thu thuế tiêu thụ đặc biệt 6 tháng đầu năm nay tăng khá cao.
Về cơ cấu kinh tế 6 tháng đầu năm 2019, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 11,39%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 28,93%; khu vực dịch vụ chiếm 51,53%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 8,15%. Cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2018 là: 11,73%; 28,55%; 51,63% và 8,08%).
2. Tài chính, ngân hàng
Tài chính : Ngày 28 tháng 12 năm 2018, UBND tỉnh đã ra Quyết định số 3084/QĐ-UBND về việc Qui định tổ chức thực hiện dự toán ngân sách Nhà nước địa phương năm 2019. Các ngành, các địa phương đã triển khai quyết liệt các biện pháp thu, tiết kiệm trong chi thường xuyên.
Tổng thu ngân sách 6 tháng năm 2019 ước đạt 3.822,5 tỷ đồng, bằng 52,99% dự toán. Trong đó:
- Thu nội địa ước đạt 3.607,5 tỷ đồng, bằng 54,42% dự toán. Trong thu nội địa, thu doanh nghiệp nhà nước ước đạt 220,0 tỷ đồng, bằng 51,76% dự toán; thu doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 1055,0 tỷ đồng, bằng 50,24% dự toán; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài nhà nước 600 tỷ đồng, bằng 51,64% dự toán; thuế thu nhập cá nhân 220 tỷ đồng, bằng 68,75% dự toán; thuế bảo vệ môi trường 340 tỷ đồng, bằng 49,28% dự toán.
- Thu thuế từ hoạt động xuất nhập khẩu ước đạt 210 tỷ đồng, bằng 37,87% dự toán. 
Tổng chi ngân sách địa phương 6 tháng năm 2019 ước đạt 3.835,2 tỷ đồng, bằng 37,9% dự toán, trong đó chi đầu tư phát triển 840,3 tỷ đồng, bằng 28,1% dự toán; chi sự nghiệp kinh tế 295,9 tỷ đồng, bằng 40,6% dự toán; chi sự nghiệp giáo dục đào tạo 1.209,3 tỷ đồng, bằng 42,7% dự toán; chi sự nghiệp y tế 213,7 tỷ đồng, bằng 31,7% dự toán; chi quản lý nhà nước 627,7 tỷ đồng, bằng 50,5% dự toán.
Ngân hàng : Dự ước đến cuối tháng 6/2019, tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn đạt 46.100 tỷ đồng, tăng 6,9% so với đầu năm; tổng dư nợ đạt 48.000 tỷ đồng, tăng 5,4%, trong đó dư nợ cho vay bằng VND đạt 46.100 tỷ đồng, tăng 4,8%, chiếm 96,0% tổng dư nợ; dư nợ cho vay ngắn hạn 18.000 tỷ đồng, tăng 3,2%.
Đến cuối tháng 6/2019 ước cho vay một số lĩnh vực ưu tiên: Cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn tăng 1,0% so với đầu năm; cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng 2,7%; cho vay phát triển SXKD hàng xuất khẩu tăng 2,2%; cho vay ngành công nghiệp hỗ trợ tăng 5,9%. 
Về lãi suất, các chi nhánh Tổ chức tín dụng trên địa bàn duy trì mức lãi suất huy động và cho vay ổn định so với tháng trước, cụ thể:
Lãi suất huy động không có kỳ hạn hoặc có kỳ hạn dưới 1 tháng phổ biến ở mức 0,8% - 1%/năm; kỳ hạn từ 1 tháng đến 6 tháng ở mức 4,3% - 5,5%; từ 6 tháng đến dưới 12 tháng ở mức 5,4% - 6,5%/năm; kỳ hạn từ 12 tháng trở lên phổ biến ở mức 6,5% - 7,3%/năm. Lãi suất huy động ngoại tệ phổ biến bằng mức trần do NHNN quy định là 0%/năm đối với tổ chức và cá nhân. 
Lãi suất cho vay các lĩnh vực ưu tiên phổ biến ở mức 6% - 6,5%/ năm đối với ngắn hạn. Lãi suất cho vay các lĩnh vực SXKD thông thường phổ biến ở mức 6,0% - 9%/năm đối với vay ngắn hạn; ở mức 9,0% - 11%/năm đối với trung, dài hạn. Lãi suất cho vay ngoại tệ phổ biến ở mức 2,8% - 6,0%/năm. 
3. Giá cả
- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
Chỉ số giá tiêu dùng toàn tỉnh tháng 6/2019 giảm 0,18% so với tháng trước, tăng 1,63% so với tháng 12 năm trước. Nguyên nhân giảm trong tháng 6 chủ yếu do giá xăng, dầu điều chỉnh giảm, giá lương thực giảm. Bên cạnh đó, dịch tả lợn Châu Phi vẫn tiếp tục bùng phát, gây ảnh hưởng đến tâm lý người tiêu dùng nên giá thịt lợn tháng 6 tiếp tục giảm. Chỉ số giá các nhóm hàng hóa dịch vụ còn lại chỉ tăng nhẹ, riêng nhóm giáo dục tăng khá do giá đồ dùng học tập, văn phòng phẩm và sách giáo khoa tăng. Các nhóm hàng hóa dịch vụ có chỉ số giá tăng so tháng trước gồm: Nhóm giáo dục tăng 0,76%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,67%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,19%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,08%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,05%; ăn uống ngoài gia đình tăng 0,11%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,32%. Nhóm thuốc và dịch vụ y tế và bưu chính viễn thông không tăng giảm. Nhóm hàng hóa dịch vụ có chỉ số giá giảm gồm: Nhóm giao thông giảm 1,84%; nhóm lương thực giảm 0,76%, trong đó gạo giảm 1,36%; thực phẩm giảm 0,1%, trong đó nhóm thịt gia súc tươi sống giảm 3,09%, riêng thịt lợn giảm 3,94%, nhóm thịt gia cầm tươi sống tăng 1,96%, riêng thịt gà tăng 1,37%, nhóm thủy sản tươi sống giảm nhẹ 0,26%, riêng nhóm cá tươi hoặc ướp lạnh giảm 1,23%; nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,52%.
Trong 6 tháng đầu năm 2019 tình hình giá cả thị trường hàng hóa và dịch vụ trên địa bàn tỉnh ổn định. Bình quân 6 tháng đầu năm 2019 chỉ số giá tiêu dùng chung tăng 2,41% so với bình quân cùng kỳ năm 2018. Trong đó: Quí I/2019 bình quân tăng 2,11% so cùng kỳ; quí II bình quân tăng 2,7%. Nguyên nhân tăng giá trong 6 tháng đầu năm chủ yếu do tác động từ việc điều chỉnh tăng giá điện, nước; tăng học phí, tăng giá dịch vụ khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế vào quí IV/2018. Ngoài ra một số nhóm hàng hóa, dịch vụ thiết yếu tăng trong dịp Tết Nguyên đán và các dịp lễ hội như: lương thực, thực phẩm, đồ uống, thuốc lá, may mặc, mũ nón, dày dép, vui chơi giải trí, đồ dùng học tập tăng vào đầu năm học....Các nhóm hàng hóa dịch vụ có chỉ số giá bình quân 6 tháng đầu năm tăng cao so cùng kỳ năm trước gồm: Nhóm giáo dục tăng 6,26%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 4,34%; thực phẩm tăng 4,01%; đồ uống và thuốc lá tăng 3,17%; nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 2,65%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,76%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,66%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 1,72%; hàng hóa và dịch vụ khác (chủ yếu chăm sóc, phục vụ cá nhân) tăng 3,78%.

Chỉ số giá tiêu dùng 6 tháng đầu năm
                                                                    Đơn vị tính : %
         2015   2016   2017   2018   2019
Tháng 12 năm trước =100
Tháng 1 99,97 100,05 100,75 100,55 100,08
Tháng 2 100,15 100,60 100,98 101,35 101,22
Tháng 3 100,13 101,30 100,68 100,87 100,72
Tháng 4 100,28 101,45 100,41 100,89 101,20
Tháng 5 100,50 102,07 99,96 101,19 101,81
Tháng 6 100,78 102,47 99,72 101,55 101,63
- Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ 
Chỉ số giá vàng tháng 6/2019 tăng 1,8% so với tháng trước, tăng 5,31% so với tháng 12 năm trước và tăng 2,51% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân quí II/2019 chỉ số giá vàng tăng 0,33%; bình quân 6 tháng đầu năm 2019 tăng 0,21% so với bình quân cùng kỳ năm trước. 
Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 6/2019 tăng 0,32% so với tháng trước, tăng 0,32% so với tháng 12 năm trước và tăng 2,62% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân quí II/2019 chỉ số giá đô la Mỹ tăng 2,31%; bình quân 6 tháng đầu năm 2019 tăng 2,24% so với bình quân cùng kỳ năm trước.
4. Đầu tư phát triển  
Tổng vốn đầu tư thực hiện theo giá hiện hành trên địa bàn trong 6 tháng đầu năm 2019 ước đạt 9.888,2 tỷ đồng, bằng 43,56% KH năm, tăng 10,78% so cùng kỳ năm trước; trong đó vốn khu vực Nhà nước đạt 2.957,7 tỷ đồng, bằng 46,47% KH, tăng 0,90%, chiếm 29,91% tổng vốn; vốn khu vực ngoài Nhà nước 6.380,5 tỷ đồng, bằng 44,51% KH, tăng 13,93%, chiếm 64,53%; vốn đầu tư nước ngoài đạt 550,0 tỷ đồng, bằng 27,50% KH, tăng 39,44%, chiếm 5,56%. 
Tổng vốn đầu tư trên địa bàn tỉnh sáu tháng đầu năm nay tăng khá so cùng kỳ, chủ yếu tập trung vào các dự án chuyển tiếp: Hệ thống thoát nước, xử lý nước thải khu công nghiệp và khu phi thuế quan; Kè chống sạt lở bờ biển xã Quảng Công; Đường Lâm Hoằng; Đường cứu hộ cứu nạn Thủy phù - Vinh Thanh; Kè chống sạt lở bờ sông Tả Trạch; Kè chống sạt lở bờ sông Nong, huyện Phú Lộc; Đường Chợ Mai - Tân Mỹ, huyện Phú Vang; Đường phía Đông đầm Lập An; Bảo tồn, tu bổ và phục hồi quần thể di tích; Hạ tầng kỹ thuật khu dân cư Bắc Hương Sơ phục vụ tái định cư khu vực I di tích kinh thành Huế;...Vốn đầu tư NSNN do Trung ương quản lý tiếp tục tập trung đầu tư vào những dự án trọng điểm quốc gia: Dự án đầu tư xây dựng khu kinh tế quốc phòng A So; Học viện Âm Nhạc Huế; Nhà hát Sông Hương; Viện nghiên cứu khoa học miền Trung;…
Nguồn vốn doanh nghiệp trên địa bàn tiếp tục đầu tư vào các dự án gấp rút hoàn thiện để đưa vào sử dụng: Dự án phức hợp Manor Crown; Khu du lịch Về Nguồn; Dự án Goldland Plaza; Trung tâm tiệc cưới Sen Trắng; Khu nghỉ dưỡng nước khoáng nóng Mỹ An … Các dự án trọng điểm quốc gia BT và BOT tiếp tục thi công nhanh: Dự án đường La Sơn - Túy Loan; Hầm Hải Vân giai đoạn II. Nhiều dự án chuyển tiếp được thực hiện nhanh các công đoạn cuối để đưa vào hoạt động: Các nhà máy thủy điện A Lin B1, A Lin B2, Rào Trăng 3; tòa nhà Vietinbank; dự án Movenpic Resort Lăng Cô. Nguồn vốn đầu tư nước ngoài chủ yếu thực hiện các dự án chuyển tiếp: Dự án Laguna giai đoạn 2; Dự án Khu nghỉ dưỡng của Công ty Minh Viễn; Hạ tầng khu công nghiệp của Công ty cổ phần Hello quốc tế Việt Nam; Dự án biệt thự nghỉ dưỡng và khu vui chơi giải trí của Công ty cổ phần đầu tư Vinh Thanh.
Trong 6 tháng đầu năm, các cấp các ngành trên địa bàn tỉnh tiếp tục triển khai các nhiệm vụ trọng tâm theo kế hoạch đề ra. Trong đó tập trung công tác giải phóng mặt bằng, sớm khởi công Dự án đầu tư nhà ga, sân đỗ Cảng hàng không quốc tế Phú Bài; hoàn chỉnh cơ chế đặc thù di dời, hỗ trợ tái định cư các hộ dân trong khu vực I di tích Huế. Đôn đốc triển khai đúng tiến độ các dự án trọng điểm trên địa bàn.  
Tính từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh có 6 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký mới với tổng số vốn đăng ký 75,54 triệu USD, tăng 4 dự án và tăng 75,1 triệu USD về vốn so với cùng kỳ năm trước. Trong tổng số 6 dự án, Hàn Quốc có 2 dự án với tổng số vốn đăng ký 1,30 triệu USD, bao gồm 1 dự án về dịch vụ tư vấn bất động sản và 1 dự án về sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ; 1 dự án của Hồng Kông-Trung Quốc với số vốn đăng ký 59,05 triệu USD về công nghiệp xử lý rác thải rắn; 1 dự án của Đài Loan-Trung Quốc 0,13 triệu USD về xuất nhập khẩu; 1 dự án của Nhật Bản 0,05 triệu USD về giáo dục, đào tạo; 1 dự án của Mỹ 15,0 triệu USD về sản xuất đồ chơi trẻ em.
5. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
5.1. Nông nghiệp
Sản xuất vụ đông xuân năm 2019 thời tiết diễn biến thuận lợi, các địa phương chủ động bám sát lịch thời vụ, nên diện tích gieo cấy lúa và các loại cây hàng năm chủ yếu đạt tiến độ nhanh hơn so vụ đông xuân năm trước. Đến nay đã kết thúc thu hoạch diện tích lúa đông xuân, năng suất đạt 62,7 tạ/ha, tăng 0,3 tạ/ha; sản lượng đạt 181.036 tấn, tăng 1,6% so vụ đông xuân năm trước.
Diện tích gieo cấy lúa vụ đông xuân 2019 toàn tỉnh đạt 28.928 ha, chiếm 64,2% tổng diện tích cây hàng năm, tăng 1,35% so vụ đông xuân năm trước. Tình hình sâu bệnh trên cây lúa vụ đông xuân 2019 tuy có diễn ra nhưng trong phạm vi hẹp, mức độ gây hại thấp. Năng suất lúa các địa phương:

Thực hiện
đông xuân 2019
(tạ/ha) Mức độ tăng,
giảm (-) so vụ đông xuân 2018
(tạ/ha)
TOÀN TỈNH 62,7 0,3
Huế                 62,5 0,2
Phong Điền 61,8 1,0
Quảng Điền 65,9 -0,5
Hương Trà 62,6 0,8
Phú Vang 62,2 -0,1
Hương Thủy 67,0 2,0
Phú Lộc     61,5 -0,3
A Lưới         53,0 -1,0
Nam Đông 56,0 0,4

Cơ cấu các nhóm giống lúa vụ đông xuân năm 2019 có chuyển biến tích cực, đã đưa vào một số mô hình ứng dụng kỹ thuật tiên tiến trong sản xuất nông nghiệp: Mô hình 3 giảm 3 tăng, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng lúa, hạn chế phát thải các chất gây hại ra môi trường; mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật tăng năng suất và hiệu quả sản xuất lúa trên đất bị nhiễm chua, phèn; mô hình ứng dụng sản xuất nông sản theo tiêu chuẩn VietGAP với diện tích 930,2 ha (trong đó cây lúa 819,6 ha và cây rau các loại 110,6 ha); mô hình sản xuất theo hướng hữu cơ khoảng hơn 195,9 ha (cây lúa 186,8 ha; rau các loại 9,1 ha) đã phát huy hiệu quả và từng bước được nhân rộng. Cơ cấu giống lúa đông xuân 2019, các địa phương bố trí hợp lý nhóm giống lúa dài và trung ngày với nhóm giống lúa ngắn ngày trên cơ sở điều kiện sản xuất của từng chân ruộng, diện tích nhóm giống lúa trung và dài ngày chiếm khoảng 8,2%; nhóm ngắn ngày và cực ngắn chiếm 91,8%, trong đó khang dân chiếm 37,4%. Lúa chất lượng cao được các địa phương chú trọng mở rộng diện tích đưa vào gieo cấy đạt 10.910 ha , tăng 1.902 ha so vụ đông xuân năm trước, chiếm 37,8% diện tích. Tỷ lệ sử dụng giống lúa xác nhận đưa vào gieo cấy đạt khoảng 92,5% diện tích.
Đối với cây hàng năm chủ yếu khác, do hạn hán nên diện tích giảm so cùng kỳ. Kết thúc gieo trồng vụ đông xuân năm 2019, ước tính diện tích các loại cây hàng năm chủ yếu như ngô đạt 1.044 ha, giảm 4,3% so cùng kỳ; khoai lang 1.439 ha, giảm 4,6%; sắn 5.648 ha, tăng 0,9%; cây lạc 2.966 ha, giảm 0,5%; rau các loại 3.105 ha, giảm 1,3%; cây ớt cay 291 ha, giảm 4%. 
Ước tính năng suất, sản lượng một số cây hàng năm khác chủ yếu khác vụ đông xuân 2019 như cây ngô năng suất ước đạt 40,9 tạ/ha, tăng 0,2 tạ/ha so cùng kỳ năm trước; sản lượng đạt 4.270 tấn, giảm 3,8%; tương tự cây khoai lang đạt 55,1 tạ/ha, tăng 0,2 tạ/ha và đạt 7.935 tấn, giảm 4,2%, nguyên nhân chủ yếu sản lượng giảm là do giảm diện tích; cây lạc đạt 17,1 tạ/ha, giảm 5,7 tạ/ha và đạt 5.067 tấn, giảm 25,3% ; cây rau các loại đạt 100,3 tạ/ha, giảm 1,5 tạ/ha và đạt 31.158 tấn, giảm 2,7%; cây ớt cay đạt 82,6 tạ/ha, giảm 1,1 tạ/ha.
Tính đến 15/6/2019 tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ hè thu đạt 28.012 ha, tăng 0,2% so cùng kỳ năm trước, riêng cây lúa đạt 25.568 ha, tăng 0,5%. Năm nay nhờ kết thúc thu hoạch vụ đông xuân sớm nên gieo cấy lúa hè thu tiến độ nhanh hơn so cùng kỳ. Các địa phương tập trung các giống lúa có ưu thế về thời gian sinh trưởng ngắn như PC6, TH5,... để bố trí trên các diện tích gieo cấy muộn, vùng đất thấp trũng, phấn đấu thu hoạch sớm trước ngày 02/9/2019. Khuyến khích các địa phương tiếp tục mở rộng diện tích gieo cấy giống lúa chất lượng cao.
Đối với cây hàng năm chủ yếu khác vụ hè thu năm 2019 do thời tiết nắng nóng kéo dài với nền nhiệt độ cao nên xảy ra tình hình khô hạn cục bộ ở một số địa phương làm cho tiến độ gieo trồng các loại cây hàng năm khác chậm hơn so với vụ hè thu năm trước. Cây ngô đạt 202 ha, bằng 96,7% so cùng kỳ; cây khoai lang 176 ha, bằng 81,9%; cây sắn 88 ha, bằng 97,8%; cây chất bột khác 64 ha, bằng 97,4%; cây lạc 169 ha, bằng 100,9%; rau các loại 967 ha, bằng 98,8%; đậu các loại 517 ha, bằng 97,9%; cây ớt cay 44,5 ha, bằng 96,7%. 
Ước tính tổng diện tích hiện có cây lâu năm 6 tháng đầu năm 2019 đạt 12.754 ha, tăng 0,4% so với cùng kỳ năm 2018. Trong đó diện tích một số cây lâu năm ăn quả chủ yếu như cây chuối ước đạt 920 ha, tăng 5,3% so cùng kỳ; cây ổi 98 ha, tăng 16%; cam 264 ha, tăng 9,5%; bưởi bòng thanh trà 1.119 ha,  tăng 2,6%, diện tích bưởi thanh trà tăng nhờ hiệu quả kinh tế khá, đây là sản phẩm chủ lực về cây lâu năm của tỉnh được tuyên truyền, quảng bá và xây dựng thương hiệu sản phẩm cho thanh trà Huế. Một số loại cây lâu năm khác trên địa bàn tỉnh có diện tích ổn định như cây dừa với diện tích hiện có 65 ha; cây hồ tiêu  271,8 ha; chè búp 3,2 ha; chè hái lá 77 ha. Những năm gần đây giá cau trên thị trường tăng trở lại nên người dân đầu tư chăm sóc và mở rộng diện tích, diện tích cây cau 6 tháng đầu năm 2019 ước đạt 189 ha, tăng 3,2%, tập trung chủ yếu ở huyện miền núi Nam Đông. 
Cây cao su là cây lâu năm chiếm tỷ trọng lớn nhất với diện tích hiện có 8.882 ha, chiếm 69,6% tổng diện tích cây lâu năm toàn tỉnh. Năm nay giá mủ cao su đang ở mức thấp nên nhiều địa phương hạn chế trồng mới. Sản lượng mủ cao su 6 tháng đầu năm 2019 ước đạt 2.145 tấn, giảm 0,2% so với cùng kỳ năm trước. 
Ước tính sản lượng thu hoạch một số cây lâu năm chủ yếu 6 tháng đầu năm 2019: sản lượng chuối đạt 8.049 tấn, tăng 2,3% so cùng kỳ năm trước; bưởi, thanh trà 2.320 tấn, giảm 2,3%; dứa 1.013 tấn, giảm 12,7% do diện tích cho sản phẩm giảm; hồ tiêu 97,7 tấn, giảm 8,7%. 
Chăn nuôi, Trong 6 tháng đầu năm 2019, trên địa bàn tỉnh xảy ra bệnh dịch tả lợn Châu Phi. Trước diễn biến phức tạp và mức độ lây lan nhanh của bệnh dịch, UBND tỉnh đã khẩn trương ban hành nhiều công điện, công văn và chỉ thị về tăng cường thực hiện đồng bộ các giải pháp ngăn chặn dịch, tuy nhiên dịch vẫn tiếp tục lây lan nhanh trên địa bàn tỉnh và ở nhiều tỉnh, thành trong cả nước. Tính đến ngày 14/6/2019, dịch bệnh đã và đang xảy ra trên đàn lợn của 1.650 hộ chăn nuôi, 368 thôn, 79 xã thuộc 8 huyện, thị xã (trừ huyện Nam Đông chưa xảy ra) với tổng số lợn mắc bệnh và đã tiêu hủy là 7.382 con, tổng trọng lượng tiêu hủy là 393.578 kg. Hiện nay dịch tả lợn Châu Phi đã xảy ra ở hầu hết tỉnh, thành phố trong cả nước. Ngày 04/6/2019, UBND tỉnh tiếp tục ban hành Kế hoạch số 136/KH-UBND về việc thực hiện Chỉ thị số 35-CT/TU của Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện hiệu quả công tác phòng chống, khống chế bệnh Dịch tả lợn Châu Phi và đã triển khai đến tất cả các địa phương trong tỉnh, đồng thời lãnh đạo tỉnh cũng đã trực tiếp về các địa phương có dịch để tăng cường công tác chỉ đạo. Trước tình hình dịch tả lợn Châu Phi, nhiều gia trại, trang trại trên địa bàn tỉnh thu hẹp đầu tư, thận trọng tái đàn vì lo ngại rủi ro. Tổng đàn lợn thời điểm 01/6/2019 ước đạt 130.360 con, giảm 22,7% so cùng kỳ năm trước.
Chăn nuôi gia cầm, nhất là chăn nuôi gà có nhiều thuận lợi, dịch bệnh không xảy ra, công tác tiêm phòng thú y, vệ sinh môi trường chăn nuôi được quan tâm, giá thịt gà hơi giữ mức ổn định nên khuyến khích người chăn nuôi mở rộng quy mô đàn. Tổng đàn gia cầm thời điểm 01/6/2019 ước đạt 3.608,9 nghìn con, tăng 3,9% so cùng kỳ năm trước, trong đó đàn gà 2.790,2 nghìn con, tăng 4,8%; đàn vịt, ngan, ngỗng 818,7 nghìn con, tăng 0,8%. Ước tính đàn trâu thời điểm 01/6/2019 đạt 19.617 con, giảm 2,5% so cùng kỳ năm trước; đàn bò  33.152 con, giảm 1,4%. Nguyên nhân chủ yếu đàn trâu, bò giảm là do hiện nay đồng cỏ chăn nuôi thu hẹp, thiếu lao động nuôi trâu bò, bên cạnh đó tổng đàn bò giảm còn do nguyên nhân dự án BCC  và dự án khuyến nông ở một số huyện đã chấm dứt. 
Sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng 6 tháng đầu năm 2019 ước đạt 539 tấn, tăng 3,7% so cùng kỳ năm trước; thịt bò hơi xuất chuồng 754 tấn, tăng 0,3%; thịt lợn hơi xuất chuồng 9.180 tấn, giảm 13,4%; thịt gà hơi xuất chuồng 3.185 tấn, tăng 2,7%; thịt vịt, ngan, ngỗng 1.202 tấn, tăng 0,3%. 
Công tác tiêm phòng đàn gia súc, gia cầm, tính đến 14/6/2019 đã tiêm 22.850 liều vắc xin tụ huyết trùng trâu bò đạt 58% kế hoạch; 77.304 liều vắc xin tam liên lợn đạt 93% KH; 7.930 liều vắc xin VX +KT E.coli đạt 70% KH; 346.900 liều vắc xin cúm gia cầm đạt 78% KH; 408.800 liều vắc xin dịch tả vịt đạt 87% KH; 35.775 liều vắc xin Newcastle gà đạt 29% KH; 191.040 liều vắc xin Lasota+Newcastle đạt 61% KH; 7.790 liều vắc xin tụ huyết trùng gia cầm đạt 38% KH; 70.200 liều vắc xin đậu gà đạt 64% KH; 144.950 liều vắc xin VX+KT Gumboro đạt 47% KH.
5.2. Lâm nghiệp
Sản xuất lâm nghiệp tháng 6/2019 tập trung chủ yếu khai thác gỗ rừng trồng. Ước tính tổng sản lượng gỗ khai thác rừng trồng trong tháng đạt 71.426 m3, tăng 6,4% so tháng 6/2018; sản lượng củi khai thác 39.095 ster, tăng 1,2%. Đưa sản lượng gỗ khai thác 6 tháng đầu năm 2019 ước đạt 323.461 m3 gỗ, tăng 3,5% so cùng kỳ năm trước, trong đó toàn bộ là khai thác gỗ từ rừng trồng; sản lượng củi khai thác ước đạt 185.646 ster, tăng 1,8%. Sản lượng gỗ tăng khá chủ yếu do rừng trồng trên địa bàn tỉnh đã đến kỳ khai thác, giá thu mua gỗ ổn định và có xu hướng tăng, bên cạnh đó thời tiết tương đối thuận lợi cho việc khai thác và vận chuyển.
Diện tích trồng rừng tập trung 6 tháng đầu năm 2019 ước đạt 3.570 ha, tăng 3% so cùng kỳ năm trước, trong đó toàn bộ là rừng sản xuất. Hiện nay trồng rừng mang lại hiệu quả kinh tế khá nên khuyến khích người dân mở rộng diện tích trồng và chăm sóc rừng. Bên cạnh đó thời tiết thuận lợi và nguồn giống cây lâm nghiệp đầy đủ góp phần làm tăng diện tích rừng trồng mới. Diện tích rừng trồng được chăm sóc ước đạt 9.208,3 ha, tăng 8,1%; diện tích rừng được giao khoán bảo vệ đạt 32.550 ha, tăng 2,2% so cùng kỳ năm trước, hiện nay đề án 430 về giao rừng tự nhiên cho người dân bảo vệ đạt tỷ lệ khá; số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 1.285,4 nghìn cây, tăng 0,5%. 
Trong 6 tháng đầu năm xảy ra 287 vụ vi phạm lâm luật, tăng 82 vụ, tăng 40% so cùng kỳ năm trước; đã tiến hành xử lý 203 vụ, tịch thu 57,6 m3 gỗ tròn và 253,9 m3 gỗ xẽ các loại. Trong đó có 29 vụ phá rừng, tăng 5 vụ so cùng kỳ năm trước, với diện tích rừng bị phá 6,4 ha, giảm 4,3%; không có vụ cháy rừng xảy ra.
5.3. Thủy sản
Diện tích nuôi trồng thủy sản tháng 6/2019 ước đạt 292,5 ha, tăng 0,7% so  cùng kỳ năm trước, bao gồm nuôi nước lợ 247,5 ha, tăng 1,2%; nuôi nước ngọt 45 ha, giảm 2,2%. Trong diện tích nuôi nước lợ chia ra nuôi cá 45 ha, tăng 4,7%; nuôi tôm 77 ha, tăng 4,2%, riêng diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng 58 ha, tăng 5,5%, diện tích nuôi các loại thủy sản khác 128 ha, giảm 1,5% so cùng kỳ. Đưa tổng diện tích nuôi trồng thủy sản 6 tháng đầu năm 2019 ước đạt 7.184,5 ha, tăng 2,9% so cùng kỳ năm trước. Trong đó diện tích nuôi nước lợ đạt 5.209,5 ha, tăng 4,4%; nuôi nước ngọt 1.975 ha, giảm 0,8%; trong nuôi nước lợ, bao gồm nuôi cá đạt 1.317 ha, tăng 5%; nuôi tôm 2.998 ha, tăng 5,2%, riêng nuôi tôm sú 2.470 ha, tăng 4,8%, tôm thẻ chân trắng 364 ha, tăng 9,3%, tôm khác 164 ha, tăng 1,9%; nuôi các loại thủy sản khác 890 ha, tăng 1,1%; ươm, nuôi giống thủy sản 4,5 ha, tăng 12,5%.
Hiện nay nuôi thủy sản lồng bè ở các địa phương phát triển nhờ hiệu quả kinh tế mang lại khá, do tận dụng mặt nước vùng đầm phá, sông ngòi, hồ thủy điện và một phần nguồn thức ăn tự chế của người nuôi. Số hộ nuôi lồng, bè 6 tháng đầu năm đạt 3.492 hộ, tăng 11% so cùng kỳ năm trước; số lồng, bè thả nuôi 6.845 lồng, tăng 12,5%; thể tích lồng, bè nuôi 145.100 m3, tăng 12%. 
Về sản xuất giống thủy sản, trong tháng 6/2019 đã sản xuất được 18,6 triệu con giống các loại, tăng 1,6% so cùng kỳ năm trước, nâng tổng số giống sản xuất 6 tháng đầu năm 2019 trên địa bàn tỉnh ước đạt 129,2 triệu con, tăng 3,9%, trong đó tôm sú giống 80,5 triệu con, tăng 4,4%; cá giống các loại 46,7 triệu con, tăng 3,3%; cua, ếch giống 2 triệu con bằng cùng kỳ.
Tháng 6/2019 sản lượng thủy sản nuôi trồng thu hoạch ước đạt 2.804 tấn, tăng 7,6% so cùng kỳ năm trước, trong đó cá các loại 1.833 tấn, tăng 3%; tôm các loại 773 tấn, tăng 22,5%, chia ra tôm sú 140 tấn, tăng 6,1%, tôm thẻ chân trắng 583 tấn, tăng 29,3%, tôm khác 50 tấn, tăng 4,2%; thủy sản khác 198 tấn, tăng 1,5%. Nâng sản lượng thủy sản nuôi trồng 6 tháng đầu năm 2019 ước đạt 6.466 tấn, tăng 9,1% so cùng kỳ năm trước, chia ra sản lượng cá 4.089 tấn, tăng 3,9%; tôm các loại 2.024 tấn, tăng 23%, trong đó tôm sú 196 tấn, tăng 5,9%; tôm thẻ chân trắng 1.768 tấn, tăng 25,9%; thủy sản khác 353 tấn, tăng 2%.  
Thời tiết 6 tháng đầu năm 2019 thuận lợi cho việc khai thác hải sản biển. Sản lượng thủy sản khai thác tháng 6/2019 ước đạt 4.988 tấn, tăng 3,2% so cùng kỳ năm trước, chia ra khai thác biển 4.415 tấn, tăng 3,7%; khai thác nội địa 573 tấn, giảm 0,5%. Nâng sản lượng khai thác thủy sản 6 tháng đầu năm 2019 ước đạt 21.021 tấn, tăng 3,6% so cùng kỳ năm trước, trong đó khai thác biển 19.100 tấn, chiếm tỷ trọng 90,9% tổng số, tăng 4%; khai thác nội địa 1.921 tấn, chiếm tỷ trọng 9,1%, giảm 0,5%. 
Tính chung sản lượng thủy sản nuôi trồng và khai thác sáu tháng đầu năm 2019 đạt 27.487 tấn, tăng 4,84% so cùng kỳ năm trước.
6. Sản xuất công nghiệp
Sáu tháng đầu năm 2019, tình hình kinh tế thế giới diễn biến phức tạp với các yếu tố rủi ro và thách thức gia tăng trong hoạt động thương mại và đầu tư. Kinh tế trong nước chuyển biến tích cực, tuy nhiên hoạt động xuất khẩu khẩu một số mặt hàng chủ yếu có chậm lại. Trên địa bàn tỉnh, sản xuất công nghiệp giữ ổn định, các doanh nghiệp chủ lực tiếp tục duy trì sản xuất ở mức khá, đảm bảo kế hoạch đề ra; các ngành sản phẩm chủ lực truyền thống của tỉnh giữ mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ như sản xuất bia, sản xuất vỏ lon nhôm, sản xuất men frit, sản xuất gạch men, đóng mới xe ô tô. 
Ngày 29/5/2019, UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 132/KH-UBND về Thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp cụ thể để giảm chi phí tuân thủ pháp luật (chỉ số B1); nâng xếp hạng chỉ số B1; chỉ số Giải quyết tranh chấp hợp đồng, chỉ số Phá sản doanh nghiệp; tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trên địa bàn tỉnh. 
Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 6/2019 tăng 1,53% so với tháng trước, tăng 10,52% so cùng kỳ năm trước; chỉ số sản xuất công nghiệp quý II tăng 27,05% so với quý trước và tăng 8,93% so với quý II năm trước. Đưa chỉ số sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm 2019 tăng 9,38% so với cùng kỳ năm 2018. Trong đó công nghiệp khai khoáng tăng 6,86%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,94%; sản xuất và phân phối điện, nước đá tăng 15,35%; cấp nước và thu gom rác thải tăng 6,58%.
Chỉ số sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm 2019 có mức tăng cao hơn mức tăng 6,85% của 6 tháng đầu năm 2018, nguyên nhân là do sản lượng điện sản xuất năm trước sụt giảm. Bên cạnh đó, trong sáu tháng đầu năm nay có một số năng lực tăng thêm bổ sung từ một số nhà máy sản xuất men frit, vỏ lon nhôm, gạch men được nâng công suất vào những tháng cuối năm 2018 và một số nhà máy mới đưa vào hoạt động: Nhà máy sản xuất thủy tinh của Công ty Vico silica; Nhà máy sản xuất khoáng Cristobalite của Công ty Phenikaa; Nhà máy sợi Phú Quang; Nhà máy điện năng lượng mặt trời hoạt động từ cuối năm 2018. Tuy nhiên, trong 6 tháng đầu năm một số năng lực sản xuất chủ yếu của tỉnh đang có xu hướng giảm như xi măng; chế biến thực phẩm. Một số nhà máy thủy điện mới đưa vào vận hành trong những tháng đầu năm nhưng không đủ nguồn nước để hoạt động, cũng phần nào ảnh hưởng đến năng lực tăng thêm ngành công nghiệp trên địa bàn. 
Một số ngành công nghiệp 6 tháng đầu năm có chỉ số sản xuất tăng cao so với cùng kỳ: Khai thác đá tăng 6,86%; sản xuất bia tăng 12,88%; sản xuất sợi tăng 7,22%; sản xuất dăm gỗ tăng 14,69%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 21,59%; sản xuất các sản phẩm từ cao su và plastic tăng 11,30%; sản xuất thuốc hóa dược và dược liệu tăng 10,20%; sản xuất vật liệu xây dựng từ đất sét tăng 72,68%; sản xuất men frit tăng 46,99%; sản xuất vỏ lon nhôm tăng 42,30%; sản xuất giường tủ bàn ghế tăng 29,78%; sản xuất và phân phối điện tăng 15,35%; cấp nước tăng 6,62%; thu gom rác thải tăng 9,14%.
Sản xuất dăm gỗ sau nhiều năm có mức tăng trưởng thấp và âm, trong những tháng đầu năm nay tốc độ tăng trưởng ngành này đạt khá nhờ các công ty đã chủ động làm tốt khâu thị trường đầu ra và tìm kiếm các nguồn đầu vào để cung ứng cho các bộ phận sản xuất. Sản xuất cao su tiếp tục đạt mức tăng trưởng cao là nhờ thị trường xuất khẩu vào các nước lớn như Ấn Độ, Trung Quốc gia tăng, ngoài ra giá mũ cao su tuy không cao bằng những năm trước nhưng ổn định và đang có xu hướng tăng nhẹ trong những tháng đầu năm 2019 làm cho việc thu mua nguyên liệu của các nhà máy có nhiều thuận lợi. 
Một số ngành có chỉ số sản xuất 6 tháng đầu năm 2019 giảm so với cùng kỳ: Chế biến bảo quản thủy sản giảm 1,79%; sản xuất các loại bánh từ bột giảm 0,52%; sản xuất da và các sản phẩm liên quan giảm 0,65 %; sản xuất xi măng giảm 9,21%; sản xuất công nghiệp khác giảm 18,32%; sửa chữa, bảo dưỡng máy móc thiết bị giảm 18,32%.
Ngành sản xuất xi măng trong những năm trở lại đây chịu sự cạnh tranh gay gắt của các thương hiệu lớn ngay trên địa bàn, trong lúc đó việc tiếp cận các thị trường ngoài tỉnh là rất khó khăn nên các doanh nghiệp có xu hướng giảm dần khối lượng sản xuất. Ngành chế biến thủy sản trên địa bàn tăng trưởng chậm và đang có xu hướng giảm do các công ty đang khó khăn khâu đầu ra, thị trường xuất khẩu bị thu hẹp, giá xuất khẩu giảm ảnh hưởng lớn đến tình hình sản xuất của các doanh nghiệp. 
Các sản phẩm công nghiệp ước 6 tháng đầu năm tăng so với cùng kỳ: Đá xây dựng đạt 333,1 ngàn m3, tăng 21,77%; bia đóng chai 45,2 triệu lít, tăng 9,49%; bia đóng lon 65,1 triệu lít, tăng 14,11%; sợi các loại 44,2 ngàn tấn, tăng 7,22%; quần áo lót 172,0 triệu cái, tăng 3,91%; túi xách 956,1 ngàn cái, tăng 8,0%; dăm gỗ 277 ngàn tấn, tăng 14,69%; thùng hộp bằng bìa cứng 5.355 ngàn chiếc, tăng 31,51%; cao su tổng hợp 2.474 tấn, tăng 13,64%; thuốc kháng sinh dạng viên 28,2 triệu viên, tăng 12,43%; gạch men 7,1 triệu m2, tăng 72,68%; men frit 116,8 ngàn tấn, tăng 46,99%; xe ô tô 75 chiếc, tăng 11,94%; vỏ lon nhôm 6,3 nghìn tấn, tăng 42,30%; điện sản xuất 479 trkwh, tăng 18,89%; điện thương phẩm 880,8 trkw, tăng 8,93%; nước máy 25 triệu m3, tăng 6,62%.
Các sản phẩm công nghiệp ước 6 tháng đầu năm giảm so với cùng kỳ: Tôm đông lạnh đạt 2,4 nghìn tấn, giảm 1,79%; bánh làm từ bột khác 1,8 tấn, giảm 0,52%; in ấn 512,3 triệu trang, giảm 0,13%; xi măng portland đen 1.168,1 ngàn tấn, giảm 9,21%; hương vòng 7.010 ngàn vòng, giảm 18,32%.
7. Thương mại, dịch vụ
Sáu tháng đầu năm 2019, tình hình giá cả hàng hóa và dịch vụ trên địa bàn ổn định, một số doanh nghiệp lớn được đầu tư xây dựng và đi vào hoạt động hiệu quả như Trung tâm thương mại Vincom Plaza Huế với sự góp mặt của chuỗi siêu thị Vinmarrt, Vinpro, đáp ứng nhu cầu mua sắm đa dạng của người dân địa phương và du khách; các mô hình kinh doanh theo chuỗi xuất hiện thu hút được nguồn lực đầu tư. Các doanh nghiệp thường xuyên mở rộng đưa hàng về nông thôn, vùng sâu, vùng xa và các khu công nghiệp,.. tổ chức các chương trình bán hàng khuyến mại. Sáu tháng đầu năm, nhiều lễ hội  văn hóa, thể thao và du lịch diễn ra, đặc biệt là Festival Nghề truyền thống Huế 2019 với qui mô được nâng lên mang tầm quốc tế đã thu hút lượng lớn du khách; đồng thời mở rộng không gian văn hóa nghệ thuật với việc đưa vào hoạt động Đường đi bộ trên sông Hương, kết nối đường hoa Lê Lợi cùng các tuyến phố đi bộ khác. Nhờ đó, hoạt động thương mại, dịch vụ và vận tải trên địa bàn đạt được kết quả tích cực.
a. Bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 6/2019 ước đạt 3.543,4 tỷ đồng, tăng 1,89% so với tháng trước và tăng 11,37% so với cùng kỳ năm trước. Xét theo ngành hàng, doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 6/2019 ước đạt 2.728,0 tỷ đồng, chiếm 77,0%, tăng 0,93% so với tháng trước và tăng 11,47% so với cùng kỳ năm trước; nguyên nhân tăng so với tháng trước do nhu cầu tiêu dùng một số hàng hóa tăng như: vật liệu xây dựng tăng 4,54% do đang vào mùa xây dựng; ô tô các loại tăng 4,33% do các hãng đại lý ôtô trên địa bàn triển khai chương trình khuyến mãi nhằm kích cầu tiêu dùng; may mặc tăng 3,49% do nhu cầu may mặc dịp hè du lịch tăng. Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống đạt 617,7 tỷ đồng, chiếm 17,43%, tương ứng tăng 6,13% và tăng 11,94%; doanh thu dịch vụ du lịch lữ hành đạt 17,6 tỷ đồng, chiếm 0,5%, tăng 11,13% và tăng 11,80%; doanh thu dịch vụ khác 180,1 tỷ đồng, chiếm 5,08%, tăng 1,79% và tăng 8,05%.
Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa doanh thu dịch vụ tiêu dùng sáu tháng đầu năm 2019 đạt 20.840,5 tỷ đồng, tăng 11,20% so với cùng kỳ năm trước (nếu loại trừ yếu tố trượt giá thì còn tăng 8,79), trong đó kinh doanh bán lẻ hàng hóa đạt 16.156,6 tỷ đồng, chiếm 77,53% tổng số và tăng 11,41%; dịch vụ lưu trú và ăn uống đạt 3.523,9 tỷ đồng, chiếm 16,91% và tăng 11,05%; du lịch lữ hành  97,4 tỷ đồng, chiếm 0,47% và tăng 9,15%; dịch vụ khác 1.062,6 tỷ đồng, chiếm 5,1% và tăng 8,72%. 
b. Vận tải hành khách và hàng hóa 
Vận tải hành khách tháng 6/2019 ước đạt 2.036,6 nghìn lượt khách và 101,6 triệu lượt khách.km, tăng 0,9% về lượt khách và tăng 0,56% về lượt khách.km so với tháng trước; tăng 6,68% về lượt khách và tăng 5,79% về lượt khách.km so cùng kỳ năm trước.
Dự ước vận tải hành khách sáu tháng đầu năm 2019 đạt 12.192,6 nghìn hành khách, tăng 10,12% và 612,5 triệu hành khách.km, tăng 10,89% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vận tải hành khách đường bộ ước đạt 11.776,3 nghìn hành khách, tăng 10,71% và 610,6 nghìn hành khách.km, tăng 10,94%.
Vận tải hàng hóa tháng 6/2019 ước đạt 1.025,3 nghìn tấn và 91,4 triệu tấn.km, tăng 2,24% về tấn và tăng 2,25% về tấn.km so với tháng trước; tăng 11,15% về tấn và tăng 13,19% về tấn.km so cùng kỳ năm trước.
Dự ước vận tải hàng hóa sáu tháng đầu năm 2019 đạt 5.828,9 nghìn tấn, tăng 10,11% và 506,2 nghìn tấn.km, tăng 8,83% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vận tải hàng hóa đường bộ đạt 5.777,4 nghìn tấn, tăng 10,36% và 455,1 triệu tấn.km, tăng 9,47%; đường biển đạt 43,1 nghìn tấn, tăng 2,99% và 51,0 triệu tấn.km, tăng 3,63%.
Sáu tháng đầu năm 2019, hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ đường biển của Cảng Chân Mây diễn ra thuận lợi, doanh thu đạt cao hơn cùng kỳ năm trước và dự kiến trong năm 2019 này sẽ thu hút hơn 40 du thuyền cập cảng. 
Doanh thu vận tải, bốc xếp tháng 6/2019 ước đạt 242,7 tỷ đồng, tăng 2,01% so với tháng trước và tăng 14,69% so cùng kỳ năm trước. Đưa doanh thu vận tải, bốc xếp sáu tháng đầu năm 2019 ước đạt 1.379,1 tỷ đồng, tăng 12,23% so với cùng kỳ năm trước, trong đó đường bộ đạt 1.295,9 tỷ đồng, tăng 11,79%; đường biển đạt 80,6 tỷ đồng tăng 20,95%. Chia theo loại hình dịch vụ vận tải, doanh thu vận tải hành khách đạt 362,7 tỷ đồng, tăng 11,0%; vận tải hàng hóa đạt 916,32 tỷ đồng, tăng 12,06%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 100,1 tỷ đồng, tăng 18,65%.
c. Lượt khách các cơ sở lưu trú phục vụ và du lịch lữ hành
Trong 6 tháng đầu năm 2019, UBND tỉnh Thừa Thiên Huế đã ban hành Kế hoạch số 208/KH-UBND về triển khai Chương trình trọng điểm phát triển du lịch-dịch vụ năm 2019 nhằm tiếp tục đưa Du lịch Thừa Thiên Huế trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, xứng tầm là trung tâm du lịch lớn của cả nước và khu vực; từng bước xây dựng thương hiệu du lịch “Huế - Kinh đô của lễ hội và ẩm thực”. Tháng 02/2019 tỉnh Thừa Thiên Huế đăng cai tổ chức thành công Hội nghị về phát triển Du lịch miền Trung và Tây Nguyên, cùng với việc trưng bày các gian hàng triển lãm, quảng bá du lịch của 19 tỉnh, thành phố miền Trung và Tây Nguyên đã đem lại nhiều kết quả quan trọng. 
Dự ước lượt khách cơ sở lưu trú phục vụ tháng 6/2019 đạt 195,2 nghìn lượt khách, tăng 12,26% so với tháng trước và tăng 5,42% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: Lượt khách ngủ qua đêm đạt 169,7 nghìn lượt khách, tương ứng tăng 11,44% và tăng 5,07%; lượt khách trong ngày đạt 25,5 nghìn lượt khách, tăng 17,98% và tăng 7,81%. 
Trong tổng số lượt khách ngủ qua đêm tháng 6/2019, lượt khách quốc tế ước đạt 72,6 nghìn lượt khách, giảm 1,24% so với tháng trước và tăng 6,47% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách trong nước đạt 97 nghìn lượt khách, tương ứng tăng 23,3% và tăng 4,04%. 
Lượt khách do các cơ sở lưu trú phục vụ sáu tháng đầu năm 2019 ước đạt 1.151,3 nghìn lượt khách, tăng 6,51% so cùng kỳ năm trước, trong đó lượt khách ngủ qua đêm đạt 1.023,6 nghìn lượt khách, tăng 6,34%; lượt khách trong ngày đạt 127,7 nghìn lượt khách, tăng 7,82%. 
Trong tổng số lượt khách ngủ qua đêm sáu tháng đầu năm, khách quốc tế ước đạt 546,3 nghìn lượt khách, tăng 9,39% so với cùng kỳ; lượt khách trong nước đạt 477,3 nghìn lượt khách, tăng 3,06%.
Ngày khách cơ sở lưu trú phục vụ tháng 6/2019 ước đạt 343 nghìn ngày khách, tăng 12,56% so với tháng tháng trước và tăng 4,43% so với cùng kỳ năm trước, chia ra ngày khách quốc tế đạt 156 nghìn ngày khách, tương ứng giảm 1,04% và tăng 5,66%; ngày khách trong nước 187 nghìn ngày khách, tăng 27,13% và tăng 3,43%. Đưa tổng ngày khách cơ sở lưu trú phục vụ sáu tháng đầu năm 2019 ước đạt 2.016,2  nghìn ngày, tăng 5,73% so cùng kỳ năm trước; trong đó, ngày khách quốc tế 1.132,9 nghìn ngày, tăng 8,42%; ngày khách trong nước 883,2 nghìn ngày, tăng 2,47%.
Doanh thu của cơ sở lưu trú ước thực hiện tháng 6/2019 đạt 150,4 tỷ đồng, tăng 11,47% so với tháng trước và tăng 6,46% so cùng kỳ năm trước. Đưa doanh thu cơ sở lưu trú sáu tháng đầu năm 2019 đạt 878,3 tỷ đồng, tăng 8,06% so cùng kỳ năm trước.
Hoạt động du lịch lữ hành tháng 6/2019 ước tính lượt khách du lịch theo tour đạt 10,5 nghìn lượt, tăng 8,37% so với tháng trước và tăng 8,97% so cùng kỳ năm trước. Đưa tổng lượt khách theo tour sáu tháng đầu năm 2019 ước đạt 57,8 nghìn lượt, tăng 7,31% so với cùng kỳ năm trước. Dự ước ngày khách theo tour tháng 6/2019 đạt 21,6 nghìn ngày, tăng 5,82% so với tháng trước và tăng 9,02% so cùng kỳ năm trước. Đưa tổng ngày khách theo tour sáu tháng đầu năm đạt 121,6 nghìn ngày, tăng 8,07%.
8. Các vấn đề xã hội
a. Lao động việc làm
Thông qua việc phát triển và mở rộng các doanh nghiệp, làng nghề và các ngành nghề dịch vụ; sàn giao dịch việc làm và thực hiện  cho vay vốn giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động, trong sáu tháng đầu năm 2019 toàn tỉnh giải quyết việc làm mới cho 8.680 lao động, đạt 54,3% kế hoạch (trong đó: có 1.908 lao động được tuyển qua tư vấn và các phiên giao dịch việc làm tại sàn; 642 lao động có việc làm nhờ nguồn vốn vay giải quyết việc làm; 3.450 lao động được các doanh nghiệp tuyển dụng,…).
Từ đầu năm đến nay đã tổ chức 30 hội nghị tư vấn về xuất khẩu lao động tại các huyện, thị xã, thành phố, kết hợp với việc tổ chức  các phiên giao dịch việc làm kết nối cung - cầu lao động, qua đó đã tạo điều kiện cho 750 lao động đi làm việc nước ngoài theo hợp đồng, tăng hơn 300 lao động so với cùng kỳ năm 2018. Đã tiến hành giải quyết chế độ Bảo hiểm thất nghiệp cho 2.077 người với tổng số tiền 29,129 tỷ đồng (trong đó, chi hỗ trợ học nghề 342 triệu đồng). Cấp 66 giấy phép và giấy xác nhận miễn cấp giấy phép lao động người lao động nước ngoài làm việc trên địa bàn tỉnh, đưa số người lao động nước ngoài có giấy phép 221 người, số người thuộc diện xác nhận miễn cấp giấy phép lao động 72 người. Tổng số người lao động nước ngoài hiện đang làm việc trên địa bàn tỉnh là 293 người.
b. Chính sách - xã hội
Thực hiện Quyết định số 56/QĐ-CTN ngày 08/01/2019 của Chủ tịch Nước và Quyết định số 84/QĐ-UBND ngày 11/01/2019 của UBND tỉnh về việc tặng quà các đối tượng chính sách xã hội nhân dịp Tết Nguyên đán Kỷ Hợi  2019. Ủy ban nhân dân các cấp cùng các sở ngành trong tỉnh đã tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho các đối tượng thương binh, bệnh binh, người có công và các đối tượng khác 244.740 suất quà với tổng số tiền 59,7 tỷ đồng. 
Ủy ban nhân dân tỉnh cũng đã thăm, tặng quà cho các đồng chí cán bộ lão thành cách mạng, Bà mẹ VNAH, gia đình người có công, các đồng chí nguyên là lãnh đạo tỉnh, các cơ quan, đơn vị lực lượng vũ trang tiêu biểu và trích Quỹ Bảo trợ xã hội để hỗ trợ cho người lao động có hoàn cảnh khó khăn. Đối với trẻ em đặc biệt khó khăn đang được nuôi dưỡng tại các Trung tâm bảo trợ xã hội và trẻ em con hộ nghèo tại các địa phương cũng đã được Quỹ Bảo trợ trẻ em, các tổ chức hội đoàn thể và các địa phương tổ chức nhiều hoạt động thiết thực nhằm tạo điều kiện cho các em hưởng Tết vui tươi và đầm ấm.
Nhân dịp Kỷ niệm 44 năm ngày giải phóng quê hương Thừa Thiên Huế (26/3/1975 - 26/3/2019) và Ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2019), tỉnh Thừa Thiên Huế đã long trọng tổ chức Lễ truy tặng danh hiệu vinh dự nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” và trao tặng Huân chương Độc lập cho các gia đình có nhiều liệt sỹ đã cống hiến, hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đợt này, tỉnh Thừa Thiên Huế có 73 bà mẹ được truy tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” (nâng tổng số Bà mẹ Việt Nam anh hùng của tỉnh lên 2.349 mẹ) và 16 gia đình thân nhân liệt sĩ được trao tặng Huân chương Độc lập hạng Ba.
Công tác giảm nghèo, trong 6 tháng đầu năm đã tổ chức giúp đỡ các xã có tỷ lệ hộ nghèo trên 25%. Triển khai chính sách giảm nghèo bền vững gắn với xuất khẩu lao động năm 2019. 
c. Giáo dục và đào tạo 
Giáo dục, tiếp tục tổ chức quán triệt chủ trương đổi mới  giáo dục theo Nghị quyết 29/NQ-TW của BCH Trung ương và các Chỉ thị của Bộ, của tỉnh về nhiệm vụ trọng tâm năm học 2018-2019:
Toàn tỉnh, hiện có 585 trường mầm non và phổ thông gồm: Mầm non có 204 trường; Tiểu học 210 trường; THCS 133 trường; THPT 38 trường; có 9 trung tâm GDNN-GDTX cấp huyện và 1 trung tâm GDTX Tỉnh. Học sinh toàn tỉnh có 264.293 học sinh mầm non và phổ thông gồm: Mầm non có 66.805 trẻ; Tiểu học 93.169 học sinh; THCS 67.382 học sinh và THPT 36.937 học sinh. 
Kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh năm học 2018-2019 có 2.657 học sinh tham dự (giảm 79 em so với năm trước) và đã có 1.117 học sinh đạt giải (tăng 335 giải), trong đó có 38 học sinh đạt giải Nhất (tăng 19 em so với năm trước).
Kỳ thi học sinh giỏi THPT cấp quốc gia năm 2019 tại Thừa Thiên Huế, kết quả đạt 52 giải (3 giải nhất, 11 giải Nhì, 16 giải Ba và 22 giải Khuyến khích). 
Học sinh Lê Công Minh Hiếu học lớp 11 Quốc Học đoạt huy chương Đồng Olympic Vật lý Châu Á.
Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Đại Học Huế đang gấp rút chuẩn bị cho kỳ thi tốt nghiệp THPT Quốc gia năm 2019 sẽ diễn ra trong 3 ngày 25-27/6/2019. Kỳ thi năm nay có 12.149 thí sinh đăng ký dự thi và gần 1.300 cán bộ coi thi ở 31 điểm thi với 519 phòng thi. Sở Giáo dục đã xây dựng và triển khai kế hoạch mua sắm, lắp đặt mới hệ thống camera giám sát phòng chứa đề thi, bài thi tại các điểm thi theo quy định.
Công tác dạy nghề, từ đầu năm đến nay đã tuyển sinh 6.958 học viên, đạt 46.63% so với kế hoạch (trong đó, cao đẳng: 70 học viên; trung cấp: 401 học viên; sơ cấp và dưới 3 tháng có 6.487 học viên). 
d. Tình hình y tế, dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm
Tháng 5/2019, toàn tỉnh có 26 ca mắc sốt xuất huyết, tăng 17 ca so cùng kỳ năm trước; 1 ca mắc viêm gan siêu trùng, giảm 3 ca; 4 ca mắc bệnh Tay-Chân-Miệng, tăng 3 ca; không có ca mắc liên cầu lợn, giảm 1 ca. Không có trường hợp tử vong. Không có ca mắc sốt rét, giảm 1 ca; không có ca mắc thương hàn và viêm não vi rút, bằng cùng kỳ năm trước. Tính từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh có 1 ca mắc sốt rét, giảm 3 ca so với cùng kỳ năm trước; 197 ca mắc sốt xuất huyết, tăng 179 ca; 13 ca mắc viêm gan siêu trùng, giảm 11 ca; 22 ca mắc bệnh Tay-Chân-Miệng, tăng 17 ca; không có ca mắc liên cầu lợn, giảm 3 ca. Không có trường hợp tử vong. Không có ca mắc thương hàn và viêm não vi rút, bằng cùng kỳ năm trước.
Tháng 5/2018, qua kiểm tra sàng lọc trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 10 ca nhiễm mới HIV, tăng 2 ca; có 1 trường hợp chuyển qua AIDS, không tăng không giảm so với cùng kỳ năm 2018; có 1 ca tử vong, tăng 1 ca. Từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 52 ca nhiễm mới HIV, tăng 10 ca; có 2 trường hợp chuyển qua AIDS, giảm 2 ca; có 3 ca tử vong, tăng 2 ca so cùng kỳ năm 2018. Hiện tại, trên địa bàn tỉnh có 370 bệnh nhân đang được quản lý và điều trị tại các cơ sở y tế, trong đó có 365 bệnh nhân điều trị ARV.
Tình hình ngộ độc thực phẩm: Từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh không xảy ra trường hợp ngộ độc thực phẩm, giảm 1 ca so với cùng kỳ năm 2018. 
e. Hoạt động văn hóa, thể thao 
Trong 6 tháng đầu năm 2019, trên địa bàn tỉnh đã có hơn 250 giải thể thao và lễ hội được tổ chức thu hút hơn 50 ngàn lượt người tham gia sôi nổi. Đã tổ chức các hoạt động mừng Đảng, mừng Xuân Kỷ Hợi 2019 với nhiều chương trình đặc sắc: Bắn pháo hoa; Hội hoa Xuân; Hội báo Xuân; Triễn lãm tranh; các chương trình nghệ thuật chào mừng năm mới và nhiều lễ hội truyền thống, vui chơi giải trí khác. Tháng 3, tổ chức Giải Karate miền Trung và Tây Nguyên lần IV năm 2019 với sự góp mặt của hơn 200 vận động viên nam, nữ đến từ 13 tỉnh, thành phố trong khu vực; tổ chức Giải khiêu vũ thể thao (Dance Sport) mở rộng lần thứ I với hơn 275 vận động viên từ 24 đoàn thi đấu 257 nội dung. Tháng 4, tổ chức Festival nghề truyền thống Huế lần thứ 8 năm 2019 với chủ đề "Tinh hoa nghề Việt"; diễn ra Lễ khai mạc và xuất phát chặng đua xe đạp thứ 4 “cầu Trường Tiền - cầu Phú Xuân” tranh Cúp truyền hình TP. Hồ Chí Minh “Non sông liền một dải” lần thứ 31; tổ chức hội thao “Thái cực trường sinh đạo” người cao tuổi tỉnh lần thứ I năm 2019; Tổ chức khởi tranh giải Suzucho Karatedo cúp các nhóm tuổi nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh tổ sư Choji-Suzuki. Tham gia nhiều giải thể thao khác trong nước. Tham gia thi đấu Giải vô địch Cờ vua trẻ châu Á tại Sri Lanca đạt 02 HCV, 01 HCB, 04 HCĐ; Giải vô địch Karate Đông Nam Á tại Băngkok - Thái Lan đạt 01 HCV, 02 HCB, 01 HCĐ; Giải Vô địch Taekwondo Đông Nam Á tại Philippine đạt 01 Huy chương Đồng. Đội bóng đá 15, U17, U19 tham dự vòng loại các giải trẻ Vô địch quốc gia. Đội Bóng đá Huế đang tham gia lượt đi giải hạng nhất quốc gia 2019, đạt được 13 điểm đang tạm xếp vị thứ 6.
Sáu tháng đầu năm 2019, các đoàn VĐV thể thao Thừa Thiên Huế tham gia các giải thể thao khu vực, trong nước và quốc tế đạt được 253 huy chương các loại (68 HCV, 81HCB, 104 HCĐ), trong đó có 12 huy chương quốc tế (03 HCV, 03 HCB, 06 HCĐ). 
f. Tai nạn giao thông( ), trật tự, an toàn xã hội 
Từ 16/5/2019 đến ngày 15/6/2019, trên địa bàn tỉnh xảy ra 96 vụ tai nạn và va chạm giao thông, tăng 63 vụ so với cùng kỳ năm trước, làm chết 21 người, tăng 15 người; bị thương 84 người, tăng 57 người. Trong đó, tai nạn đường bộ xảy ra 95 vụ, tăng 62 vụ so với cùng kỳ; làm chết 20 người, tăng 14 người; bị thương 84 người, tăng 57 người; tai nạn đường sắt xảy ra 1 vụ, tăng 1 vụ so với cùng kỳ; làm chết 1 người, tăng 1 người; không có người bị thương, không tăng không giảm so với cùng kỳ. 
Tính từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 412 vụ tai nạn và va chạm giao thông, tăng 69 vụ so với cùng kỳ năm trước; làm chết 104 người, tăng 25 người; bị thương 398 người, tăng 84 người. Trong đó, tai nạn đường bộ xảy ra 404 vụ, tăng 64 vụ so với cùng kỳ; làm chết 99 người, tăng 23 người; bị thương 396 người, tăng 82 người. Tai nạn đường sắt xảy ra 8 vụ, tăng 5 vụ; làm chết 5 người, tăng 2 người; bị thương 2 người, tăng 2 người. Tai nạn đường thủy không xảy ra, không tăng giảm so cùng kỳ.
Trong 6 tháng đầu năm trên địa bàn tỉnh không xảy ra các vụ việc nổi cộm về trật tự, an toàn xã hội.
g. Tình hình cháy nổ và bảo vệ môi trường
Trong tháng 5 đầu năm trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 8 vụ cháy, tăng 3 vụ so cùng kỳ năm 2018, giá trị thiệt hại 41,5 triệu đồng, không thiệt hại về người. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 31 vụ cháy, tăng 6 vụ so cùng kỳ năm 2018, có 3 trường hợp tử vong, giá trị thiệt hại 88,5 triệu đồng. 
Trong tháng 5 đầu năm đã phát hiện 27 vụ vi phạm môi trường, tăng 12 vụ so cùng kỳ 2018. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 78 vụ vi phạm môi trường, giảm 5 vụ, giảm 6% so cùng kỳ, đã tiến hành xử lý 66 vụ với tổng số tiền 276,45 triệu đồng. Các hình thức vi phạm chủ yếu là khai thác cát trái phép, xả nước thải chưa qua xử lý gây ô nhiễm, chặt phá rừng,... 
Khái quát lại, năm 2019 được xác định: Năm kỷ cương, kỷ luật hành chính. Năm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị”. Với tư duy đổi mới và sự điều hành quyết liệt ngay từ đầu năm trong thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế xã hội của các cấp, các ngành; sự nỗ lực vươn lên của cộng đồng doanh nghiệp và người sản xuất. Kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh 6 tháng đầu năm đạt được những kết quả tích cực trong tăng trưởng kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô, thu hút và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; đẩy mạnh công nghệ thông tin, đô thị thông minh và chính phủ điện tử; tạo diện mạo mới trong chỉnh trang đô thị, làm trong sạch cảnh quan, môi trường sinh thái cùng với việc thực hiện thường xuyên, nhân rộng các chương trình hành động thiết thực: “Ngày chủ nhật xanh – Hãy hành động để Thừa Thiên Huế thêm xanh - sạch - sáng” được Thủ tướng gửi Thư khen; xây dựng và đưa vào sử dụng Trung tâm Giám sát, điều hành đô thị thông minh đã bước đầu phát huy hiệu quả cao và đoạt giải “Dự án Thành phố thông minh sáng tạo nhất Châu Á” tại Telecom Asia Awards 2019. Công tác quảng bá, xúc tiến du lịch đạt được nhiều kết quả quan trọng, đặc biệt thành công của Hội nghị "Phát triển du lịch miền Trung và Tây Nguyên” tại Thừa Thiên Huế đem lại nhiều cơ hội trước mắt và lâu dài cho tỉnh. Các lĩnh vực xã hội duy trì ổn định và phát triển, nhất là trong các lĩnh vực y tế chuyên sâu; công tác an sinh xã hội đảm bảo, các đối tượng chính sách, hộ nghèo, cận nghèo được quan tâm chăm lo. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội giữ vững, trên địa bàn tỉnh không có những vụ việc nổi cộm. 
Tuy nhiên kinh tế trong tỉnh những tháng đầu năm vẫn còn đối mặt nhiều khó khăn, thách thức: Tiềm lực kinh tế của tỉnh chưa mạnh, chưa tạo được bức phá trong tăng trưởng do năng lực sản xuất mới tăng trong những năm qua còn hạn chế; các công trình, dự án đầu tư thực hiện trên địa bàn chủ yếu là qui mô nhỏ, một số dự án lớn chậm khởi công hoặc kéo dài tiến độ thi công. Trong khu vực nông lâm thủy sản chưa tạo được chuyển biến mạnh trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi nhằm tạo ra những nông sản có giá trị gia tăng cao, làm chuyển dịch cơ cấu sản phẩm, cơ cấu ngành; các dự án về nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sạch, nông nghiệp công nghệ cao chưa đầu tư đủ mạnh; doanh nghiệp phụ trợ công nghiệp phát triển chậm; tìm kiếm nguồn thu ngân sách còn khó khăn, dẫn đến dự toán thu ngân sách năm 2019 đặt ra thấp hơn so với số thực hiện năm trước.
Về đóng góp trong các ngành, lĩnh vực: Trong 6 tháng đầu năm 2019 năng lực tăng thêm và mới tăng trong lĩnh vực công nghiệp đóng góp khoảng 5,93% trong tăng trưởng 9,68% của ngành công nghiệp, bao gồm dây chuyền Bia Hà Nội chuyển về Huế đóng góp 0,44%; sản xuất sợi đóng góp 0,5%; may mặc đóng góp 0,72%; sản xuất vỏ lon nhôm đóng góp 0,42%; gạch men Phú Lộc đóng góp 0,91%; men Frit đóng góp 2,3%; điện Mặt trời đóng góp 0,49%; men ristobalite và thủy tinh Glass Vico đóng góp 0,15%. Năng lực tăng thêm và mới tăng trong khu vực dịch vụ đóng góp vào tăng trưởng 6 tháng đầu năm 2019 tập trung vào một số cơ sở đưa vào hoạt động trong 6 tháng cuối năm 2018, chủ yếu Trung tâm Thương mại Vincom Hùng Vương và Khách sạn 5 sao Vinpearl Huế và một số cơ sở dịch vụ du lịch nghỉ dưỡng khác, tuy nhiên mức độ đóng góp trong doanh thu ngành thương mại dịch vụ của các cơ sở này hiện nay chưa lớn, một số dự án lớn như Laguna giai đoạn 2, Minh Viễn giai đoạn 1 chậm hoàn thành. 
Trong năm 6 tháng cuối năm 2019 dự kiến có những năng lực mới tăng thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển: Dự án phức hợp Manor Crown; Khu du lịch Về Nguồn; Dự án Goldland Plaza; Trung tâm tiệc cưới Sen Trắng; Khách sạn Thuận Hóa; Khu nghỉ dưỡng nước khoáng nóng Mỹ An giai đoạn I; các nhà máy thủy điện A Lin B1, A Lin B2, Rào Trăng 3; Dự án Movenpic Resort Lăng Cô; Nhà máy men Frit Phú Sơn; Mở rộng Nhà máy sợi Phú An; Mở rộng dây chuyền sợi Phú Bài 1;…Ngoài ra một số năng lực tăng thêm cuối năm 2018 sẽ đóng góp vào tăng trưởng năm 2019 trong các ngành sản xuất bia; điện mặt trời, men Ferit; gạch granit; cao su; dệt may; gỗ; vỏ lon nhôm và một số trung tâm thương mại và dịch vụ du lịch nghỉ dưỡng cũng đang phát huy hiệu quả. Tuy nhiên kinh tế xã hội trên địa bàn 6 tháng cuối năm dự báo có những diễn biến khó lường do tăng trưởng ngành sản xuất xi măng, chế biến hải sản khó phục hồi (6 tháng đầu năm 2 ngành này làm giảm hơn 1 điểm % trong tăng trưởng 9,68% của ngành công nghiệp); tình trạng dịch tả lợn Châu Phi tiếp tục gia tăng trên diện rộng; tình trạng hạn hán thiếu nước ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và vận hành thủy điện,…Ngoài ra, những tác động của cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung có thể ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động xuất nhập khẩu của tỉnh./.

Gửi bởi    

HỆ THỐNG TÊN MIỀN MẠNG GSO
MÁY CHỦ TÊN MIỀN .GSO:
Chính:       10.0.1.1
Dự phòng: 10.0.1.2
  • Góc người dùng
Tên đăng nhập:
Mật khẩu:



Bạn đang dùng -

IP:18.208.132.33

Thống kê

Lượt truy cập  15148
Đang trực tuyến   7