MyLabel

Tình hình kinh tế xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế tháng 10 năm 2019

10/29/2019
                                                    TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI 
                                                          THÁNG 10 NĂM 2019

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
a. Sản xuất nông nghiệp
Sản xuất nông nghiệp tháng 10/2019 tập trung chủ yếu thu hoạch cây hàng năm khác vụ mùa. Diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ mùa năm 2019 ước đạt 1.457 ha, giảm 7,64% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chủ yếu là giảm diện tích lúa mùa (lúa nương rẫy) tập trung toàn bộ tại huyện vùng cao A Lưới với diện tích đạt 449 ha, giảm 30,82%, nguyên nhân giảm là do thời tiết nắng nóng kéo dài không thể thực hiện khâu làm đất và gieo trồng.
Chăn nuôi: Tính đến 15/10/2019 bệnh dịch tả lợn Châu Phi đang xảy ra trên đàn lợn của 9/9 huyện, thị, thành phố toàn tỉnh. Tổng số lợn mắc bệnh đã tiêu hủy là 69,2 nghìn con với tổng trọng lượng 4.088 tấn. Hiện có 26 xã thuộc 6 huyện có dịch đã qua 30 ngày nhưng không phát sinh thêm ổ dịch mới và có 30 xã thuộc 7 huyện có dịch đã qua 30 ngày nhưng sau đó lại phát sinh lợn bệnh.
Tính đến thời điểm 01/10/2019, tổng đàn lợn toàn tỉnh ước đạt 64.902 con, giảm 63,70% so cùng kỳ năm trước. Tình hình chăn nuôi nuôi lợn tiếp tục gặp nhiều khó khăn do bệnh dịch tả lợn châu Phi, số lượng lợn mắc bệnh tiêu hủy chiếm 40,40% so với tổng đàn lợn đầu năm thời điểm 01/01/2019. Giá lợn hơi hiện đang tăng cao nhưng chăn nuôi hộ cá thể và gia trại chưa mạnh dạn tái đàn vì lo ngại rủi ro bệnh dịch. 
Tổng đàn trâu toàn tỉnh thời điểm 01/10/2019 ước đạt 20.692 con, giảm 0,74% so cùng kỳ năm trước; đàn bò 33.683 con, giảm 1,91%. Nguyên nhân chủ yếu đàn trâu, bò giảm là do hiện nay đồng cỏ chăn nuôi bị thu hẹp, lao động chăn nuôi ngày càng giảm và dự án khuyến nông ở một số huyện đã kết thúc. 
Đàn gia cầm thời điểm 01/10/2019 ước đạt 3.859,9 nghìn con, tăng 4,17% so cùng kỳ năm trước, trong đó đàn gà 3.130,5 nghìn con, tăng 6,40%. Chăn nuôi gia cầm, nhất là chăn nuôi gà hiện nay có nhiều thuận lợi đem lại hiệu quả kinh tế cao, dịch bệnh không xảy ra, công tác tiêm phòng thú y, vệ sinh môi trường chăn nuôi được chú trọng. Tuy nhiên, giá thịt gà từ đầu tháng 10/2019 giảm liên tục nên người chăn nuôi có tâm lý lo ngại và thận trọng trong tái đàn.
Công tác tiêm phòng đàn gia súc, gia cầm vụ thu tính đến 15/10/2019 đã tiêm 6.400 liều vắc xin tụ huyết trùng trâu bò đạt 43% kế hoạch; 36.554 liều vắc xin tam liên lợn đạt 59% kế hoạch; 3.120 liều vắc xin VX +KT E.coli đạt 28% kế hoạch; 518.400 liều vắc xin cúm gia cầm đạt 62% kế hoạch; 452.350 liều vắc xin dịch tả vịt đạt 86% kế hoạch; 32.440 liều vắc xin Newcastle gà đạt 26% kế hoạch; 108.090 liều vắc xin Lasota+Newcastle đạt 38% kế hoạch; 5.970 liều vắc xin tụ huyết trùng gia cầm đạt 28% kế hoạch; 37.300 liều vắc xin đậu gà đạt 35% kế hoạch; 96.100 liều vắc xin VX+KT Gumboro đạt 32% kế hoạch; 43.115 liều lở mồm long móng trâu bò đạt 89% kế hoạch.
b. Lâm nghiệp
Sản xuất lâm nghiệp tháng 10/2019 chủ yếu tập trung khai thác gỗ rừng trồng. Ước tính sản lượng gỗ rừng trồng khai thác trong tháng đạt 45.290 m3, tăng 3,38% so cùng kỳ năm trước; sản lượng củi khai thác đạt 6.842 ster, tăng 1,36%. Tính chung mười tháng đầu năm 2019, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 551.213 m3, tăng 4,92% so với cùng kỳ năm trước, toàn bộ là gỗ rừng trồng; sản lượng củi khai thác đạt 239.556 ster, tăng 0,85%. Thời tiết đang vào mùa mưa thuận lợi cho việc trồng rừng, rừng trồng tập trung tháng 10/2019 ước đạt 540 ha, tăng 5,88% so với cùng kỳ. Lũy kế mười tháng đầu năm, diện tích rừng trồng tập trung ước đạt 4.128 ha, tăng 3,33% so cùng kỳ năm trước, toàn bộ là rừng sản xuất.
Trong tháng 10/2019 đã xảy ra 3 vụ phá rừng làm nương rẫy với diện tích bị phá là 1 ha. Tính từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh đã xảy ra 46 vụ phá rừng, tăng 12 vụ so với cùng kỳ, với diện tích bị phá 9,4 ha, giảm 0,9 ha; cháy rừng xảy ra 30 vụ, tăng 23 vụ so cùng kỳ năm trước, với diện tích rừng bị cháy 154,9 ha, tăng 151,9 ha. Nguyên nhân cháy chủ yếu là do thời tiết nắng nóng gay gắt với nền nhiệt cao kết hợp gió Tây Nam thổi mạnh đã gây cháy lan trên diện rộng. Đồng thời, việc xử lý thực bì thiếu kiểm soát; đạn lân tinh tự phát nổ trong điều kiện nắng nóng; đốt hương, vàng mã không đúng nơi quy định cũng là nguyên nhân chính gây cháy rừng trên địa bàn. 
c. Thủy sản
Tình hình nuôi trồng thủy sản: Diện tích nuôi trồng thủy sản tháng 10/2019 ước đạt 819 ha, tăng 3,02% so cùng kỳ năm trước, trong đó nuôi nước lợ 779,5 ha, chiếm 95,18% tổng diện tích thả nuôi, tăng 3,25%; nuôi nước ngọt 39,5 ha, chiếm 4,82%, giảm 1,25%. Trong nuôi nước lợ, diện tích nuôi cá 82,5 ha, tăng 1,85%; nuôi tôm 663 ha, tăng 3,43%, trong đó tôm sú 609 ha, tăng 3,57%, tôm thẻ chân trắng 36 ha, tăng 2,86%; diện tích nuôi các loại thủy sản khác 34 ha, tăng 3,03% so cùng kỳ. Lũy kế tổng diện tích nuôi trồng thủy sản mười tháng đầu năm 2019 ước đạt 6.826 ha, tăng 2,32% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm diện tích nuôi nước lợ 4.937 ha, tăng 3,33%; nuôi nước ngọt 1.889 ha, giảm 0,21%. 
Về sản xuất giống thủy sản, trong tháng 10/2019 sản xuất được 6,1 triệu con giống, tăng 3,39% so cùng kỳ năm trước, trong đó tôm sú giống 1,5 triệu con, tăng 7,14%; cá giống 4,6 triệu con, tăng 2,22%. Lũy kế mười tháng đầu năm 2019 số giống sản xuất ước đạt 168,7 triệu con, tăng 3,69% so cùng kỳ năm trước, trong đó tôm sú giống 91,5 triệu con, tăng 4,45%; cá giống 75,2 triệu con, tăng 2,87%, giống thủy sản khác 2 triệu con, bằng cùng kỳ, toàn bộ số giống sản xuất chủ yếu cung cấp cho các cơ sở nuôi trên địa bàn tỉnh.  
Sản lượng thủy sản nuôi trồng thu hoạch tháng 10/2019 ước đạt 1.439 tấn, tăng 4,73% so với cùng kỳ năm trước; trong đó sản lượng cá 990 tấn, tăng 4,21%; tôm các loại 360 tấn, tăng 6,19%; thủy sản khác 89 tấn, tăng 4,71%. Lũy kế sản lượng thủy sản nuôi trồng mười tháng đầu năm 2019 ước đạt 14.642 tấn, tăng 4,46% so cùng kỳ năm trước, trong đó cá các loại 8.702 tấn, tăng 3,84%; tôm các loại 4.935 tấn, tăng 5,97%; thủy sản khác 1.005 tấn, tăng 2,55%.
Tình hình khai thác hải sản: Sản lượng khai thác tháng 10/2019 ước đạt 3.300 tấn, tăng 3,16% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khai thác biển 2.905 tấn, tăng 3,68%; khai thác nội địa 395 tấn, giảm 0,50%. Lũy kế sản lượng khai thác mười tháng đầu năm 2019 ước đạt 36.118 tấn, tăng 3,63% so cùng kỳ năm trước, trong đó khai thác biển 32.750 tấn, tăng 4,08%; khai thác nội địa 3.368 tấn, giảm 0,56%.
Tính chung sản lượng thủy sản nuôi trồng và khai thác mười tháng đầu năm 2019 ước đạt 50.760 tấn, tăng 3,87% so cùng kỳ năm trước.
2. Sản xuất công nghiệp
Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 10/2019 tăng 6,58% so với tháng trước và tăng 6,33% so cùng kỳ năm trước. Tính chung mười tháng đầu năm 2019, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 7,74% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 3,44%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,17%; sản xuất, phân phối điện, nước đá tăng 15,10%; cấp nước và thu gom rác thải tăng 6,90%. Nguyên nhân chỉ số sản xuất công nghiệp mười tháng đầu năm 2019 tăng khá là do một số nhà máy sản xuất đã được nâng công suất vào những tháng cuối năm 2018 và phát huy trong những tháng đầu năm 2019. Ngoài ra, trong những tháng đầu năm 2019 trên địa bàn đã có một số nhà máy mới đưa vào hoạt động. Tuy nhiên, mức tăng IIP mười tháng đầu năm chưa cao so với kế hoạch đề ra do sản xuất một số sản phẩm chính của tỉnh như xi măng, chế biến thủy sản đang có xu hướng giảm.
Các ngành có chỉ số sản xuất mười tháng đầu năm 2019 tăng so với cùng kỳ năm trước: Ngành khai thác đá tăng 3,44%; sản xuất bia tăng 10,41%; sản xuất sợi tăng 5,95%; may mặc tăng 6,61%; sản xuất da và các sản phẩm từ da tăng 8,43%; chế biến dăm gỗ tăng 26,07%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 16,45%; in ấn tăng 9,51%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 11,34%; sản xuất tân dược tăng 11,56%; sản xuất gạch ngói tăng 20,21%; sản xuất xi măng, vôi, thạch cao tăng 3,94%; sản xuất vi tính và các thiết bị ngoại vi tăng 20,82%; sản xuất vỏ lon nhôm tăng 41,44%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 10,13%; sản xuất và phẩn phối điện tăng 15,10%, trong đó, điện sản xuất tăng 20,67%; cấp nước tăng 7,75%; thu gom rác thải tăng 5,10%.
Các ngành có chỉ số sản xuất mười tháng đầu năm 2019 giảm so với cùng kỳ: Chế biến thủy sản giảm 8,87%; sản xuất các loại bánh từ bột giảm 0,29%; sản xuất ô tô giảm 14,84%; đóng tàu và cấu kiện nổi giảm 62,54%. 
Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu có mức sản xuất trong mười tháng đầu năm 2019 tăng khá so cùng kỳ năm trước: Đá xây dựng khác ước đạt 623,6 nghìn tấn, tăng 13,88%; bia đóng chai 83,0 triệu lít, tăng 11,52%; bia đóng lon 120,9 triệu lít, tăng 10,03%; sợi các loại 75,0 nghìn tấn, tăng 5,95%; quần áo lót 292,6 triệu cái, tăng 6,61%; túi xách 1,8 triệu cái, tăng 28,60%; dăm gỗ 507,5 ngàn tấn, tăng 26,07%; thùng, hộp bằng bìa cứng 8,6 triệu chiếc, tăng 24,34%; sản phẩm in 894,9 triệu trang, tăng 9,51%; phân NPK 22,1 nghìn tấn, tăng 3,34%; phân vi sinh 12,4 nghìn tấn, tăng 8,24%; cao su tổng hợp 4,9 nghìn tấn, tăng 12,81%; thuốc kháng sinh dạng viên 50,2 triệu viên, tăng 13,21%; thuốc mỡ 78,5 tấn, tăng 7,35%; men frit 206,9 nghìn tấn, tăng 35,71%; gạch men 11,7 triệu m2, tăng 20,21%; vỏ lon nhôm 11,3 tấn, tăng 41,44%; điện sản xuất 796,1 triệu kwh, tăng 20,67%; điện thương phẩm 1.544,9 triệu kwh, tăng 5,94%; nước máy 44,3 triệu m3, tăng 7,75%.
Các sản phẩm công nghiệp chủ yếu có mức sản xuất mười tháng đầu năm 2019 giảm so cùng kỳ: Đá vôi nguyên liệu 1.336,6 nghìn m3, giảm 0,61%; tôm đông lạnh đạt 5,1 nghìn tấn, giảm 8,87%; bánh làm từ bột 3,5 nghìn tấn, giảm 0,29%; giày dép da 101,0 nghìn đôi, giảm 6,85%; clanhke 2.303,4 nghìn tấn, giảm 2,20%;  xi măng 1.900,2 nghìn tấn, giảm 9,73%; xe ô tô 132 chiếc, giảm 14,84%; hương vòng 12,0 triệu vòng, giảm 12,36%.
3. Vốn đầu tư
Tổng vốn đầu tư thực hiện theo giá hiện hành trên địa bàn trong 10 tháng đầu năm 2019 ước đạt 18.145,5 tỷ đồng, bằng 79,94% KH năm, tăng 13,80% so với cùng kỳ năm trước; trong đó vốn do Trung ương quản lý 4.667,5 tỷ đồng, bằng 75,65% KH, tăng 5,79%, chiếm 25,72% tổng vốn; vốn do Địa phương quản lý 13.478 tỷ đồng, bằng 81,54% KH, tăng 16,86%, chiếm 74,28%.
Vốn thuộc ngân sách Nhà nước 10 tháng ước đạt 3.638 tỷ đồng, bằng 103,06% KH, tăng 27,41% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 20,05% tổng vốn, gồm có: Vốn ngân sách Trung ương quản lý 861,5 tỷ đồng, bằng 90,68% KH, tăng 23,07%; vốn ngân sách Địa phương quản lý 2.776,5 tỷ đồng, bằng 107,62%, tăng 28,82%; nguồn vốn tín dụng đạt 8.117,5 tỷ đồng, bằng 80,45% KH, tăng 13,79% so cùng kỳ, chiếm 44,74% trong tổng vốn; vốn đầu tư của doanh nghiệp 2.316 tỷ đồng, bằng 73,52% KH, tăng 10,79%, chiếm 12,76%; vốn viện trợ 936 tỷ đồng, bằng 59,24% KH, giảm 28,67%, chiếm 5,16%; vốn đầu tư nước ngoài 1.025 tỷ đồng, bằng 51,25% KH, tăng 145,39%, chiếm 5,65%.
Nguồn vốn NSNN do địa phương quản lý trong mười tháng đầu năm 2019 tăng cao so với cùng kỳ, tập trung chủ yếu đẩy nhanh tiến độ thi công các dự án chuyển tiếp như: Bảo tồn, tu bổ và tôn tạo di tích cầu ngói Thanh Toàn; Đầu tư hệ thống cảm biến phục vụ phát triển dịch vụ đô thị thông minh; Trường THPT Bình Điền (giai đoạn 2); Nâng cấp, sửa chữa các công trình trạm bơm chống hạn Tây Nam Hương Trà; Hệ thống thoát nước, xử lý nước thải khu công nghiệp và khu phi thuế quan; Đường cứu hộ cứu nạn Thủy phù - Vinh Thanh; Đường Chợ Mai - Tân Mỹ; Bảo tồn, tu bổ và phục hồi lăng Dục Đức; Hệ thống hạ tầng kỹ thuật khu vực Hoàng Thành; Bảo tồn, tu bổ và phát huy giá trị tổng thể di tích lăng vua Thiệu Trị (giai đoạn 2); Bảo tồn, tu bổ, phục hồi điện Thọ Ninh (giai đoạn 2); Văn phòng làm việc một số cơ quan đơn vị thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế;...Tuy nhiên một số dự án thực hiện còn chậm: DA cải thiện môi trường nước thành phố Huế; Bảo tồn, tu bổ và tôn tạo hệ thống Kinh thành Huế, Cầu Lợi Nông; tuyến đê A xã Vinh Hà huyện Phú Vang; Dự án "Chương trình phát triển các đô thị loại II (các đô thị xanh)-Tiểu dự án Thừa Thiên Huế; Kè chống sạt lở bờ sông Bồ đoạn qua thôn La Vân Thượng, xã Quảng Thọ. Nguyên nhân chủ yếu do vướng mắc trong việc xác định giá đền bù nên công tác giải phóng mặt bằng gặp khó khăn; một số dự án chậm hoàn thiện thủ tục phê duyệt, điều chỉnh dự án, thiết kế kỹ thuật, dự toán.
Nguồn vốn doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh tiếp tục đầu tư vào các dự án và gấp rút hoàn thiện để đưa vào sử dụng: Dự án phức hợp Manor Crown; Khu nghỉ dưỡng nước khoáng nóng Mỹ An. Các dự án trọng điểm quốc gia BT và BOT tiếp tục thi công nhanh: Dự án La Sơn - Túy Loan; hầm Hải Vân giai đoạn II. Nhiều dự án chuyển tiếp được thực hiện nhanh các công đoạn cuối để đưa vào hoạt động: Các nhà máy thủy điện A Lin B1, A Lin B2, Rào Trăng 3, dự án Movenpic Resort Lăng Cô. 
Nguồn vốn đầu tư nước ngoài trong kỳ chủ yếu thực hiện các dự án chuyển tiếp: Dự án Laguna giai đoạn 2; Dự án khu nghỉ dưỡng của Công ty Minh Viễn; Hạ tầng khu công nghiệp của công ty cổ phần Hello quốc tế Việt Nam; …
Từ ngày 16/9/2019 đến ngày 15/10/2019, trên địa bàn có 2 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký mới, trong đó 1 dự án của Hồng Kông-Trung Quốc vào may mặc với tổng số vốn đăng ký là 206,99 triệu USD và 1 dự án của Hoa Kỳ về sản xuất dệt với tổng số vốn đăng ký 4,50 triệu USD. Tính từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh có 11 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký mới với tổng số vốn đăng ký 293,05 triệu USD, tăng 6 dự án và tăng 267,32 triệu USD về vốn so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, Hàn Quốc có 4 dự án với tổng số vốn đăng ký 1,33 triệu USD, bao gồm 2 dự án về dịch vụ tư vấn bất động sản, 1 dự án về giáo dục và 1 dự án về sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ; Hồng Kông-Trung Quốc 4 dự án với số vốn đăng ký 287,04 triệu USD, bao gồm 1 dự án về công nghiệp xử lý rác thải rắn, 1 dự án sản xuất đồ chơi trẻ em và 2 dự án về may mặc; 1 dự án của Đài Loan-Trung Quốc với số vốn đăng ký 0,13 triệu USD về xuất nhập khẩu; 1 dự án của Nhật Bản  với số vốn đăng ký 0,05 triệu USD về giáo dục, đào tạo; 1 dự án của Hoa Kỳ với số vốn 4,50 triệu USD về sản xuất dệt.
4. Thương mại, dịch vụ và giá cả
a. Bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 10/2019 ước đạt 3.567,4  tỷ đồng, giảm 0,78% so với tháng trước và tăng 11,13% so với cùng kỳ năm trước. Xét theo ngành hàng, doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 10/2019 ước đạt 2.790,4 tỷ đồng, chiếm 78,23% trong tổng số, giảm 1,33% so với tháng trước và tăng 11,28% so với cùng kỳ năm trước; nguyên nhân giảm so với tháng trước là do nhu cầu mua sắm một số mặt hàng có xu hướng giảm khi bắt đầu vào mùa mưa bão. Một số mặt hàng giảm bao gồm: Lương thực, thực phẩm giảm 1,34%; hàng may mặc giảm 2,53%; gỗ và vật liệu xây dựng giảm 3,72%; nhiên liệu khác giảm 0,73%; xăng dầu giảm 1,07%; đá quý, kim loại quý giảm 1,21%. Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống đạt 576,9 tỷ đồng, chiếm 16,17%, tương ứng tăng 2,31% và tăng 11,43%; doanh thu dịch vụ du lịch lữ hành đạt 14,7 tỷ đồng, chiếm 0,41%, tăng 4,75% và tăng 8,45%; doanh thu dịch vụ khác 185,5 tỷ đồng, chiếm 5,20%, giảm 2,24% và tăng 8,26%.
Tính chung mười tháng đầu năm 2019, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trên địa bàn ước đạt 35.247,6 tỷ đồng, tăng 11,30% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, kinh doanh bán lẻ hàng hóa đạt 27.419,9 tỷ đồng, chiếm 77,79% tổng số và tăng 11,52%; dịch vụ lưu trú và ăn uống 5.864,9 tỷ đồng, chiếm 16,64% và tăng 11,15%; du lịch lữ hành 158,3 tỷ đồng, chiếm 0,45% và tăng 9,16%; dịch vụ khác 1.804,5 tỷ đồng, chiếm 5,12% và tăng 8,72%. 
b. Vận tải hành khách và hàng hóa 
Vận tải hành khách tháng 10/2019 ước đạt 2.096,2 nghìn lượt khách và 107,1 triệu lượt khách.km, giảm 0,15% về lượt khách và giảm 0,09% về lượt khách.km so với tháng trước; tăng 9,18% về lượt khách và tăng 8,72% về lượt khách.km so cùng kỳ năm trước.
Dự ước vận tải hành khách mười tháng đầu năm 2019 đạt 20.623,0 nghìn lượt khách, tăng 9,50% và 1.039,5 triệu lượt khách.km tăng 9,87% so cùng kỳ năm trước, trong đó vận tải hành khách đường bộ ước đạt 19.919,4 nghìn lượt khách, tăng 10,03% và 1.036,4 triệu lượt khách.km, tăng 9,92%.
Vận tải hàng hóa tháng 10/2019 ước đạt 1.088,4 nghìn tấn và 93,0 triệu tấn.km, tăng 0,27% về tấn và tăng 0,28% về tấn.km so với tháng trước; tăng 13,90% về tấn và tăng 20,89% về tấn.km so cùng kỳ năm trước.
Dự ước vận tải hàng hóa mười tháng đầu năm 2019 đạt 10.121,9 nghìn tấn, tăng 11,06% và 878,1 triệu tấn.km, tăng 12,67% so cùng kỳ năm trước, trong đó vận tải hàng hóa đường bộ ước đạt 10.039,6 nghìn tấn, tăng 11,36% và 792,0 triệu tấn.km tăng 11,40%; đường biển 73,9 nghìn tấn, tăng 5,56% và 86,1 triệu tấn.km, tăng 6,62%.
Doanh thu vận tải, bốc xếp và bưu chính chuyển phát tháng 10/2019 ước đạt 247,9 tỷ đồng, giảm 0,68% so với tháng trước và tăng 12,88% so cùng kỳ năm trước. Tính chung mười tháng đầu năm 2019, doanh thu vận tải, bốc xếp và bưu chính chuyển phát ước đạt 2.372,2 tỷ đồng, tăng 12,37% so với cùng kỳ năm trước, trong đó đường bộ đạt 2.226,0 tỷ đồng, tăng 12,05%; đường biển 142,0 tỷ đồng, tăng 18,92%. Chia theo loại hình dịch vụ: doanh thu vận tải hành khách đạt 617,5 tỷ đồng, tăng 10,78%; doanh thu vận tải hàng hóa đạt 1.577,4 tỷ đồng, tăng 12,35%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính chuyển phát đạt 177,3 tỷ đồng, tăng 18,49%.
c. Lượt khách các cơ sở lưu trú phục vụ và du lịch lữ hành
Dự ước lượt khách cơ sở lưu trú phục vụ tháng 10/2019 đạt 168,0 nghìn lượt khách, tăng 13,38% so với tháng trước và tăng 7,18% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: Lượt khách ngủ qua đêm đạt 148,4 nghìn lượt khách, tương ứng tăng 15,36% và tăng 7,36%; lượt khách trong ngày đạt 19,6 nghìn lượt khách, tăng 0,35% và tăng 5,84%. 
Trong tổng số lượt khách ngủ qua đêm tháng 10/2019, lượt khách quốc tế ước đạt 84,3 nghìn lượt khách, tăng 23,13% so với tháng trước và tăng 11,38% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách trong nước đạt 64,1 nghìn lượt khách, tương ứng tăng 6,51% và tăng 2,48%. 
Tính chung mười tháng đầu năm 2019, tổng lượt khách cơ sở lưu trú phục vụ ước đạt 1.855,5 nghìn lượt khách, tăng 6,98% so cùng kỳ năm trước; trong đó lượt khách ngủ qua đêm 1.637,4 nghìn lượt, tăng 6,87%; lượt khách trong ngày 218,0 nghìn lượt, tăng 7,82%.
Trong tổng số lượt khách ngủ qua đêm mười tháng đầu năm, khách quốc tế ước đạt 876,9 nghìn lượt khách, tăng 9,84% so với cùng kỳ; lượt khách trong nước đạt 760,5 nghìn lượt khách, tăng 3,65%.
Ngày khách cơ sở lưu trú phục vụ tháng 10/2019 ước đạt 302,7 nghìn ngày khách, tăng 15,23% so với tháng tháng trước và tăng 6,92% so với cùng kỳ năm trước, chia ra ngày khách quốc tế đạt 181,7 nghìn ngày khách, tương ứng tăng 22,72% và tăng 10,78%; ngày khách trong nước 121,0 nghìn ngày khách, tăng 5,56% và tăng 1,60%. Đưa tổng ngày khách cơ sở lưu trú phục vụ mười tháng đầu năm 2019 ước đạt 3.265,3  nghìn ngày, tăng 6,30% so cùng kỳ năm trước; trong đó, ngày khách quốc tế 1.842,2 nghìn ngày, tăng 8,91%; ngày khách trong nước 1.423,1 nghìn ngày, tăng 3,11%.
Doanh thu cơ sở lưu trú ước thực hiện tháng 10/2019 đạt 135,3 tỷ đồng, tăng 13,23% so với tháng trước và tăng 8,74% so cùng kỳ năm trước. Đưa doanh thu cơ sở lưu trú mười tháng đầu năm 2019 ước đạt 1.430,4 tỷ đồng, tăng 8,16% so cùng kỳ năm trước.
Hoạt động du lịch lữ hành tháng 10/2019 ước tính lượt khách du lịch theo tour đạt 8,7 nghìn lượt, tăng 4,29% so với tháng trước và tăng 8,17% so cùng kỳ năm trước. Đưa tổng lượt khách theo tour thực hiện mười tháng đầu năm 2019 ước đạt 94,9 nghìn lượt, tăng 7,68% so cùng kỳ năm trước. Dự ước ngày khách theo tour tháng 10/2019 đạt 18,5 nghìn ngày, tăng 4,27% so với tháng trước và tăng 8,83% so cùng kỳ năm trước. Đưa tổng ngày khách theo tour mười tháng đầu năm 2019 ước đạt 199,1 nghìn ngày, tăng 7,87% so cùng kỳ năm trước.
d. Giá cả
- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
Chỉ số giá tiêu dùng chung toàn tỉnh tháng 10/2019 tăng 0,37% so với tháng trước. Nguyên nhân chủ yếu là do chịu tác động từ việc điều chỉnh tăng giá gas, xăng dầu, ngoài ra một mặt hàng tiêu dùng cũng tăng nhẹ. Các nhóm hàng hóa dịch vụ có chỉ số giá tăng so với tháng trước gồm: Nhóm giao thông tăng 1,03%; lương thực tăng 0,80%; thực phẩm tăng 0,83%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,07%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,32%; thuốc, dịch vụ y tế tăng 0,48%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,01%. Nhóm ăn uống ngoài gia đình, nhóm giáo dục và nhóm bưu chính viễn thông có chỉ số giá không tăng giảm so với tháng trước. Nhóm đồ uống và thuốc lá giảm 0,05%; may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,04%; hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,12% so tháng trước.
Chỉ số giá tiêu dùng chung toàn tỉnh tháng 10/2019 tăng 3,52% so với tháng 12 năm trước và tăng 3,36% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân mười tháng đầu năm 2019 tăng 2,66% so với bình quân cùng kỳ năm 2018.
- Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ 
Chỉ số giá vàng tháng 10/2019 giảm 0,26% so với tháng trước, tăng 18,52% so với tháng 12 năm trước và tăng 20,57% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 10/2019 không tăng không giảm so với tháng trước, giảm 0,41% so với tháng 12 năm trước và giảm 0,49% so với cùng kỳ năm trước. 
5. Tài chính, ngân hàng
Tài chính : Tổng thu ngân sách nhà nước mười tháng năm 2019 ước đạt 6.501,0 tỷ đồng, bằng  90,12% dự toán. Trong đó:
- Thu nội địa ước đạt 6.073,9 tỷ đồng, bằng 91,63% dự toán. Trong đó, thu doanh nghiệp nhà nước ước đạt 324,1 tỷ đồng, bằng 76,26% dự toán; thu doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 1.847,3 tỷ đồng, bằng 87,97% dự toán; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài nhà nước 972,6 tỷ đồng, bằng 83,70% dự toán; thuế thu nhập cá nhân 306,1 tỷ đồng, bằng 95,65% dự toán; thuế bảo vệ môi trường 555,6 tỷ đồng, bằng 80,52% dự toán.
- Thu từ hoạt động xuất nhập khẩu ước đạt 404,3 tỷ đồng, bằng 72,90% dự toán. 
Tổng chi ngân sách địa phương mười tháng năm 2019 ước đạt 7.215,9 tỷ đồng, bằng 74,04% dự toán, trong đó chi đầu tư phát triển 1.613,1 tỷ đồng, bằng 61,72% dự toán; chi sự nghiệp kinh tế 487,4 tỷ đồng, bằng 66,89% dự toán; chi sự nghiệp giáo dục đào tạo 2.114,3 tỷ đồng, bằng 74,65% dự toán; chi sự nghiệp y tế 510,0 tỷ đồng, bằng 75,63% dự toán; chi quản lý nhà nước 1.270,6 tỷ đồng, bằng 102,31% dự toán.
Ngân hàng : Dự ước đến cuối tháng 10/2019, tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn đạt 47.100 tỷ đồng, tăng 9,2% so với đầu năm; tổng dư nợ đạt 48.710 tỷ đồng, tăng 7,0%.
Đến cuối tháng 9/2019 ước cho vay một số lĩnh vực ưu tiên: Cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn đạt 9.636 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 21,2% trong dư nợ tín dụng, tăng 4,60% so với đầu năm; cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa 11.852 tỷ đồng, chiếm 26,1%, tăng 5,02%; cho vay phát triển SXKD hàng xuất khẩu 3.061 tỷ đồng, chiếm 6,7%, giảm 2,3%; cho vay ngành công nghiệp hỗ trợ đạt 415 tỷ đồng, chiếm 0,9%, tăng 2,2%.
Về lãi suất, các chi nhánh tổ chức tín dụng trên địa bàn duy trì mức lãi suất huy động và cho vay ổn định so với tháng trước, cụ thể:
Lãi suất huy động không có kỳ hạn hoặc có kỳ hạn dưới 1 tháng phổ biến ở mức 0,6% - 1%/năm; kỳ hạn từ 1 tháng đến 6 tháng ở mức 4,5% - 5,5%; từ 6 tháng đến dưới 12 tháng ở mức 5,5% - 6,5%/năm; kỳ hạn từ 12 tháng trở lên phổ biến ở mức 6,6% - 7,3%/năm. Lãi suất huy động ngoại tệ phổ biến bằng mức trần do NHNN quy định là 0%/năm đối với tổ chức và cá nhân. 
Lãi suất cho vay các lĩnh vực SXKD thông thường phổ biến ở mức 6,0% - 9%/năm đối với vay ngắn hạn; ở mức 9,0% - 11%/năm đối với trung, dài hạn. Lãi suất cho vay ngoại tệ phổ biến ở mức 2,8% - 6,0%/năm. 
6. Các vấn đề xã hội
a. Tình hình y tế, dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm
Tháng 9/2019, toàn tỉnh có 2 ca mắc sốt rét, giảm 2 ca so với cùng kỳ năm trước, 342 ca mắc sốt xuất huyết, tăng 307 ca; 1 ca mắc viêm gan siêu trùng, giảm 5 ca; 20 ca mắc bệnh Tay-Chân-Miệng, giảm 45 ca; 1 ca mắc liên cầu lợn, tăng 1 ca. Không có trường hợp tử vong. Không có ca mắc thương hàn và viêm não vi rút, bằng cùng kỳ năm trước. Tính từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh có 4 ca mắc sốt rét, giảm 5 ca so với cùng kỳ năm trước; 1.160 ca mắc sốt xuất huyết, tăng 1.061 ca; 20 ca mắc viêm gan siêu trùng, giảm 23 ca; 72 ca mắc bệnh Tay-Chân-Miệng, giảm 21 ca; 3 ca mắc liên cầu lợn, giảm 2 ca. Không có trường hợp tử vong. Không có ca mắc thương hàn và viêm não vi rút, bằng cùng kỳ năm trước.
Tháng 9/2019, qua kiểm tra đã phát hiện 11 ca nhiễm HIV, tăng 7 ca so cùng kỳ năm trước; không có ca chuyển qua AIDS, không tăng không giảm so với cùng kỳ; không có ca tử vong do AIDS, giảm 1 ca. Tính từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 94 ca nhiễm mới HIV, tăng 21 ca so với cùng kỳ năm trước; có 2 ca chuyển qua AIDS, giảm 5 ca; có 6 ca tử vong, tăng 3 ca. Hiện tại, trên địa bàn tỉnh có 382 bệnh nhân HIV đang được quản lý và điều trị tại các cơ sở y tế, trong đó có 379 bệnh nhân điều trị ARV.
Tình hình ngộ độc thực phẩm: Từ 16/9/2019 đến 15/10/2019 trên địa bàn tỉnh không có trường hợp ngộ độc thực phẩm nào xảy ra. Từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh xảy ra 3 vụ ngộ độc thực phẩm, tăng 2 vụ so với cùng kỳ năm trước, làm 92 người bị ngộ độc và không có trường hợp tử vong. 
b. Hoạt động văn hóa, thể thao
Đoàn Jujitsu Huế đã tham dự Giải vô địch Jujitsu toàn quốc lần I-2019 diễn ra tại Hà Nội từ 25-30/9/2019 thu hút gần 150 VĐV đến từ 14 tỉnh, thành trên toàn quốc. Đoàn Huế góp mặt 16 VĐV, giành được 1 HCB, 1 HCĐ.
Giải vô địch & vô địch vật trẻ Đông Nam Á 2019 tại Thái Lan diễn ra từ 26/9-3/10/2019, quy tụ gần 1.000 VĐV đến từ các nước trong khu vực. Đội tuyển vật Thừa Thiên Huế có 8 VĐV tham dự  và đã xuất sắc giành được 12 HCV, 3 HCB, 1 HCĐ. Đây là một giải đấu thành công của tuyển vật Huế khi vượt qua nhiều VĐV xuất sắc nhất khu vực.
Sáng ngày 11/10/2019 diễn ra lễ khai mạc Giải vô địch Bi sắt các CLB tỉnh Thừa Thiên Huế lần thứ II năm 2019. Thu hút hơn 30 VĐV đến từ 9 CLB. 
Từ ngày 11-23/10/2019 diễn ra Giải vô địch bóng đá các Câu lạc bộ tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2019 tại Sân vận động tự do Huế. Giải đã quy tụ gần 300 cầu thủ đến từ 16 đội bóng đá trên địa bàn tỉnh.
Sáng ngày 13/10/2019, Trung tâm hoạt động Thanh thiếu nhi tỉnh đã tổ chức vòng loại hội thi “Tiếng hát chim sơn ca” lần thứ II-2019. Tham gia có 86 tiết mục với hình thức đơn ca và nhóm ca. 
c. Tai nạn giao thông( )
Từ 16/9/2019 đến 15/10/2019, trên địa bàn tỉnh xảy ra 25 vụ tai nạn và va chạm giao thông đường bộ, giảm 8 vụ so với cùng kỳ năm trước; làm chết 13 người, giảm 6 người; bị thương 21 người, giảm 3 người. 
Tính từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 314 vụ tai nạn và va chạm giao thông, tăng 39 vụ so với cùng kỳ năm trước; làm chết 164 người, tăng 13 người; bị thương 257 người, tăng 35 người. Trong đó, tai nạn đường bộ xảy ra 302 vụ, tăng 31 vụ so với cùng kỳ; làm chết 157 người, tăng 9 người; bị thương 254 người, tăng 33 người. Tai nạn đường sắt xảy ra 12 vụ, tăng 8 vụ; làm chết 7 người, tăng 4 người; bị thương 3 người, tăng 2 người. Tai nạn đường thủy không xảy ra, không tăng giảm so cùng kỳ.
d. Tình hình cháy nổ và bảo vệ môi trường
Từ 16/9/2019 đến ngày 15/10/2019, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 3 vụ cháy, giảm 3 vụ so với cùng kỳ năm trước, giá trị thiệt hại không đáng kể, nguyên nhân chủ yếu do sự cố hệ thống thiết bị điện. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 94 vụ cháy, tăng 42 vụ so cùng kỳ năm trước; làm chết 3 người và bị thương 1 người; tổng giá trị thiệt hại 4,6 tỷ đồng. 
Từ ngày 16/9/2019 đến 15/10/2019, các ngành chức năng đã phát hiện 13 vụ vi phạm môi trường, giảm 2 vụ so với cùng kỳ năm trước; trong đó: khai thác cát trái phép 7 vụ, an toàn thực phẩm 2 vụ, kích điện đánh bắt thủy sản 4 vụ. Đã tiến hành xử lý 10 vụ với tổng số tiền xử phạt 47 triệu đồng. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 216 vụ vi phạm môi trường, tăng 69 vụ so cùng kỳ năm trước, đã tiến hành xử lý 213 vụ với tổng số tiền phạt 796,1 triệu đồng. Các hành vi vi phạm chủ yếu: Khai thác cát trái phép, đánh bắt thủy sản hủy diệt, thải nước thải ra môi trường không qua xử lý; vận chuyển đất đá, cát sạn rơi vãi và vận chuyển thực phẩm bẩn không rõ nguồn gốc, vận chuyển động vật không đảm bảo điều kiện thú y, giết mổ động vật không đúng quy định./.


Gửi bởi    

HỆ THỐNG TÊN MIỀN MẠNG GSO
MÁY CHỦ TÊN MIỀN .GSO:
Chính:       10.0.1.1
Dự phòng: 10.0.1.2
  • Góc người dùng
Tên đăng nhập:
Mật khẩu:



Bạn đang dùng -

IP:34.204.193.85

Thống kê

Lượt truy cập  14281
Đang trực tuyến   1