MyLabel

Tình Hình Kinh Tế Xã Hội Tỉnh Thừa Thiên Huế Tháng 11 năm 2019

11/29/2019
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI 
THÁNG 11 NĂM 2019

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
a. Sản xuất nông nghiệp
Sản xuất nông nghiệp tháng 11/2019 tập trung chủ yếu thu hoạch cây hàng năm khác vụ đông. Tính đến 15/11/2019, diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ đông năm 2019 ước đạt 1.252 ha, tăng 1,61% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngô17,2 ha, tăng 7,50% so cùng kỳ; rau các loại 602 ha, tăng 6,52%. nguyên nhân do thời tiết năm nay thuận lợi, lượng mưa không nhiều nên tiến độ gieo trồng một số cây vụ Đông năm nay đạt khá so với cùng kỳ.
Chăn nuôi: Tính đến 15/11/2019 bệnh dịch tả lợn Châu Phi đang xảy ra trên đàn lợn của 9/9 huyện, thị, thành phố toàn tỉnh. Tổng số lợn mắc bệnh đã tiêu hủy là 72,8 nghìn con với tổng trọng lượng 4.373 tấn. Hiện có 27 xã thuộc 6 huyện có dịch đã qua 30 ngày nhưng không phát sinh thêm ổ dịch mới và có 26 xã thuộc 7 huyện có dịch đã qua 30 ngày nhưng sau đó lại phát sinh lợn bệnh. Nhằm hỗ trợ người chăn nuôi khắc phục thiệt hại do bệnh dịch tả lợn châu Phi, UBND tỉnh đã ra quyết định hỗ trợ 3 đợt với tổng kinh phí 66,02 tỷ đồng.
Tính đến thời điểm 01/11/2019, tổng đàn lợn toàn tỉnh ước đạt 114.625 con, giảm 37,64% so cùng kỳ năm trước. Tình hình chăn nuôi nuôi lợn tiếp tục gặp nhiều khó khăn do bệnh dịch tả lợn châu Phi, số lượng lợn mắc bệnh tiêu hủy chiếm 33,13% so với tổng đàn lợn đầu năm thời điểm 01/01/2019. Giá lợn hơi hiện đang tăng cao nhưng chăn nuôi hộ cá thể và gia trại chưa mạnh dạn tái đàn vì lo ngại rủi ro bệnh dịch. 
Tổng đàn trâu toàn tỉnh thời điểm 01/11/2019 ước đạt 19.385 con, giảm 4,30% so cùng kỳ năm trước; đàn bò 32.925 con, giảm 3,22%. Nguyên nhân chủ yếu đàn trâu, bò giảm là do hiện nay đồng cỏ chăn nuôi bị thu hẹp, lao động chăn nuôi ngày càng giảm và dự án khuyến nông ở một số huyện đã kết thúc. 
Đàn gia cầm thời điểm 01/11/2019 ước đạt 3.849 nghìn con, tăng 3,89% so cùng kỳ năm trước, trong đó đàn gà 3.113 nghìn con, tăng 5,81%. Chăn nuôi gia cầm, nhất là chăn nuôi gà hiện nay có nhiều thuận lợi đem lại hiệu quả kinh tế cao, dịch bệnh không xảy ra, công tác tiêm phòng thú y, vệ sinh môi trường chăn nuôi được chú trọng. Tuy nhiên, giá thịt gà từ cuối tháng 9/2019 đến nay giảm liên tục nên người chăn nuôi có tâm lý lo ngại và thận trọng phát triển đàn.
Công tác tiêm phòng đàn gia súc, gia cầm vụ thu tính đến 15/11/2019 đã tiêm 6.990 liều vắc xin tụ huyết trùng trâu bò đạt 47% kế hoạch; 41.228 liều vắc xin tam liên lợn đạt 66% kế hoạch; 4.180 liều vắc xin VX +KT E.coli đạt 38% kế hoạch; 668.100 liều vắc xin cúm gia cầm đạt 75% kế hoạch; 566.650 liều vắc xin dịch tả vịt đạt 92% kế hoạch; 62.245 liều vắc xin Newcastle gà đạt 50% kế hoạch; 128.430 liều vắc xin Lasota+Newcastle đạt 45% kế hoạch; 7.500 liều vắc xin tụ huyết trùng gia cầm đạt 35% kế hoạch; 46.400 liều vắc xin đậu gà đạt 43% kế hoạch; 125.400 liều vắc xin VX+KT Gumboro đạt 40% kế hoạch; lở mồm long móng trâu bò 19.050 liều, đạt 39% kế hoạch.
b. Lâm nghiệp
Sản xuất lâm nghiệp tháng 11/2019 chủ yếu tập trung khai thác gỗ rừng trồng. Ước tính sản lượng gỗ rừng trồng khai thác trong tháng đạt 45.913 m3, tăng 2,10% so cùng kỳ năm trước. Tính chung mười một tháng đầu năm 2019, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 597.126 m3, tăng 4,70% so với cùng kỳ năm trước, toàn bộ là gỗ rừng trồng. Thời tiết đang vào mùa mưa thuận lợi cho việc trồng rừng, rừng trồng tập trung tháng 11/2019 ước đạt 1.458 ha, tăng 0,55% so với cùng kỳ. Lũy kế mười một tháng đầu năm, diện tích rừng trồng tập trung ước đạt 5.586 ha, tăng 2,59% so cùng kỳ năm trước, toàn bộ là rừng sản xuất.
Trong tháng 11/2019 đã xảy ra 2 vụ phá rừng làm nương rẫy với diện tích bị phá là 0,3 ha. Tính từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh đã xảy ra 48 vụ phá rừng, tăng 7 vụ so với cùng kỳ, với diện tích bị phá 9,7 ha, giảm 1,8 ha; cháy rừng xảy ra 30 vụ, tăng 23 vụ so cùng kỳ năm trước, với diện tích rừng bị cháy 154,9 ha, tăng 151,9 ha. Nguyên nhân cháy chủ yếu là do thời tiết nắng nóng gay gắt với nền nhiệt cao kết hợp gió Tây Nam thổi mạnh đã gây cháy lan trên diện rộng. Đồng thời, việc xử lý thực bì thiếu kiểm soát; đạn lân tinh tự phát nổ trong điều kiện nắng nóng; đốt hương, vàng mã không đúng nơi quy định cũng là nguyên nhân chính gây cháy rừng trên địa bàn. 
c. Thủy sản
Tình hình nuôi trồng thủy sản: Diện tích nuôi trồng thủy sản tháng 11/2019 ước đạt 399 ha, tăng 2,84% so cùng kỳ năm trước, trong đó nuôi nước lợ 349 ha, chiếm 87,47% tổng diện tích thả nuôi, tăng 3,25%; nuôi nước ngọt 50 ha, chiếm 12,53%, bằng so với cùng kỳ. Trong nuôi nước lợ, diện tích nuôi cá 35 ha, bằng so với cùng kỳ; nuôi tôm 272 ha, tăng 4,21%, trong đó tôm sú 250 ha, tăng 4,17%, tôm thẻ chân trắng 22 ha, tăng 4,76%; diện tích nuôi các loại thủy sản khác 42 ha, bằng so với cùng kỳ. Lũy kế tổng diện tích nuôi trồng thủy sản mười một tháng đầu năm 2019 ước đạt 7.102 ha, tăng 2,45% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm diện tích nuôi nước lợ 5.213 ha, tăng 3,45%; nuôi nước ngọt 1.889 ha, giảm 0,21%. 
Về sản xuất giống thủy sản, trong tháng 11/2019 sản xuất được 6 triệu con giống, tăng 3,45% so cùng kỳ năm trước, trong đó tôm sú giống 1,4 triệu con, tăng 7,69%; cá giống 4,6 triệu con, tăng 2,22%. Lũy kế mười một tháng đầu năm 2019 số giống sản xuất ước đạt 174,7 triệu con, tăng 3,68% so cùng kỳ năm trước, trong đó tôm sú giống 92,9 triệu con, tăng 4,50%; cá giống 79,8 triệu con, tăng 2,84%, giống thủy sản khác 2 triệu con, bằng cùng kỳ, toàn bộ số giống sản xuất chủ yếu cung cấp cho các cơ sở nuôi trên địa bàn tỉnh.  
Sản lượng thủy sản nuôi trồng thu hoạch tháng 11/2019 ước đạt 867 tấn, tăng 4,58% so với cùng kỳ năm trước; trong đó sản lượng cá 563 tấn, tăng 3,87%; tôm các loại 254 tấn, tăng 6,72%; thủy sản khác 50 tấn, tăng 2,04%. Lũy kế sản lượng thủy sản nuôi trồng mười một tháng đầu năm 2019 ước đạt 15.509 tấn, tăng 4,47% so cùng kỳ năm trước, trong đó cá các loại 9.265 tấn, tăng 3,84%; tôm các loại 5.189 tấn, tăng 6,01%; thủy sản khác 1.055 tấn, tăng 2,53%.
Tình hình khai thác hải sản: Sản lượng khai thác tháng 11/2019 ước đạt 2.445 tấn, tăng 3,60% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khai thác biển 2.077 tấn, tăng 4,37%; khai thác nội địa 368 tấn, giảm 0,54%. Lũy kế sản lượng khai thác mười một tháng đầu năm 2019 ước đạt 38.563 tấn, tăng 3,63% so cùng kỳ năm trước, trong đó khai thác biển 34.827 tấn, tăng 4,10%; khai thác nội địa 3.736 tấn, giảm 0,56%.
Tính chung sản lượng thủy sản nuôi trồng và khai thác mười một tháng đầu năm 2019 ước đạt 54.072 tấn, tăng 3,87% so cùng kỳ năm trước.
2. Sản xuất công nghiệp
Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 11/2019 tăng 4,62% so với tháng trước và tăng 15,72% so cùng kỳ năm trước. Tính chung mười một tháng đầu năm 2019, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 9,10% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 2,40%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,18%; sản xuất, phân phối điện, nước đá tăng 20,32%; cấp nước và thu gom rác thải tăng 6,89%. Nguyên nhân chỉ số sản xuất công nghiệp mười một tháng đầu năm 2019 tăng khá là do một số nhà máy sản xuất đã được nâng công suất vào những tháng cuối năm 2018 và phát huy trong những tháng đầu năm 2019. Ngoài ra, trong những tháng đầu năm 2019 trên địa bàn đã có một số nhà máy mới đưa vào hoạt động. Tuy nhiên, một số sản phẩm chính của tỉnh như xi măng, chế biến thủy sản đang có xu hướng giảm trong năm 2019.
Các ngành có chỉ số sản xuất mười một tháng đầu năm 2019 tăng so với cùng kỳ năm trước: Ngành khai thác đá tăng 2,40%; sản xuất bia tăng 9,92%; sản xuất sợi tăng 7,07%; may mặc tăng 8,14%; sản xuất da và các sản phẩm từ da tăng 11,79%; chế biến dăm gỗ tăng 28,05%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 12,74%; in ấn tăng 9,26%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 9,72%; sản xuất tân dược tăng 12,04%; sản xuất sản phẩm từ plastic tăng 11,20%; sản xuất gạch ngói tăng 23,47%; sản xuất xi măng, vôi, thạch cao tăng 5,22%; sản xuất vi tính và các thiết bị ngoại vi tăng 21,25%; sản xuất vỏ lon nhôm tăng 39,35%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 10,37%; sản xuất và phẩn phối điện tăng 20,32%, trong đó, điện sản xuất tăng 27,98%; cấp nước tăng 7,52%; thu gom rác thải tăng 6,35%.
Các ngành có chỉ số sản xuất mười một tháng đầu năm 2019 giảm so với cùng kỳ: Chế biến thủy sản giảm 9,71%; sản xuất ô tô giảm 15,03%; đóng tàu và cấu kiện nổi giảm 62,89%. 
Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu có mức sản xuất trong mười một tháng đầu năm 2019 tăng khá so cùng kỳ năm trước: Đá xây dựng khác ước đạt 727,8 nghìn tấn, tăng 7,26%; bia đóng chai 91,0 triệu lít, tăng 10,95%; bia đóng lon 136,9 triệu lít, tăng 9,58%; sợi các loại 82,9 nghìn tấn, tăng 7,07%; quần áo lót 326,5 triệu cái, tăng 8,14%; túi xách 2,1 triệu cái, tăng 39,94%; dăm gỗ 574,2 ngàn tấn, tăng 28,05%; thùng, hộp bằng bìa cứng 9,6 triệu chiếc, tăng 18,55%; sản phẩm in 987,5 triệu trang, tăng 9,26%; phân NPK 25,4 nghìn tấn, tăng 3,20%; phân vi sinh 14,0 nghìn tấn, tăng 8,53%; cao su tổng hợp 5,6 nghìn tấn, tăng 10,82%; thuốc kháng sinh dạng viên 54,2 triệu viên, tăng 13,79%; thuốc mỡ 86,0 tấn, tăng 7,65%; men frit 230,9 nghìn tấn, tăng 34,22%; gạch men 13,7 triệu m2, tăng 23,47%; vỏ lon nhôm 12,5 tấn, tăng 39,35%; điện sản xuất 1.056,0 triệu kwh, tăng 27,98%; điện thương phẩm 1.701,5 triệu kwh, tăng 6,01%; nước máy 48,6 triệu m3, tăng 7,52%.
Các sản phẩm công nghiệp chủ yếu có mức sản xuất mười một tháng đầu năm 2019 giảm so cùng kỳ: Tôm đông lạnh đạt 5,5 nghìn tấn, giảm 9,71%; giày dép da 111,0 nghìn đôi, giảm 6,47%; giấy và bìa nhăn 5,0 nghìn tấn, giảm 1,54%; clanhke 2.530,0 nghìn tấn, giảm 1,51%;  xi măng 2.088,3 nghìn tấn, giảm 7,37%; xe ô tô 147 chiếc, giảm 15,03%; hương vòng 13,4 triệu vòng, giảm 10,79%.
3. Vốn đầu tư
Tổng vốn đầu tư thực hiện theo giá hiện hành trên địa bàn trong 11 tháng đầu năm 2019 ước đạt 20.127,8 tỷ đồng, bằng 88,67% KH năm, tăng 12,12% so với cùng kỳ năm trước; trong đó vốn do Trung ương quản lý 5.236,5 tỷ đồng, bằng 84,87% KH, tăng 5,17%, chiếm 26,02% tổng vốn; vốn do Địa phương quản lý 14.891,3 tỷ đồng, bằng 90,09% KH, tăng 14,78%, chiếm 73,98%.
Vốn thuộc ngân sách Nhà nước 11 tháng đạt 4.109,3 tỷ đồng, bằng 116,41% KH, tăng 27,40% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 20,42% tổng vốn, gồm có: Vốn ngân sách Trung ương quản lý 1.061,5 tỷ đồng, bằng 111,74% KH, tăng 32,36%; vốn ngân sách Địa phương quản lý 3.047,8 tỷ đồng, bằng 118,13%, tăng 25,76%; nguồn vốn tín dụng đạt 8.895,5 tỷ đồng, bằng 88,16% KH, tăng 11,16% so cùng kỳ, chiếm 44,20% tổng vốn; vốn đầu tư của doanh nghiệp 2.626 tỷ đồng, bằng 83,37% KH, tăng 4,68%, chiếm 13,05%; vốn viện trợ 999 tỷ đồng, bằng 63,23% KH, giảm 25,60%, chiếm 4,96%; vốn đầu tư nước ngoài 1.105 tỷ đồng, bằng 55,25% KH, tăng 37,87%, chiếm 5,49%.
Nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trong mười một tháng đầu năm 2019 tăng khá so với cùng kỳ, tập trung chủ yếu đẩy nhanh tiến độ thi công các dự án chuyển tiếp: Sửa chữa nâng cấp hệ thống tưới phục vụ sản xuất thuộc Khu tái định cư thủy điện A Lưới; cống An Xuân và kè gia cố hai bờ hói An Xuân; kè chống sạt lở bờ sông Nong; sửa chữa, nâng cấp hồ Thọ Sơn; kè chống sạt lở bờ sông Tả Trạch; nạo vét và xây dựng Kè hói Đốc Sơ-An Hòa; kè chống sạt lở bờ sông Bồ đoạn qua thôn Hạ Lang, xã Quảng Phú; kè chống sạt lở bờ biển khu vực xã Quảng Công; Đường Chợ Mai - Tân Mỹ; nâng cấp đê kết hợp giao thông đê Nho Lâm-Nghĩa lộ đoạn qua xã Quảng Phú và Quảng Thọ; sửa chữa nâng cấp đê Đông Phá Tam Giang đoạn qua xã Điền Hoà, Điền Hải;… Vốn đầu tư NSNN do trung ương quản lý tiếp tục tập trung đầu tư vào những dự án trọng điểm quốc gia: Xây dựng Trung tâm Sản phụ khoa Bệnh viện TW Huế; Khu kinh tế quốc phòng A So; Trung tâm phục hồi chức năng đoàn 41 Huế; Đồn Biên phòng cửa khẩu Hồng Vân; xây dựng bể bơi Trung tâm hoạt động Thanh thiếu niên tỉnh; Học viện Âm Nhạc Huế; Nhà hát Sông Hương;…
Nguồn vốn doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh tiếp tục đầu tư vào các dự án gấp rút hoàn thiện để đưa vào sử dụng: Dự án phức hợp Manor Crown; Khu nghỉ dưỡng nước khoáng nóng Mỹ An. Các dự án trọng điểm quốc gia BT và BOT tiếp tục được hoàn thiện và thi công nhanh: Dự án La Sơn- Túy Loan; Hầm Hải Vân giai đoạn II. Nhiều dự án chuyển tiếp được thực hiện nhanh các công đoạn cuối để đưa vào hoạt động: Các nhà máy thủy điện A Lin B1, A Lin B2, Rào Trăng 3; dự án Movenpic Resort Lăng Cô. 
Nguồn vốn đầu tư nước ngoài trong kỳ chủ yếu đang thực hiện các dự án chuyển tiếp: Dự án Laguna giai đoạn 2; Dự án khu nghỉ dưỡng của Công ty Minh Viễn; Hạ tầng khu công nghiệp của công ty cổ phần Hello quốc tế Việt Nam; …
Từ ngày 16/10/2019 đến ngày 15/11/2019, trên địa bàn không có dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký mới. Tính từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh có 11 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký mới với tổng số vốn đăng ký 293,05 triệu USD, tăng 6 dự án và tăng 267,32 triệu USD về vốn so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, Hàn Quốc có 4 dự án với tổng số vốn đăng ký 1,33 triệu USD, bao gồm 2 dự án về dịch vụ tư vấn bất động sản, 1 dự án về giáo dục và 1 dự án về sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ; Hồng Kông-Trung Quốc 4 dự án với số vốn đăng ký 287,04 triệu USD, bao gồm 1 dự án về công nghiệp xử lý rác thải rắn, 1 dự án sản xuất đồ chơi trẻ em và 2 dự án về may mặc; 1 dự án của Đài Loan-Trung Quốc với số vốn đăng ký 0,13 triệu USD về xuất nhập khẩu; 1 dự án của Nhật Bản  với số vốn đăng ký 0,05 triệu USD về giáo dục, đào tạo; 1 dự án của Hoa Kỳ với số vốn đăng ký 4,50 triệu USD về sản xuất dệt.
4. Thương mại, dịch vụ và giá cả
a. Bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 11/2019 ước đạt 3.634,0  tỷ đồng, tăng 1,17% so với tháng trước và tăng 12,56% so với cùng kỳ năm trước. Xét theo ngành hàng, doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 11/2019 ước đạt 2.834,6 tỷ đồng, chiếm 78,00% trong tổng số, tăng 0,91% so với tháng trước và tăng 13,17% so với cùng kỳ năm trước; nguyên nhân tăng so với tháng trước là do nhu cầu mua sắm một số mặt hàng có xu hướng tăng như: Lương thực, thực phẩm tăng 2,28%; hàng may mặc tăng 0,86%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 0,60%; ô tô tăng 10,84%; đá quý, kim loại quý tăng 1,28%. Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống đạt 592,8 tỷ đồng, chiếm 16,31%, tương ứng tăng 2,35% và tăng 9,54%; doanh thu dịch vụ du lịch lữ hành đạt 15,3 tỷ đồng, chiếm 0,42%, tăng 3,44% và tăng 7,17%; doanh thu dịch vụ khác 191,2 tỷ đồng, chiếm 5,26%, tăng 1,18% và tăng 13,57%.
Tính chung mười một tháng đầu năm 2019, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trên địa bàn ước đạt 38.907,0 tỷ đồng, tăng 11,49% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, kinh doanh bán lẻ hàng hóa đạt 30.273,3 tỷ đồng, chiếm 77,81% tổng số và tăng 11,74%; dịch vụ lưu trú và ăn uống 6.460,1tỷ đồng, chiếm 16,60% và tăng 11,15%; du lịch lữ hành 174,6 tỷ đồng, chiếm 0,45% và tăng 9,08%; dịch vụ khác 1.999,1 tỷ đồng, chiếm 5,14% và tăng 9,36%. 
b. Vận tải hành khách và hàng hóa 
Vận tải hành khách tháng 11/2019 ước đạt 2.115,8 nghìn lượt khách và 108,4 triệu lượt khách.km, tăng 0,52% về lượt khách và tăng 0,71% về lượt khách.km so với tháng trước; tăng 9,45% về lượt khách và tăng 9,94% về lượt khách.km so cùng kỳ năm trước.
Dự ước vận tải hành khách mười một tháng đầu năm 2019 đạt 22.747,3 nghìn lượt khách, tăng 9,54% và 1.148,4 triệu lượt khách.km tăng 9,93% so cùng kỳ năm trước, trong đó vận tải hành khách đường bộ ước đạt 21.970,8 nghìn lượt khách, tăng 10,05% và 1.145,0 triệu lượt khách.km, tăng 9,97%.
Vận tải hàng hóa tháng 11/2019 ước đạt 1.091,9 nghìn tấn và 92,0 triệu tấn.km, tăng 0,30% về tấn và giảm 0,42% về tấn.km so với tháng trước; tăng 15,84% về tấn và tăng 21,46% về tấn.km so cùng kỳ năm trước.
Dự ước vận tải hàng hóa mười một tháng đầu năm 2019 đạt 11.213,9 nghìn tấn, tăng 11,51% và 969,5 triệu tấn.km, tăng 13,37% so cùng kỳ năm trước, trong đó vận tải hàng hóa đường bộ ước đạt 11.124,1 nghìn tấn, tăng 11,82% và 874,5 triệu tấn.km tăng 14,13%; đường biển 81,4 nghìn tấn, tăng 5,89% và 94,9 triệu tấn.km, tăng 7,16%.
Doanh thu vận tải, bốc xếp và bưu chính chuyển phát tháng 11/2019 ước đạt 249,5 tỷ đồng, tăng 0,42% so với tháng trước và tăng 14,08% so cùng kỳ năm trước. Tính chung mười một tháng đầu năm 2019, doanh thu vận tải, bốc xếp và bưu chính chuyển phát ước đạt 2.622,3 tỷ đồng, tăng 12,55% so với cùng kỳ năm trước, trong đó đường bộ đạt 2.460,4 tỷ đồng, tăng 12,24%; đường biển 157,3 tỷ đồng, tăng 18,96%. Chia theo loại hình dịch vụ: doanh thu vận tải hành khách đạt 680,6 tỷ đồng, tăng 10,83%; doanh thu vận tải hàng hóa đạt 1.745,7 tỷ đồng, tăng 12,61%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính chuyển phát đạt 196,0 tỷ đồng, tăng 18,45%.
c. Lượt khách các cơ sở lưu trú phục vụ và du lịch lữ hành
Dự ước lượt khách cơ sở lưu trú phục vụ tháng 11/2019 đạt 185,9 nghìn lượt khách, tăng 9,75% so với tháng trước và tăng 5,56% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: Lượt khách ngủ qua đêm đạt 164,7 nghìn lượt khách, tương ứng tăng 9,97% và tăng 5,59%; lượt khách trong ngày đạt 21,2 nghìn lượt khách, tăng 8,07% và tăng 5,34%. 
Trong tổng số lượt khách ngủ qua đêm tháng 11/2019, lượt khách quốc tế ước đạt 102,2 nghìn lượt khách, tăng 20,34% so với tháng trước và tăng 10,03% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách trong nước đạt 62,5 nghìn lượt khách, tương ứng giảm 3,60% và giảm 0,95%. 
Tính chung mười một tháng đầu năm 2019, tổng lượt khách cơ sở lưu trú phục vụ ước đạt 2.042,7 nghìn lượt khách, tăng 6,92% so cùng kỳ năm trước; trong đó lượt khách ngủ qua đêm 1.803,4 nghìn lượt, tăng 6,83%; lượt khách trong ngày 239,4 nghìn lượt, tăng 7,63%.
Trong tổng số lượt khách ngủ qua đêm mười một tháng đầu năm, khách quốc tế ước đạt 979,6 nghìn lượt khách, tăng 9,92% so với cùng kỳ; lượt khách trong nước đạt 823,7 nghìn lượt khách, tăng 3,38%.
Ngày khách cơ sở lưu trú phục vụ tháng 11/2019 ước đạt 339,6 nghìn ngày khách, tăng 11,23% so với tháng tháng trước và tăng 5,33% so với cùng kỳ năm trước, chia ra ngày khách quốc tế đạt 222,8 nghìn ngày khách, tương ứng tăng 21,88% và tăng 9,14%; ngày khách trong nước 116,8 nghìn ngày khách, giảm 4,65% và giảm 1,24%. Đưa tổng ngày khách cơ sở lưu trú phục vụ mười một tháng đầu năm 2019 ước đạt 3.607,5  nghìn ngày, tăng 6,29% so cùng kỳ năm trước; trong đó, ngày khách quốc tế 2.066,1 nghìn ngày, tăng 8,99%; ngày khách trong nước 1.541,4 nghìn ngày, tăng 2,87%.
Doanh thu cơ sở lưu trú ước thực hiện tháng 11/2019 đạt 151,2 tỷ đồng, tăng 10,66% so với tháng trước và tăng 6,79% so cùng kỳ năm trước. Đưa doanh thu cơ sở lưu trú mười một tháng đầu năm 2019 ước đạt 1.582,9 tỷ đồng, tăng 8,11% so cùng kỳ năm trước.
Hoạt động du lịch lữ hành tháng 11/2019 ước tính lượt khách du lịch theo tour đạt 8,8 nghìn lượt, tăng 2,44% so với tháng trước và tăng 5,54% so cùng kỳ năm trước. Đưa tổng lượt khách theo tour thực hiện mười một tháng đầu năm 2019 ước đạt 103,7 nghìn lượt, tăng 7,45% so cùng kỳ năm trước. Dự ước ngày khách theo tour tháng 11/2019 đạt 18,9 nghìn ngày, tăng 2,77% so với tháng trước và tăng 6,94% so cùng kỳ năm trước. Đưa tổng ngày khách theo tour mười một tháng đầu năm 2019 ước đạt 218,1 nghìn ngày, tăng 7,77% so cùng kỳ năm trước.
d. Giá cả
- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
Chỉ số giá tiêu dùng chung toàn tỉnh tháng 11/2019 tăng 0,82% so với tháng trước. Nguyên nhân chủ yếu là do giá lợn tăng cao sau một thời gian dài ảnh hưởng bởi dịch tả lợn Châu Phi làm cho chỉ số giá tiêu dùng tháng 11 tăng mạnh, giá cả các mặt hàng lương thực, thực phẩm khác trong tháng tăng nhẹ so với tháng trước. Các nhóm hàng hóa dịch vụ có chỉ số giá tăng so với tháng trước gồm: Nhóm lương thực tăng 0,46%; thực phẩm tăng 3,61%; ăn uống ngoài gia đình tăng 0,11%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,03%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,30%;  thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,03%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,09%. Nhóm thuốc, dịch vụ y tế;  nhóm giáo dục và nhóm bưu chính viễn thông có chỉ số giá không tăng giảm so với tháng trước. Nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,21%; giao thông giảm 0,79%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,15% so tháng trước.
Chỉ số giá tiêu dùng chung toàn tỉnh tháng 11/2019 tăng 4,38% so với tháng 12 năm trước và tăng 4,43% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân mười một tháng đầu năm 2019 tăng 2,82% so với bình quân cùng kỳ năm 2018.
- Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ 
Chỉ số giá vàng tháng 11/2019 giảm 0,26% so với tháng trước, tăng 18,21% so với tháng 12 năm trước và tăng 18,78% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 11/2019 không tăng không giảm so với tháng trước, giảm 0,41% so với tháng 12 năm trước và giảm 0,44% so với cùng kỳ năm trước. 
5. Tài chính, ngân hàng
Tài chính : Tổng thu ngân sách nhà nước mười một tháng năm 2019 ước đạt 7.381,6 tỷ đồng, bằng 102,33% dự toán. Trong đó:
- Thu nội địa ước đạt 6.916,5 tỷ đồng, bằng 104,34% dự toán. Trong đó, thu doanh nghiệp nhà nước ước đạt 387,3 tỷ đồng, bằng 91,13% dự toán; thu doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 2.070,1 tỷ đồng, bằng 98,57% dự toán; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài nhà nước 1.117,7 tỷ đồng, bằng 96,18% dự toán; thu thuế thu nhập cá nhân 336,1 tỷ đồng, bằng 105,04% dự toán; thuế bảo vệ môi trường 636,1 tỷ đồng, bằng 92,18% dự toán.
- Thu thuế từ hoạt động xuất nhập khẩu ước đạt 441,6 tỷ đồng, bằng 79,65% dự toán. 
Tổng chi ngân sách địa phương mười một tháng năm 2019 ước đạt 8.103,7 tỷ đồng, bằng 87,2% dự toán, trong đó chi đầu tư phát triển 2.020,7 tỷ đồng, bằng 77,32% dự toán; chi sự nghiệp kinh tế 633,6 tỷ đồng, bằng 86,95% dự toán; chi sự nghiệp giáo dục đào tạo 2.667,1 tỷ đồng, bằng 94,17% dự toán; chi sự nghiệp y tế 618,6 tỷ đồng, bằng 91,74% dự toán; chi quản lý nhà nước 1.214,0 tỷ đồng, bằng 97,76% dự toán.
Ngân hàng : Dự ước đến cuối tháng 10/2019, tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn đạt 47.628 tỷ đồng, tăng 10,4% so với đầu năm; tổng dư nợ đạt 48.607 tỷ đồng, tăng 6,8%.
Đến cuối tháng 10/2019 ước cho vay một số lĩnh vực ưu tiên: Cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn đạt 9.909 tỷ đồng, giảm 7,6% so với đầu năm; cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt 11.256 tỷ đồng, giảm 0,31%; cho vay phát triển SXKD hàng xuất khẩu đạt 2.940 tỷ đồng, giảm 6,1%; cho vay ngành công nghiệp hỗ trợ đạt 416 tỷ đồng, tăng 2,6%.
Về lãi suất, các chi nhánh Tổ chức tín dụng trên địa bàn duy trì mức lãi suất huy động và cho vay ổn định so với tháng trước, cụ thể:
Lãi suất huy động không có kỳ hạn hoặc có kỳ hạn dưới 1 tháng phổ biến tối đa ở mức 0,8%/năm; kỳ hạn từ 1 tháng đến 6 tháng ở mức 4,3% - 5,0%; từ 6 tháng đến dưới 12 tháng ở mức 5,4% - 6,0%/năm; kỳ hạn từ 12 tháng trở lên phổ biến ở mức 6,5% - 7,3%/năm. Lãi suất huy động ngoại tệ phổ biến bằng mức trần do NHNN quy định là 0%/năm đối với tổ chức và cá nhân. 
Lãi suất cho vay các lĩnh vực SXKD thông thường phổ biến ở mức 6,0% - 9%/năm đối với vay ngắn hạn; ở mức 9,0% - 11%/năm đối với trung, dài hạn. Lãi suất cho vay ngoại tệ phổ biến ở mức 2,8% - 5,0%/năm. 
6. Các vấn đề xã hội
a. Giáo dục – Đào tạo
Tính đến đầu năm học 2019-2020, toàn tỉnh có 370 trường phổ thông, giảm 13 trường so với năm học trước, nguyên nhân do sáp nhập một số trường tiểu học trên địa bàn tỉnh; trong đó tiểu học 200 trường, giảm 13 trường; trung học cơ sở 132 trường, bằng so với cùng kỳ; trung học phổ thông 38 trường, bằng so với cùng kỳ. Toàn tỉnh hiện có 11.575 giáo viên, tăng 30 giáo viên so với năm học trước, trong đó: cấp tiểu học có 5.065 giáo viên, tăng 29 giáo viên; trung học cơ sở 4.096 giáo viên, giảm 13 giáo viên; trung học phổ thông 2.414 giáo viên, tăng 14 giáo viên. Toàn tỉnh hiện có 201.428 học sinh, tăng 2.870 học sinh so với năm học trước, trong đó: có 95.778 học sinh tiểu học, tăng 2.558 học sinh; 67.534 học sinh trung học cơ sở, giảm 369 học sinh; 38.116 học sinh trung học phổ thông, tăng 681 học sinh.
Năm học 2019-2020, Đại học Huế có 8.598 sinh viên được gọi nhập học theo nguyện vọng, đạt 76% chỉ tiêu tuyển sinh và giảm 1,65% so với năm học trước. Các trường có số lượng sinh viên nhập học giảm: Đại học Luật giảm 7,28%; Khoa giáo dục thể chất giảm 25,0%; ĐH Nông lâm giảm 29,49%; ĐH Khoa học giảm 20,94%.
b. Tình hình y tế, dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm
Tháng 10/2019, toàn tỉnh 692 ca mắc sốt xuất huyết, tăng 612 ca với cùng kỳ; 3 ca mắc viêm gan siêu trùng, bằng so với cùng kỳ; 25 ca mắc bệnh Tay-Chân-Miệng, giảm 74 ca. Không có trường hợp tử vong. Không có ca mắc sốt rét, giảm 1 ca, không ca mắc liên cầu lợn, thương hàn và viêm não vi rút, bằng cùng kỳ năm trước. Tính từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh có 4 ca mắc sốt rét, giảm 6 ca so với cùng kỳ năm trước; 1.852 ca mắc sốt xuất huyết, tăng 1.673 ca; 23 ca mắc viêm gan siêu trùng, giảm 23 ca; 97 ca mắc bệnh Tay-Chân-Miệng, giảm 100 ca; 3 ca mắc liên cầu lợn, giảm 4 ca. Không có trường hợp tử vong. Không có ca mắc thương hàn và viêm não vi rút, bằng cùng kỳ năm trước.
Tháng 10/2019, qua kiểm tra đã phát hiện 6 ca nhiễm HIV, giảm 1 ca so cùng kỳ năm trước; không có ca chuyển qua AIDS, không tăng không giảm so với cùng kỳ; không có ca tử vong do AIDS, không tăng không giảm so cùng kỳ. Tính từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 100 ca nhiễm mới HIV, tăng 20 ca so với cùng kỳ năm trước; có 2 ca chuyển qua AIDS, giảm 5 ca; có 6 ca tử vong, tăng 3 ca. Hiện tại, trên địa bàn tỉnh có 385 bệnh nhân HIV đang được quản lý và điều trị tại các cơ sở y tế, trong đó có 381 bệnh nhân điều trị ARV.
Tình hình ngộ độc thực phẩm: Từ 16/10/2019 đến 15/11/2019 trên địa bàn tỉnh không có trường hợp ngộ độc thực phẩm nào xảy ra. Từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh xảy ra 3 vụ ngộ độc thực phẩm, tăng 2 vụ so với cùng kỳ năm trước, làm 92 người bị ngộ độc, không có trường hợp tử vong. 
c. Hoạt động văn hóa, thể thao
Từ ngày 1-3/11/2019, tại Nhà thiếu nhi thành phố Huế đã diễn ra giải bóng bàn Cây vợt măng non 2019. Giải thu hút hơn 100 tay vợt nhí đến từ 21 Trường tiểu học, THCS trên địa bàn thành phố. 
Giải vô địch Bowling các đội mạnh toàn quốc 2019 diễn ra từ ngày 7-13/11/2019 tại Trung tâm C’Bowling thuộc Công ty TNHH Rạp chiếu phim thể thao và giải trí ngôi sao Huế. Giải thu hút hơn 50 VĐV đến từ các câu lạc bộ trong cả nước tranh tài ở 9 nội dung thi đấu. Kết thúc giải, CLB Cần Thơ đã giành giải Nhất toàn đoàn với 05 HCV.
Tối 9/11, tại nhà thi đấu Khoa Giáo dục Thể chất – ĐH Huế khai mạc giải Vovinam sinh viên toàn quốc lần thứ II. Tham gia 28 đoàn với gần 400 VĐV đại diện cho các trường ĐH và cao đẳng trên cả nước.
d. Tai nạn giao thông( )
Từ 16/10/2019 đến 15/11/2019, trên địa bàn tỉnh xảy ra 21 vụ tai nạn và va chạm giao thông đường bộ, giảm 7 vụ so với cùng kỳ năm trước; làm chết 12 người, không tăng giảm so với cùng kỳ; bị thương 15 người, giảm 8 người. Tai nạn đường sắt không xảy ra, giảm 1 vụ so với cùng kỳ, không có người bị thương, giảm 1 người.
Tính từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 335 vụ tai nạn và va chạm giao thông, tăng 31 vụ so với cùng kỳ năm trước; làm chết 176 người, tăng 13 người; bị thương 272 người, tăng 26 người. Trong đó, tai nạn đường bộ xảy ra 323 vụ, tăng 24 vụ so với cùng kỳ; làm chết 169 người, tăng 9 người; bị thương 269 người, tăng 25 người. Tai nạn đường sắt xảy ra 12 vụ, tăng 7 vụ; làm chết 7 người, tăng 4 người; bị thương 3 người, tăng 1 người. Tai nạn đường thủy không xảy ra, không tăng giảm so cùng kỳ.
e. Tình hình cháy nổ và bảo vệ môi trường
Từ 16/10/2019 đến ngày 15/11/2019, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 3 vụ cháy, giảm 4 vụ so với cùng kỳ năm trước, giá trị thiệt hại không đáng kể, nguyên nhân chủ yếu do sự cố hệ thống thiết bị điện. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 97 vụ cháy, tăng 38 vụ so cùng kỳ năm trước; làm chết 3 người và bị thương 1 người; tổng giá trị thiệt hại 44,6 tỷ đồng . 
Từ ngày 16/10/2019 đến 15/11/2019, các ngành chức năng đã phát hiện 10 vụ vi phạm môi trường, giảm 3 vụ so với cùng kỳ năm trước. Đã tiến hành xử lý 10 vụ với tổng số tiền xử phạt 74,5 triệu đồng. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 226 vụ vi phạm môi trường, tăng 72 vụ so cùng kỳ năm trước, đã tiến hành xử lý 225 vụ với tổng số tiền phạt 883,4 triệu đồng. Các hành vi vi phạm chủ yếu: Khai thác cát trái phép, đánh bắt thủy sản hủy diệt, thải nước thải ra môi trường không qua xử lý; vận chuyển đất đá, cát sạn rơi vãi và vận chuyển thực phẩm bẩn không rõ nguồn gốc, vận chuyển động vật không đảm bảo điều kiện thú y, giết mổ động vật không đúng quy định.

Gửi bởi    

HỆ THỐNG TÊN MIỀN MẠNG GSO
MÁY CHỦ TÊN MIỀN .GSO:
Chính:       10.0.1.1
Dự phòng: 10.0.1.2
  • Góc người dùng
Tên đăng nhập:
Mật khẩu:



Bạn đang dùng -

IP:18.208.132.33

Thống kê

Lượt truy cập  15087
Đang trực tuyến   12