MyLabel

Tình hình kinh tế xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2019

12/29/2019
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI 
NĂM 2019

Năm 2019, năm có ý nghĩa quan trọng trong thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội thời kỳ 5 năm 2016 - 2020. Năm chuẩn bị tiến hành Đại hội Đảng cấp cơ sở, tiến tới Đại hội Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2020-2025. Mục tiêu phát triển kinh tế của tỉnh năm 2019 trọng tâm là phát triển du lịch - dịch vụ; công nghệ thông tin, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh để phát triển doanh nghiệp và đẩy mạnh đổi mới sáng tạo; gắn phát triển kinh tế với bảo đảm an sinh xã hội và bảo vệ môi trường.
Kinh tế-xã hội trên địa bàn tỉnh năm 2019 diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới có xu hướng tăng trưởng chậm lại với các bất ổn và rủi ro gia tăng, đặc biệt cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường tác động tiêu cực đến dòng chảy thương mại và thị trường tài chính quốc tế, đầu tư giảm sút. Trong nước, kinh tế vĩ mô ổn định, tăng trưởng GDP đạt cao, hoàn thành toàn diện, vượt mức 12/12 chỉ tiêu Quốc hội giao tuy phải đối mặt với những khó khăn, thách thức do thời tiết diễn biến phức tạp ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng cây trồng; ngành chăn nuôi suy giảm do dịch tả lợn châu Phi xảy ra trên diện rộng và chưa được khống chế; giải ngân vốn đầu tư công đạt thấp. Trong tỉnh, bên cạnh việc tập trung xây dựng các nhân tố mới trong thu hút đầu tư, phát triển du lịch - dịch vụ, xây dựng chính phủ điện tử và nền kinh tế số làm động lực thúc đẩy tăng trưởng, hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh vẫn còn nhiều khó khăn trước tác động chung về tình hình thiên tai, dịch bệnh cả nước, nhất là hạn hán trên diện rộng, kéo dài ở khu vực miền Trung làm giảm năng suất, sản lượng các loại cây hàng năm chủ lực của tỉnh; thiếu nước vận hành các nhà máy thủy điện; nạn cháy rừng gia tăng.
Thực hiện Nghị quyết của Chính phủ, Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh về những nhiệm vụ, giải pháp chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2019; với sự nỗ lực của các cấp, các ngành và các địa phương trong tỉnh, kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh năm 2019 tiếp tục duy trì ổn định và phát triển. Ngày 10/12/2019, Bộ chính trị đã ban hành Nghị quyết số 54-NQ/TW về xây dựng Thừa Thiên Huế đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, theo đó: Mục tiêu và tầm nhìn đến năm 2025, Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trên nền tảng bảo tồn, phát huy giá trị di sản cố đô và bản sắc văn hóa Huế, với đặc trưng văn hóa, di sản, sinh thái, cảnh quan, thân thiện với môi trường và thông minh.
Kết quả một số chỉ tiêu kinh tế xã hội chủ yếu đạt được năm 2019 theo Nghị quyết của HĐND tỉnh như sau:

           

Chỉ tiêu

Thực hiện năm 2018

Ước thực hiện năm 2019

Chỉ tiêu Nghị quyết năm 2019

Chỉ tiêu kinh tế

 

 

 

1. Tốc độ tăng Tổng sản phẩm GRDP (%)                       

6,60

7,18

7,5-8,0

Tr.đó:

     - Nông lâm nghiệp thủy sản (%)

4,1

-4,13

2,3

     - Công nghiệp-Xây dựng  (%)

7,88

11,32

10,5

     - Dịch vụ  (%)

6,75

7,39

 6,9

     - Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm

5,09

8,37

5,6

2. Giá trị xuất khẩu (Triệu USD)

846

950

1.055

3. Tổng vốn đầu tư phát triển (Tỷ đồng)

19.740

22.700

22.700

4. Tổng thu ngân sách nhà nước (Tỷ đồng)[1]   

7.788

7.787

7.213

Chỉ tiêu xã hội

 

 

 

1. Tỷ suất sinh (%o)  

giảm 0,2

giảm 0,2

giảm 0,2

    Tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên (%)                               

1,08

1,08

1,08

2. Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn (theo chuẩn hiện hành) (%)             

5,03

4,17

4,35

3. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng                

     - Theo cân nặng (%)

     - Theo chiều cao (%)

 

7,6

10,4

 

7,6

10,4

< 7,6

<10,4

4. Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế (%)

95

98,5

98,1

5. Tỷ lệ lao động được đào tạo nghề đạt  (%)                      

62

64

64

6. Tạo việc làm mới (người)

16.600

16.000

16.000

Chỉ tiêu môi trường

 

 

 

1.Tỷ lệ hộ nông thôn sử dụng nước sạch (%)                     

80,0

85,0

85,0

2. Tỷ lệ che phủ rừng (%)                                                        

57,3

57,3

57,3

3.Tỷ lệ chất thải rắn ở đô thị được thu gom (%).

94,0

96,0

96,0



[1] Nguồn: Sở Tài chính tỉnh.



1. Tăng trưởng kinh tế
Tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) năm 2019 ước tăng 7,18%  so với năm trước, cao hơn mức tăng 6,6% của năm 2018. Trong đó khu vực Công nghiệp xây dựng tăng 11,32% (năm 2018 tăng 7,88%), đóng góp 3,48 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung; khu vực Dịch vụ tăng 7,39% (năm 2018 tăng 6,75%), đóng góp 3,53 điểm phần trăm; khu vực Nông lâm thủy sản giảm 4,13% (năm 2018 tăng 4,1%), đóng góp -0,54 điểm phần trăm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 8,37% (năm 2018 tăng 5,09%), đóng góp 0,70 điểm phần trăm.
Tăng trưởng GRDP năm 2019 cao hơn mức tăng năm trước nhưng chưa đạt kế hoạch đề ra chủ yếu do khu vực nông lâm thủy sản giảm sâu. Tăng trưởng âm khu vực nông lâm thủy sản đã làm tăng trưởng chung của nền kinh tế năm 2019 giảm hơn 0,54 điểm %. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm chủ yếu do tình trạng nắng hạn diện rộng, kéo dài ảnh hưởng tới năng suất, sản lượng cây trồng, một số loại cây chủ lực sản lượng trong năm giảm mạnh như cây lúa giảm 2,3% so năm trước; lạc giảm 25,1%; ớt cay giảm 15,6%; cây thanh trà giảm 14,6%, mủ cao su giảm 2,7%. Ngành chăn nuôi thiệt hại nặng nề bởi dịch tả lợn châu Phi kéo dài và xảy ra trên diện rộng chưa được khống chế, đã làm sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng trong năm giảm hơn 42% so năm trước. Ước tính cả năm 2019 giá trị sản xuất ngành trồng trọt và chăn nuôi giảm hơn 9,8%, là mức giảm rất lớn, ít xảy ra trong nhiều năm trở lại đây. 
Khu vực công nghiệp xây dựng tăng trưởng khá chủ yếu nhờ ngành sản xuất điện tăng trở lại (năm 2018 giảm); một số nhà máy sản xuất men frit, vỏ lon nhôm, gạch men,… được nâng công suất vào những tháng cuối năm 2018 đã phát huy năng lực tăng thêm trong năm 2019; ngoài ra, một số nhà máy mới đưa vào hoạt động trong năm nay cũng đóng góp khá vào tăng trưởng. Tuy nhiên trong năm 2019, một số sản phẩm chủ lực có mức tăng âm như xi măng, tôm đông lạnh, ô tô,... đã kéo lùi tăng trưởng toàn ngành công nghiệp gần 0,88 điểm %. Ngành xây dựng năm nay chuyển biến tốt, tăng trưởng đạt cao trên 8,9%.
Khu vực dịch vụ trong năm 2019 đạt mức tăng khá nhờ đưa vào khai thác một số cơ sở thương mại, du lịch, dịch vụ nghỉ dưỡng, nhà hàng mới, nhất là Tổ hợp Trung tâm Thương mại Vincom Plaza Huế và Khách sạn 5 sao Vinpearl Huế cùng với chuỗi siêu thị Vinmarrt, Vinpro, đã tác động làm doanh thu thương mại tăng khá. Hoạt động du lịch trên địa bàn có những khởi sắc; các hoạt động lưu trú, ăn uống; vận tải; dịch vụ tài chính, ngân hàng; viễn thông; y tế chuyển biến tích cực. 
Năng lực mới tăng 6 tháng cuối năm 2018 và cả năm 2019 đóng góp vào tăng trưởng năm 2019: Trong ngành công nghiệp, năng lực mới tăng ngành dệt may đóng góp 0,5 điểm % vào tăng trưởng chung 12,09% của ngành công nghiệp; năng lực mới tăng ngành sản xuất bia đóng góp 0,31%; năng lực mới tăng ngành sợi đóng góp 0,3%; năng lực mới tăng ngành sản xuất vỏ lon nhôm đóng góp 0,54%; năng lực mới tăng ngành sản xuất gạch men đóng góp 0,5%; năng lực mới tăng ngành sản xuất men Frit đóng góp 1,54%; năng lực mới tăng ngành sản xuất điện đóng góp 0,54%; năng lực mới tăng một số ngành công nghiệp khác đóng góp 0,6%. Như vậy, tổng năng lực mới tăng ngành công nghiệp năm 2019 đóng góp 4,83 điểm % trong tăng trưởng 12,09% ngành công  nghiệp và đóng góp gần 1,2 điểm % trong tăng trưởng chung của nền kinh tế. Năng lực mới tăng năm 2019 khu vực dịch vụ đóng gần 0,3 điểm % trong tăng trưởng chung.
Quy mô nền kinh tế tỉnh năm 2019 theo giá hiện hành ước đạt 52.746,9 tỷ đồng. GRDP bình quân đầu người/năm đạt 46,7 triệu đồng (tương đương 2.007 USD). Về cơ cấu nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 11,38%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 31,81%; khu vực dịch vụ chiếm 48,40%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 8,41%. Cơ cấu tương ứng của năm 2018: 12,61%; 30,99%; 48,09%; 8,31%.
2. Tài chính, ngân hàng
Tài chính: Tổng thu ngân sách nhà nước năm 2019 ước đạt 7.787 tỷ đồng, bằng 108,0% dự toán năm và bằng so với năm trước. Trong đó:
- Thu nội địa đạt 7.300 tỷ đồng, bằng 110,11% dự toán, tăng 7,32%. Trong thu nội địa: Thu doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 2.250 tỷ đồng, bằng 107,13% dự toán, tăng 6,51%; thu doanh nghiệp Nhà nước 400 tỷ đồng, bằng 86,44% dự  toán, giảm 4,11%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 1.162 tỷ đồng, bằng 100,0% dự toán, tăng 5,53%; thuế thu nhập cá nhân 342 tỷ đồng, bằng 106,92% dự toán, tăng 16,24%; thuế bảo vệ môi trường 690 tỷ đồng, bằng 100,0% dự toán, tăng 33,32%.
- Thu thuế từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 455 tỷ đồng, bằng 82,13% dự toán, giảm 17,11%. 
Tổng chi ngân sách địa phương năm 2019 ước đạt 9.587 tỷ đồng, bằng 94,72% dự toán, trong đó chi đầu tư phát triển 2.322 tỷ đồng, bằng 77,72% dự toán; chi sự nghiệp kinh tế 866 tỷ đồng, bằng 118,83% dự toán; chi sự nghiệp giáo dục đào tạo 2.923 tỷ đồng, bằng 103,21% dự toán; chi sự nghiệp y tế 675 tỷ đồng, bằng 100,15% dự toán; chi quản lý Nhà nước 1.282 tỷ đồng, bằng 103,23% dự toán.
Ngân hàng( ): Tổng nguồn vốn huy động đến cuối năm 2019 ước đạt 48.500 tỷ đồng, tăng 12,5% so với đầu năm; tổng dư nợ tín dụng ước đạt 49.700 tỷ đồng, tăng 9,2%.
Tính đến ngày 30/11/2019, cho vay một số lĩnh vực ưu tiên theo chính sách của Chính phủ: Cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn đạt 10.021 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 21,7% trong dư nợ tín dụng, tăng 8,8% so với đầu năm; cho vay hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt 11.349 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 24,5%, tăng 0,5%; cho vay phát triển SXKD hàng xuất khẩu đạt 2.952 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 6,4%, giảm 5,7%; cho vay ngành công nghiệp hỗ trợ đạt 419 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 6,4%, tăng 3,1%.
Về lãi suất, các tổ chức tín dụng trên địa bàn duy trì mức lãi suất huy động và cho vay ổn định, cụ thể:
Lãi suất huy động bằng VND tối đa ở mức 0,8%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn hoặc có kỳ hạn dưới 1 tháng, kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng ở mức 4,3-5,0%/năm, kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng từ 5,4-6,0%/năm, kỳ hạn từ 12 tháng trở lên ở mức 6,5-7,3%/năm. Lãi suất cho vay bằng VND đối với các lĩnh vực ưu tiên ở mức 6%/năm đối với ngắn hạn, Lãi suất cho vay các lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường ở mức 6-9%/năm đối với ngắn hạn; 9-11%/năm đối với trung và dài hạn.
Lãi suất huy động USD phổ biến bằng mức trần do NHNN quy định là 0,0%/năm đối với tiền gửi của tổ chức và cá nhân. Lãi suất cho vay USD ở mức 2,8-5%/năm.
3. Chỉ số giá tiêu dùng
Chỉ số giá tiêu dùng chung toàn tỉnh tháng 12/2019 tăng 1,63% so với tháng trước và tăng 6,08% so cùng kỳ năm trước, đây là tháng có chỉ số giá tăng  cao so với các tháng của năm 2019. Nguyên nhân tăng giá trong tháng 12 do giá thực phẩm, chủ yếu là thịt lợn tăng cao, các mặt hàng còn lại chỉ tăng nhẹ hoặc giảm. Các nhóm hàng hóa dịch vụ có chỉ số giá tăng so với tháng trước gồm: Nhóm thực phẩm tăng 5,69%; nhóm lương thực tăng 0,61%; nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 0,92% may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,74%; giao thông tăng 0,6%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,22%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,21%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,02%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,15%. Nhóm giáo dục, bưu chính viễn thông không tăng giảm. Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng giảm 0,1%; văn hoá, giải trí và du lịch giảm 0,02%.
Nhìn chung trong năm 2019, tình hình giá cả thị trường hàng hóa và dịch vụ trên địa bàn tỉnh không có những biến động lớn ngoài việc giá thịt lợn tăng cao vào tháng cuối năm. Bình quân năm 2019 chỉ số giá tiêu dùng chung toàn tỉnh tăng 3,09% so với bình quân năm 2018. Nguyên nhân chỉ số giá tăng trong năm chủ yếu do tác động từ việc điều chỉnh giá điện, nước tăng cao; giá các mặt hàng lương thực, thực phẩm, ăn uống ngoài gia đình và một số mặt hàng thiết yếu tăng nhẹ do nhu cầu tiêu dùng trong các dịp lễ, tết. Bên cạnh đó, việc tăng lương cơ bản từ ngày 1/7/2019 đã làm mức đóng bảo hiểm y tế tăng; tăng học phí của các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn; điều chỉnh tăng giá dịch vụ khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế theo Thông tư số 13/2019/TT-BYT của Bộ Y tế. Giá lợn được đẩy lên cao sau một thời gian dài ảnh hưởng bởi dịch tả lợn Châu Phi cũng tác động đẩy chỉ số giá tiêu dùng tăng trong tháng cuối năm.
Các nhóm hàng hóa dịch vụ có chỉ số giá bình quân năm 2019 tăng so cùng kỳ năm trước gồm: Nhóm giáo dục tăng 8,17%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 6,93%; thực phẩm tăng 5,13%; đồ uống và thuốc lá tăng 3,7%; hàng hóa và dịch vụ khác (chủ yếu chăm sóc, phục vụ cá nhân) tăng 4,4%; nhóm nhà ở, và vật liệu xây dựng tăng 2,19%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,2%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 2,15%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 2,24%. Nhóm giao thông giảm 0,71%; bưu chính viễn thông giảm 0,21%; lương thực giảm 0,35%. 

 

2015

2016

2017

2018

2019

Tháng 12 năm trước =100

 

 

 

 

 

Tháng 1

99,97

100,05

100,75

100,55

100,08

Tháng 2

100,15

100,60

100,98

101,35

101,22

Tháng 3

100,13

101,30

100,68

100,87

100,72

Tháng 4

100,28

101,45

100,41

100,89

101,20

Tháng 5

100,50

102,07

99,96

101,19

101,81

Tháng 6

100,78

102,47

99,72

101,55

101,63

Tháng 7

100,94

102,64

99,63

101,49

101,79

Tháng 8

100,75

104,16

100,46

101,70

102,17

Tháng 9

100,49

104,97

101,18

102,19

103,14

Tháng 10

100,62

105,01

101,60

102,53

103,52

Tháng 11

100,74

105,29

101,84

102,31

104,38

Tháng 12

100,82

105,56

102,12

102,36

106,08

- Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ 
Chỉ số giá vàng tháng 12/2019 giảm 0,31% so với tháng trước, tăng 17,84% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân năm 2019 tăng 8,37% so với bình quân năm trước. 
Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 12/2019 giảm 0,06% so với tháng trước, giảm 0,47% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân năm 2019 tăng 1,07% so với bình quân năm trước.
4. Vốn đầu tư
Tổng vốn đầu tư thực hiện theo giá hiện hành trên địa bàn năm 2019 ước đạt 22.700 tỷ đồng, bằng 100% KH năm, tăng 14,99% so năm trước; trong đó vốn do Trung ương quản lý 5.985 tỷ đồng, bằng 97% KH, tăng 7,16%, chiếm 26,37% tổng vốn; vốn do Địa phương quản lý 16.715 tỷ đồng, bằng 101,12% KH, tăng 18,09%, chiếm 73,63%.
Vốn thuộc ngân sách Nhà nước năm 2019 ước đạt 4.751 tỷ đồng, bằng 134,59% KH, tăng 32,71% so năm trước, chiếm 20,93% tổng vốn, gồm có: Vốn ngân sách Trung ương quản lý 1.100 tỷ đồng, bằng 115,79% KH, tăng 20,88%; vốn ngân sách Địa phương quản lý 3.651 tỷ đồng, bằng 141,51% KH, tăng 36,74%; Nguồn vốn tín dụng đạt 9.800 tỷ đồng, bằng 97,13% KH, tăng 12,22% so năm trước, chiếm 43,17% trong tổng vốn; vốn đầu tư của doanh nghiệp 3.170 tỷ đồng, bằng 100,63% KH, tăng 8,56%, chiếm 13,96%; vốn viện trợ 1.179 tỷ đồng, bằng 74,62% KH, giảm 14,25%, chiếm 5,19%; vốn đầu tư nước ngoài 1.200 tỷ đồng, bằng 60% KH, tăng 47,78%, chiếm 5,29%.
Tình hình thực hiện vốn đầu tư trên địa bàn trong năm 2019 tăng so năm trước, trong đó tập trung chủ yếu đẩy nhanh tiến độ thi công các dự án chuyển tiếp: Bảo tồn, tu bổ và tôn tạo di tích Cầu ngói Thanh Toàn; Đầu tư hệ thống cảm biến phục vụ phát triển dịch vụ Đô thị thông minh; Trường THPT Bình Điền (giai đoạn 2); Nâng cấp, sửa chữa các công trình trạm bơm chống hạn Tây Nam Hương Trà; Hệ thống thoát nước, xử lý nước thải khu công nghiệp và khu phi thuế quan; Đường cứu hộ cứu nạn Thủy phù - Vinh Thanh; Đường Chợ Mai - Tân Mỹ; Bảo tồn, tu bổ và phục hồi một số công trình di tích Cố đô; xây dựng văn phòng làm việc một số cơ quan đơn vị của tỉnh;... Tuy nhiên, một số dự án thực hiện còn chậm: DA cải thiện môi trường nước thành phố Huế; Bảo tồn, tu bổ và tôn tạo hệ thống Kinh thành Huế; Cầu Lợi Nông; tuyến đê A xã Vinh Hà huyện Phú Vang; Dự án "Chương trình phát triển các đô thị loại II (các đô thị xanh)-Tiểu dự án Thừa Thiên Huế; Kè chống sạt lở bờ sông Bồ đoạn qua thôn La Vân Thượng, xã Quảng Thọ. Nguyên nhân chậm chủ yếu do vướng mắc trong việc xác định giá đền bù nên công tác giải phóng mặt bằng gặp khó khăn.
Nguồn vốn doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh tiếp tục đầu tư vào các dự án và gấp rút hoàn thiện để đưa vào sử dụng: Dự án phức hợp Manor Crown; Khu nghỉ dưỡng nước khoáng nóng Mỹ An. Các dự án trọng điểm quốc gia BT và BOT tiếp tục thi công nhanh: Dự án La Sơn - Túy Loan; hầm Hải Vân giai đoạn II. Nhiều dự án chuyển tiếp được thực hiện nhanh các công đoạn cuối để đưa vào hoạt động: Các nhà máy thủy điện A Lin B1, A Lin B2, Rào Trăng 3; Dự án Movenpic Resort Lăng Cô. 
Nguồn vốn đầu tư nước ngoài trong kỳ chủ yếu thực hiện các dự án chuyển tiếp: Dự án Laguna giai đoạn 2; Dự án khu nghỉ dưỡng của Công ty Minh Viễn; Hạ tầng khu công nghiệp của công ty cổ phần Hello quốc tế Việt Nam;…
Tính từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh có 11 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký mới với tổng số vốn đăng ký 293,05 triệu USD. Trong đó, Hàn Quốc có 4 dự án với tổng số vốn đăng ký 1,33 triệu USD, bao gồm 2 dự án về dịch vụ tư vấn bất động sản, 1 dự án về giáo dục và 1 dự án về sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ; Hồng Kông-Trung Quốc 4 dự án với số vốn đăng ký 287,04 triệu USD, bao gồm 1 dự án về công nghiệp xử lý rác thải rắn, 1 dự án sản xuất đồ chơi trẻ em và 2 dự án về may mặc; 1 dự án của Đài Loan-Trung Quốc với số vốn đăng ký 0,13 triệu USD về xuất nhập khẩu; 1 dự án của Nhật Bản với số vốn đăng ký 0,05 triệu USD về giáo dục, đào tạo; 1 dự án của Hoa Kỳ với số vốn 4,50 triệu USD về sản xuất dệt.
5. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
a. Sản xuất nông nghiệp
Sản xuất nông nghiệp tháng 12/2019 tập trung chủ yếu gieo trồng cây hàng năm vụ đông và thu hoạch lúa vụ mùa. Tiến độ gieo trồng cây vụ đông năm nay đạt khá so cùng kỳ nhờ điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi. Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ đông đến 15/12/2019 ước đạt 1.374,4 ha, tăng 4,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cây ngô đạt 22 ha, tăng 15,8%; khoai lang 602 ha, giảm 2,6%; cây lạc 4,6 ha, giảm 4,2%; cây rau các loại 680 ha, tăng 11,7%; cây ớt cay 15,2 ha, tăng  4,1%; cây hoa các loại 45 ha, tăng 9,8%. 
Sản xuất nông nghiệp năm 2019 gặp nhiều khó khăn, diện tích các loại cây hàng năm giảm do thời tiết nắng nóng kéo dài với nền nhiệt độ cao nên xảy ra tình trạng khô hạn vụ hè thu ở một số địa phương, có khoảng 900 ha lúa, hoa màu bị khô hạn khá nặng tập trung ở huyện Phong Điền và A Lưới; diện tích cây trồng hạn thiếu nước gần 2.000 ha. Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm cả năm 2019 sơ bộ đạt 75.397 ha, giảm 0,3% so với năm 2018, chia ra vụ đông xuân đạt 45.067 ha, tăng 0,6%; vụ hè thu năm 2019 đạt 28.835 ha, giảm 1,5%; vụ mùa đạt 1.495 ha, giảm 5,9%. Trong đó diện tích lúa cả năm 2019 sơ bộ đạt 54.855 ha, tăng 0,2% so với năm 2018; bao gồm vụ đông xuân đạt 28.925 ha, tăng 1,3% so vụ đông xuân năm trước; vụ hè thu 25.481 ha, giảm 0,2%; vụ mùa 449 ha, giảm 30,8%. Năng suất lúa cả năm 2019 ước đạt 59,6 tạ/ha, giảm 1,5 tạ/ha, so năm 2018; chia ra: Năng suất vụ đông xuân đạt 62,6 tạ/ha, tăng 0,2 tạ/ha; năng suất vụ hè thu đạt 57,5 tạ/ha, giảm 3,2 tạ/ha; năng suất vụ mùa đạt 16 tạ/ha, giảm 0,5 tạ/ha. Sản lượng lúa cả năm 2019 sơ bộ đạt 326,7 nghìn tấn, giảm 2,3% so với năm 2018; bao gồm sản lượng lúa vụ đông xuân đạt 180,8 nghìn tấn, tăng 1,5% so vụ đông xuân năm trước; vụ hè thu đạt 145,2 nghìn tấn, giảm 6,4%; vụ mùa đạt 0,7 nghìn tấn, giảm 32,9%. 
Cơ cấu các nhóm giống lúa vụ đông xuân năm 2019 có chuyển biến tích cực, đã đưa vào một số mô hình ứng dụng kỹ thuật tiên tiến trong sản xuất nông nghiệp. Diện tích nhóm giống lúa trung và dài ngày chiếm khoảng 8,2%; nhóm ngắn ngày và cực ngắn chiếm 91,8%, trong đó khang dân chiếm 37,4%. Lúa chất lượng cao chiếm 37,8% diện tích. Tỷ lệ sử dụng giống lúa xác nhận đạt 92,5%. Cơ cấu giống lúa hè thu năm 2019, bố trí nhóm giống lúa ngắn ngày và cực ngắn, chủ lực là Khang dân, TH5, HT1, Iri352, HN6,… chiếm hơn 98,1% diện tích lúa. Các giống có ưu thế về thời gian sinh trưởng ngắn như PC6, TH5,... được tập trung bố trí gieo trên các diện tích gieo cấy muộn, vùng đất thấp trũng để thu hoạch sớm. Các địa phương tiếp tục mở rộng diện tích gieo cấy giống lúa chất lượng cao với tỷ lệ chiếm 23,6% tổng diện tích. Tỷ lệ giống lúa xác nhận đạt 92%.
Một số cây hàng năm khác năm 2019 như ngô sơ bộ đạt 1.594 ha, giảm 3%; khoai lang 1.729 ha, giảm 9,7%; sắn 6.143 ha, tăng 3,1%; lạc 3.173 ha, giảm 2,9%; rau các loại 4.761 ha, bằng so với năm trước; đậu các loại 1.289 ha, giảm 15%; hoa các loại 279 ha, tăng 8,7%; ớt cay 343 ha, giảm 6,7%. 
Thời tiết nắng nóng kéo dài là nguyên nhân chủ yếu làm giảm năng suất các loại cây hàng năm khác. Sơ bộ cả năm 2019 năng suất ngô đạt 39,9 tạ/ha, giảm 0,4 tạ/ha; sản lượng ngô sơ bộ đạt 6.360 tấn, giảm 3,9%. Tương tự năng suất, sản lượng khoai lang đạt 52,6 tạ/ha, giảm 1 tạ/ha và 9.085 tấn, giảm 11,4%; sắn đạt 188,3 tạ/ha, giảm 6,8 tạ/ha và 115.677 tấn, giảm 0,5%; lạc đạt 17,4 tạ/ha, giảm 5,1 tạ/ha và 5.518 tấn, giảm 25,1%; vừng đạt 4,8 tạ/ha, giảm 0,4 tạ/ha và 72 tấn, giảm 23,9%; rau các loại đạt 100,7 tạ/ha, tăng 0,4 tạ/ha và 47.924 tấn, tăng 0,4%; đậu các loại đạt 7,3 tạ/ha, bằng so với cùng kỳ và 944 tấn, giảm 14,7%; ớt cay đạt 80,1 tạ/ha, giảm 8,4 tạ/ha và 2.750 tấn, giảm 15,6%.
Thời tiết nắng nóng kéo dài trong năm 2019 làm cho quá trình sinh trưởng và phát triển các loại cây lâu năm gặp khó khăn. Kết quả điều tra diện tích cây lâu năm năm 2019, tổng diện tích hiện có đạt 11.598 ha, giảm 6,3% so năm 2018; trong đó chủ yếu là cây cao su giảm 8,4% so cùng kỳ , nguyên nhân giảm là do người dân ở một số địa phương chặt bán diện tích cao su già cỗi, kém phát triển cho sản lượng mủ thấp, hết chu kỳ khai thác để lấy gỗ, chuyển sang trồng rừng và trồng các loại cây lâu năm khác. Bên cạnh đó do giá mủ cao su đang ở mức thấp nên nhiều địa phương hạn chế trồng mới cây cao su. Diện tích hiện có cây ăn quả năm 2019 đạt 3.109 ha, tăng 0,5% so năm trước, trong đó các loại cây ăn quả chủ yếu như cây chuối đạt 835 ha, tăng 3,2%; cây ổi 102 ha, tăng 5,9%; cam 275 ha, tăng 4%; cây bưởi bòng thanh trà 1.120 ha,  giảm 1,8%; cây mãng cầu 12,6 ha, giảm 4%; dứa 190,2 ha, giảm 4,1%; quýt 61 ha, bằng cùng kỳ; nhãn 82 ha, giảm 0,6%; cây mít 81,3 ha, giảm 4,1%; hồng xiêm 31,4 ha, tăng 6,1%. Nguyên nhân diện tích một số loại cây ăn quả giảm chủ yếu do trồng phân tán, đã thu hoạch nhiều năm nên già cỗi, người dân chặt bỏ để sử dụng đất cho mục đích khác, một số cây ăn quả cho năng suất và chất lượng thấp, thị trường tiêu thụ không ổn định, hiệu quả kinh tế thấp. 
Một số loại cây lâu năm khác có diện tích ổn định như cây dừa với diện tích hiện có 73 ha; hồ tiêu 265 ha; chè búp 2,8 ha; chè hái lá 77 ha. Những năm gần đây giá cau trên thị trường tăng nên người dân đầu tư mở rộng diện tích, nhưng hiện nay giá cau giảm xuống thấp, khâu tiêu thụ gặp nhiều khó khăn nên người dân không tiếp tục đầu tư; diện tích cây cau năm 2019 ước đạt 170 ha, giảm 7,1% so năm trước, tập trung chủ yếu ở huyện miền núi Nam Đông. 
Cây cao su là cây lâu năm trọng yếu của tỉnh, diện tích cao su chiếm tỷ trọng cao nhất với diện tích hiện có 7.814 ha, chiếm 67,4% tổng diện tích cây lâu năm toàn tỉnh, giảm 8,4% so với năm 2018; sản lượng mủ cao su sơ bộ năm 2019 đạt 6.886 tấn, giảm 1,9%. Hiện nay giá mủ cao su có xu hướng phục hồi nhưng vẫn đang ở mức thấp, ảnh hưởng đến việc đầu tư cho cây cao su. 
Sản lượng thu hoạch một số cây lâu năm chủ yếu sơ bộ năm 2019: sản lượng chuối ước đạt 13.325 tấn, tăng 4,3% so với năm trước; cam 1.767 tấn, giảm 0,2%; bưởi, thanh trà 9.384 tấn, giảm 14,6%, nguyên nhân sản lượng giảm do năm nay thời tiết nắng nóng kéo dài làm giảm năng suất; dứa 1.737 tấn, giảm 5,4% do diện tích cho sản phẩm giảm; hồ tiêu 216 tấn, giảm 5,3% chủ yếu do giá hồ tiêu trên thị trường giảm. 
Chăn nuôi: 
*Tình hình bệnh dịch tả lợn châu Phi: Bệnh dịch tả lợn Châu phi bắt đầu xảy ra ở Thừa Thiên Huế từ ngày 16/3/2019 trên đàn lợn ở 2 thôn thuộc xã Phong Sơn, huyện Phong Điền. Đến cuối tháng 5, đầu tháng 6/2019 bệnh dịch bùng phát mạnh và lây lan nhanh ở nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh. Tính đến 15/12/2019 bệnh dịch tả lợn châu Phi đã xảy ra trên đàn lợn của 9/9 huyện, thị xã và thành phố Huế. Tổng số lợn mắc bệnh đã tiêu hủy là 73,6 nghìn con với tổng trọng lượng là 4.450 tấn. Có 35 xã thuộc 8 huyện dịch bệnh đã qua 30 ngày không phát sinh thêm ổ dịch mới, tuy nhiên có 28 xã ở 8 huyện dịch bệnh đã qua 30 ngày nhưng sau đó lại phát sinh lợn bệnh. Để kịp thời giúp người chăn nuôi khắc phục thiệt hại do bệnh dịch tả lợn châu Phi, UBND tỉnh đã có quyết định hỗ trợ 03 đợt với tổng kinh phí 66,02 tỷ đồng.
Tình hình chăn nuôi nuôi lợn tiếp tục gặp nhiều khó khăn do bệnh dịch tả lợn châu Phi, số lượng lợn mắc bệnh tiêu hủy đến ngày 15/12/2019 bằng 33,1% so với tổng đàn lợn đầu năm thời điểm 01/01/2019 . Hiện nay giá lợn hơi đang tăng cao nhưng chăn nuôi hộ cá thể và gia trại chưa mạnh dạn tái đàn vì lo ngại rủi ro do bệnh dịch tả lợn vẫn còn lây lan, bên cạnh đó nguồn lợn giống khan hiếm và có giá bán cao nên việc tái đàn gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên bệnh dịch tả lợn ít ảnh hưởng đến các đơn vị chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học như trang trại, doanh nghiệp. Các đơn vị chăn nuôi lợn quy mô lớn tiếp tục tái đàn nhờ tăng cường thực hiện các biện pháp an toàn sinh học và chú trọng chất lượng, nguồn gốc con giống đảm bảo. Tổng đàn lợn thời điểm 01/12/2019 ước đạt 96.529 con, giảm 46,4% so cùng kỳ năm trước
Chăn nuôi gia cầm trong năm 2019 phát triển khá, nhất là chăn nuôi gà hiện nay có nhiều thuận lợi, dịch bệnh không xảy ra, công tác tiêm phòng thú y, vệ sinh môi trường chăn nuôi được chú trọng. Trong 3 quí đầu năm 2019 giá thịt gà hơi ổn định, chăn nuôi đạt hiệu quả khá cao nên khuyến khích người chăn nuôi mở rộng quy mô đàn gà. Tuy nhiên từ cuối tháng 9/2019 chăn nuôi gà gặp nhiều khó khăn do giá thịt gà liên tục giảm mạnh, người chăn nuôi lo ngại rủi ro không đầu tư tái đàn. Tổng đàn gia cầm thời điểm 01/12/2019 đạt 3.862,5 nghìn con, tăng 4% so cùng kỳ năm trước, trong đó đàn gà 3.132,6 nghìn con, tăng 5,1%; đàn vịt, ngan, ngỗng 729,9 nghìn con, giảm 0,4%. 
Ước tính đàn trâu thời điểm 01/12/2019 đạt 20.668 con, giảm 0,9% so cùng kỳ; đàn bò đạt 33.697 con, giảm 2,1%. Nguyên nhân đàn trâu, bò giảm là do hiện nay ở khu vực nông thôn nhiều ngành nghề có thu nhập khá đã thu hút lao động nông thôn tham gia nên người chăn nuôi trâu bò ngày càng giảm, bên cạnh đó đồng cỏ chăn nuôi trâu bò thu hẹp; dự án khuyến nông ở một số huyện đã kết thúc. 
Tổng sản lượng thịt gia súc năm 2019 ước đạt 15.061 tấn, giảm 42% so với năm 2018, trong đó sản lượng thịt trâu, bò hơi xuất chuồng đạt 2.509 tấn, tăng 0,7%; thịt lợn hơi 15.061 tấn, giảm 42%; gia cầm hơi 9.475,8 tấn, tăng 2,5%, trong đó thịt gà hơi 5.784 tấn, tăng 5,2%; thịt vịt, ngan, ngỗng đạt 3.691,8 tấn, giảm 1,4%.
Công tác tiêm phòng: Tính đến 15/12/2019 kết quả tiêm phòng gia súc, gia cầm vụ thu đã tiêm 7.020 liều vắc xin tụ huyết trùng trâu bò đạt 47% kế hoạch; 41.838 liều vắc xin tam liên lợn đạt 67% kế hoạch; 4.250 liều vắc xin VX +KT E.coli đạt 39% kế hoạch; 700.700 liều vắc xin cúm gia cầm đạt 78% kế hoạch; 593.150 liều vắc xin dịch tả vịt đạt 95% kế hoạch; 62.960 liều vắc xin Newcastle gà đạt 50% kế hoạch; 130.550 liều vắc xin Lasota+Newcastle đạt 45% kế hoạch; 7.540 liều vắc xin tụ huyết trùng gia cầm đạt 35% kế hoạch; 49.500 liều vắc xin đậu gà đạt 45% kế hoạch; 138.200 liều vắc xin VX+KT Gumboro đạt 44% kế hoạch; lở mồm long móng trâu bò 34.390 liều, đạt 71% kế hoạch.
b. Lâm nghiệp
Sản lượng gỗ khai thác rừng trồng trong tháng 12/2019 ước đạt 29.822 m3, tăng 4,6% so tháng 12/2018. Tính chung cả năm 2019 sản lượng gỗ khai thác sơ bộ đạt 626.948 m3 gỗ, tăng 4,7% so với năm 2018, trong đó toàn bộ là khai thác gỗ từ rừng trồng. Chia theo nhóm gỗ bao gồm gỗ nhóm 7 là chủ yếu, ước đạt 598.518 m3, chiếm tỷ trọng 95,5% tổng sản lượng gỗ khai thác; các nhóm gỗ còn lại ước đạt 28.430 m3. Sản lượng gỗ tăng khá chủ yếu do rừng trồng trên địa bàn tỉnh đã đến kỳ khai thác, giá thu mua gỗ ổn định, hiệu quả kinh tế từ rừng trồng đạt khá, bên cạnh đó thời tiết tương đối thuận lợi cho việc khai thác và vận chuyển. Sơ bộ năm 2019 các sản phẩm lâm sản khác như nhựa thông đạt 847 tấn, tăng 6,1% so với năm trước nhờ thời tiết năm nay thuận lợi cho việc khai thác nhựa thông; măng tươi 692 tấn, tăng 6,8%; rau rừng các loại 610 tấn, tăng 5,6%; tre/lồ ô 710 nghìn cây, giảm 3,4%; song mây 980 tấn, giảm 17,5%. 
Thời tiết đang vào mùa mưa thuận lợi cho việc trồng rừng, thực hiện trồng rừng tập trung tháng 12/2019 ước đạt 710 ha, lũy kế cả năm 2019 diện tích trồng rừng tập trung sơ bộ đạt 6.200 ha, tăng 0,8% so năm trước, trong đó rừng sản xuất trồng mới 6.120 ha, tăng 1,1%; rừng phòng hộ trồng mới 80 ha, bằng 84,9% so cùng kỳ; diện tích rừng trồng được chăm sóc đạt 17.800 ha, tăng 2,4%; diện tích rừng được khoanh nuôi tái sinh đạt 410 ha, chủ yếu khoanh nuôi tái sinh rừng phòng hộ; diện tích rừng được giao khoán bảo vệ đạt 64.500 ha, tăng 0,6%, ngành chức năng phối hợp với chính quyền các địa phương tiếp tục thực hiện đề án về giao cho người dân bảo vệ rừng đạt tỷ lệ khá cao; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 1.700 nghìn cây, giảm 4,2%; ươm giống cây lâm nghiệp đạt 21.000 nghìn cây. 
Công tác bảo vệ rừng trong năm 2019 luôn được các địa phương trong tỉnh quan tâm, tổ chức triển khai đến các lực lượng chức năng và người dân. Tuy nhiên do tình trạng nắng hạn kéo dài trên diện rộng nên số vụ cháy rừng gia tăng. Trong tháng 12/2019 đã xảy ra 2 vụ phá rừng làm nương rẫy với diện tích bị phá là 0,3 ha; không có vụ cháy rừng. Tính từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh đã xảy ra 50 vụ phá rừng, tăng 8 vụ so với cùng kỳ năm trước, với diện tích bị phá 10 ha, giảm 2 ha; cháy rừng xảy ra 30 vụ, tăng 23 vụ so cùng kỳ, với diện tích rừng bị cháy 154,9 ha, tăng 151,9 ha. Nguyên nhân cháy chủ yếu là do thời tiết nắng nóng gay gắt với nền nhiệt cao kết hợp gió Tây Nam thổi mạnh đã gây cháy lan trên diện rộng. Đồng thời, việc xử lý thực bì thiếu kiểm soát; đạn lân tinh tự phát nổ trong điều kiện nắng nóng; đốt hương, vàng mã không đúng nơi quy định cũng là nguyên nhân chính gây cháy rừng trên địa bàn. 
c. Thủy sản
Diện tích nuôi trồng thủy sản tháng 12/2019 ước đạt 435 ha, giảm 1,8% so cùng kỳ năm trước, bao gồm nuôi nước lợ 405 ha, giảm 1,9%; nuôi nước ngọt 30 ha, bằng so cùng kỳ năm trước. Trong diện tích nuôi nước lợ chia ra nuôi cá 21 ha, tăng 5% so cùng kỳ; nuôi tôm 384 ha, giảm 2,3%, riêng nuôi tôm sú 326 ha, giảm 2,7%, tôm thẻ chân trắng 58 ha, bằng so cùng kỳ. Tính chung diện tích nuôi trồng thủy sản năm 2019 ước đạt 7.537 ha, tăng 2,2% so cùng kỳ năm trước. Trong đó: Nuôi thâm canh, bán thâm canh 4.047 ha, tăng 2,1%; nuôi quảng canh, quảng canh cải tiến 3.490 ha, tăng 2,3%. Diện tích nuôi nước lợ đạt 5.547 ha, chiếm 73,6% tổng diện tích, tăng 3,1% so cùng kỳ; chia ra nuôi cá nước lợ 1.342,5 ha, tăng 4,7%; nuôi tôm 3.253 ha, tăng 2,9%, trong đó diện tích nuôi tôm sú 2.564 ha, tăng 2,8%; nuôi tôm thẻ chân trắng 525 ha, tăng 3,8%; nuôi thủy sản khác (cua, hàu, vẹm ốc hương, rau câu) 945 ha, tăng 1,6%; ươm nuôi giống thủy sản 6,5 ha, tăng 8,3%. Diện tích nuôi nước ngọt 1.990 ha, chiếm 26,4% tổng diện tích, giảm 0,3% so cùng kỳ, trong đó nuôi cá nước ngọt 1.954 ha, giảm 0,2%; phương thức nuôi thâm canh, bán thâm canh 1.005 ha, giảm 0,5%; nuôi quảng canh và quảng canh cải tiến 949 ha, tăng 0,1%; ươm nuôi giống thủy sản 36 ha, giảm 2,7%.
Sản xuất giống thủy sản: Sản xuất giống thủy sản trên địa bàn gặp nhiều khó khăn nhất là tôm sú do không cạnh tranh được với giống ngoại tỉnh. Trong tháng 12/2019 sản xuất giống trên địa bàn tỉnh ước đạt 9,4 triệu con, tăng 1,1% so cùng kỳ năm trước, trong đó tôm sú giống 8,3 triệu con, tăng 1,2%; cá giống các loại 1,1 triệu con, bằng so cùng kỳ, chủ yếu cung cấp giống cho các cơ sở nuôi trên địa bàn tỉnh. Năm 2019 sản xuất giống trên địa bàn tỉnh ước đạt 184,1 triệu con, tăng 3,5% so cùng kỳ năm trước, trong đó tôm sú giống 101,2 triệu con, tăng 4,2%; cá giống các loại 79,9 triệu con, tăng 2,8%; cua, ếch giống 3 triệu con bằng so cùng kỳ.
Năm 2019 thời tiết thuận lợi cho việc đánh bắt và nuôi trồng thủy sản. Sản lượng thu hoạch thủy sản tháng 12/2019 ước đạt 1.166 tấn, tăng  5,9% so với tháng 12/2018, chia ra sản lượng cá 245 tấn, tăng 4,7%; tôm các loại 921,  tăng 6,2%, trong đó tôm sú 275 tấn, tăng 9,6%, tôm chân trắng 637 tấn, tăng 4,1%. Tính chung sản lượng nuôi trồng năm 2019 ước đạt 16.675 tấn, tăng 4,6% so với năm 2018, trong đó cá các loại 9.510 tấn, tăng 3,9%; tôm các loại 6.110 tấn, tăng 6%, riêng tôm sú 1.305 tấn, tăng 5,8%, tôm thẻ chân trắng 4.513 tấn, tăng 6,2%; thủy sản khác 1.055 tấn, tăng 2,5%.  
Sản lượng khai thác thủy sản tháng 12/2019 ước đạt 2.582 tấn, tăng 4,4% so cùng kỳ năm trước, trong đó khai thác biển 2.362 tấn, tăng 4,9%; khai thác nội địa 220 tấn, giảm 0,5%. Sản lượng thủy sản khai thác năm 2019 ước đạt 41.145 tấn, tăng 3,7% so cùng kỳ, trong đó khai thác biển đạt 37.189 tấn, tăng 4,2%; khai thác nội địa 3.956 tấn, giảm 0,6%. 
Tính chung tổng sản lượng thủy sản năm 2019 ước đạt 57.820 tấn, tăng 3,96% so với năm 2018. 
Nuôi thủy sản lồng, bè:  Số hộ nuôi lồng, bè năm 2019 đạt 3.565 hộ, tăng 11% so cùng kỳ năm trước; số lồng, bè thả nuôi 7.132 lồng, tăng 12,3%; thể tích lồng, bè nuôi 154.426 m3, tăng 11,7%. Hiện nay nuôi lồng bè ở các địa phương trong tỉnh phát triển nhờ hiệu quả kinh tế mang lại khá, do tận dụng mặt nước vùng đầm phá, sông ngòi, hồ thủy điện và một phần nguồn thức ăn tự chế của người nuôi.
Tình hình thiệt hại thủy sản năm 2019: Trong hai ngày 12 và 13/9/2019 trên địa bàn xã Thủy Phù và xã Thủy Tân, thị xã Hương Thủy xảy ra hiện tượng cá lồng chết bất thường hàng loạt, theo đánh giá của cơ quan chuyên môn nguyên nhân cá chết là thiếu oxy do người dân thả nuôi với mật độ quá dày. Ước tính số lồng nuôi bị thiệt hại 306 lồng, sản lượng cá chết 130 tấn, giá trị thiệt hại khoảng 2.840 triệu đồng. Để tránh thiệt hại đồng thời đảm bảo nuôi trồng thủy sản lồng bè có tính ổn định và lâu dài người dân cần thực hiện vệ sinh môi trường nguồn nước, số lượng lồng và con giống thả nuôi đảm bảo mật độ và đúng quy trình kỹ thuật.
6. Sản xuất công nghiệp 
Năm 2019, tình hình kinh tế thế giới có nhiều biến động làm tăng trưởng chậm lại so với dự kiến. Các nền kinh tế lớn trên thế giới hầu hết gặp khó khăn. Trong nước, để đối phó với những tác động tiêu cực từ bên ngoài, Chính phủ đã đưa ra những giải pháp nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì đà tăng trưởng, lạm phát được kiểm soát ở mức thấp. Trên địa bàn tỉnh tình hình sản xuất công nghiệp vẫn ổn định, các doanh nghiệp chủ lực tiếp tục duy trì sản xuất ở mức khá đảm bảo kế hoạch đề ra. Một số ngành sản phẩm chủ lực truyền thống của tỉnh có mức tăng trưởng khá cao so với cùng kỳ: sản xuất bia, sản xuất trang phục, sản xuất vỏ lon nhôm, sản xuất men frit, sản xuất gạch men...
Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 12/2019 tăng 4,95% so với tháng trước, tăng 11,45% so cùng kỳ năm trước; chỉ số sản xuất công nghiệp quý IV tăng 8,57% so với quý trước và tăng 10,27% so với quý IV năm trước. Đưa chỉ số sản xuất công nghiệp cả năm 2019 tăng 8,80% so với cùng kỳ năm trước, trong đó công nghiệp khai khoáng tăng 2,26%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,01%; sản xuất và phân phối điện, nước đá tăng 17,96%; cấp nước và thu gom rác thải tăng 6,25%.
Chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2019 đạt mức tăng cao hơn mức tăng 8,00% của năm 2018, nguyên nhân chủ yếu là do sản lượng điện sản xuất năm trước sụt giảm. Ngoài ra, trong năm nay có một số năng lực tăng thêm bổ sung từ một số nhà máy sản xuất men frit, vỏ lon nhôm, gạch men được nâng công suất vào những tháng cuối năm 2018 và một số nhà máy mới đưa vào hoạt động: Nhà máy sản xuất thủy tinh của Công ty Vico silica; Nhà máy sản xuất khoáng Cristobalite của Công ty Phenikaa; Công ty men Frit Phú Sơn; Nhà máy sợi Phú Quang; Nhà máy thủy điện A Lin B2; Nhà máy điện năng lượng mặt trời hoạt động từ cuối năm 2018. Tuy nhiên, mức tăng này chưa đạt kế hoạch đề ra nguyên nhân là do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt mức tăng chưa cao, năng lực sản xuất một số nhà máy chủ lực gần như chạy hết công suất nhưng việc đầu tư mở rộng sản xuất chưa thực hiện. Bên cạnh đó năng lực các nhà máy mới bổ sung vào cuối năm 2018 đến nay gần như bão hòa. 
Một số ngành công nghiệp có chỉ số sản xuất năm 2019 tăng so cùng kỳ năm trước: Khai thác đá tăng 2,26%; sản xuất bia tăng 10,86%; sản xuất sợi tăng 6,57%; may mặc tăng 9,10%; sản xuất dăm gỗ tăng 26,06%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 10,87%; in ấn tăng 11,27%; sản xuất các sản phẩm hóa chất tăng 8,29%; sản xuất thuốc hóa dược và dược liệu tăng 8,29%; sản xuất vật liệu xây dựng từ đất sét tăng 19,88%; sản xuất men frit tăng 30,10%; sản xuất vỏ lon nhôm tăng 31,85%; sản xuất máy và các thiết bị máy vi tính tăng 21,52%; sản xuất giường tủ bàn ghế tăng 4,88%; sản xuất và phân phối điện tăng 17,96%; cấp nước tăng 6,97%; thu gom rác thải tăng 4,81%.
Sản xuất bia năm 2019 tăng khá là nhờ Công ty bia Huế giữ được thị trường truyền thống và nhờ sản lượng tăng thêm từ nhà máy ở Hà Nội chuyển về Huế. Sản xuất dăm gỗ sau nhiều năm có mức tăng trưởng thấp và âm, trong năm 2019 đạt tốc độ tăng trưởng cao nhờ khai thông được thị trường đầu ra và tìm kiếm các nguồn đầu vào cung ứng đủ nguyên liệu cho sản xuất. Sản xuất cao su tăng nhờ thị trường xuất khẩu vào các nước lớn như Ấn Độ, Trung Quốc thuận lợi, đồng thời giá mũ cao su đang có xu hướng ổn định và tăng trở lại. 
Một số ngành có chỉ số sản xuất năm 2019 giảm so với cùng kỳ: Chế biến bảo quản thủy sản giảm 9,96%; sản xuất giày dép da giảm 6,89%; đóng tàu và cấu kiện nổi giảm 62,87%; sản xuất ô tô giảm 15,51%; sản xuất công nghiệp khác giảm 10,74%.
Ngành sản xuất ô tô những tháng đầu năm có mức tăng trưởng giảm do các đơn hàng cũ giảm và đơn hàng mới bổ sung chưa nhiều. Ngành sản xuất xi măng trong những năm trở lại khó khăn về thị trường do cạnh tranh gay gắt của các thương hiệu lớn và khả năng tiếp cận các thị trường ngoại tỉnh hạn chế. Ngành chế biến thủy sản thị trường xuất khẩu bị thu hẹp, giá xuất khẩu giảm ảnh hưởng lớn đến tình hình sản xuất của các doanh nghiệp. 
Các sản phẩm công nghiệp năm 2019 tăng so với cùng kỳ năm trước: Đá xây dựng đạt 777,3 ngàn m3, tăng 4,84%; bia đóng chai 96,5 triệu lít, tăng 9,08%; bia đóng lon 150,9 triệu lít, tăng 11,44%; sợi các loại 89,9 ngàn tấn, tăng 6,57%; quần áo lót 360,4 triệu cái, tăng 9,10%; túi xách 2.354,4 ngàn cái, tăng 45,84%; dăm gỗ 627,7 ngàn tấn, tăng 26,06%; thùng hộp bằng bìa cứng 10.446,5 ngàn chiếc, tăng 15,69%; sản phẩm in 1.086,7 triệu trang, tăng 11,27%; phân vi sinh 15,6 ngàn tấn, tăng 8,81%; cao su tổng hợp 6.318,0 tấn, tăng 9,04%; thuốc kháng sinh dạng viên 58,0 triệu viên, tăng 14,12%; gạch men 14,9 triệu m2, tăng 19,88%; men frit 251,5 ngàn tấn, tăng 30,10%; vỏ lon nhôm 13,5 nghìn tấn, tăng 31,85%; linh kiện máy vi tính 232 ngàn cái, tăng 21,52%; điện sản xuất 1.270,3 trkwh, tăng 23,65%; điện thương phẩm 1.845,3 trkw, tăng 5,79%; nước máy 52,3 triệu m3, tăng 6,97%.
Các sản phẩm công nghiệp năm 2019 giảm so với cùng kỳ: Tôm đông lạnh đạt 5,9 nghìn tấn, giảm 9,96%; giày dép da 120,7 nghìn đôi, giảm 6,89%; giấy và bìa nhăn 5,5 ngàn tấn, giảm 1,16%; xi măng portland đen 2.277,4 ngàn tấn, giảm 6,94%; clanhke 2.720 ngàn tấn, giẳm 1,35%; xe ô tô 158 chiếc, giảm 15,51%; hương vòng 14.534,3 ngàn vòng, giảm 10,74%.
Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến chế tạo năm 2019 giảm 2,58% so với năm 2018. Chỉ số tiêu thụ giảm tập trung ở một số ngành: Dăm gỗ giảm 7,43%; sản xuất giày, dép da giảm 7,64%; sản xuất xi măng, vôi, thạch cao giảm 3,77%; sản xuất ô tô giảm 18,33%. Các ngành có chỉ số tiêu thụ năm 2019 tăng: Chế biến, bảo quản thủy sản tăng 11,73%; sản xuất bia tăng 7,17%; sản xuất sợi tăng 8,38%; may trang phục tăng 10,07%; sản xuất giấy tăng 7,37%; in ấn tăng 11,25%; sản xuất hóa chất tăng 7,46%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 7,42%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 15,94%; sản xuất linh kiện máy vi tính tăng 20,67%.
Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến chế tạo tháng 12/2019 tăng 54,26% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó tập trung vào một số ngành: Sản xuất bia tăng 23,13%; sản xuất sợi tăng 22,76%; sản xuất trang phục tăng 31,56%; dăm gỗ tăng gấp 4,3 lần; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 74,24%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng gấp 2,3 lần; sản xuất linh kiện máy vi tính tăng gấp 6,6 lần. Các ngành có chỉ số tồn kho giảm: Chế biến, bảo quản thủy sản giảm 1,73%; sản xuất giày dép da giảm 46,39%; sản xuất giấy giảm 52,07%; sản xuất hóa chất giảm 53,20%; sản xuất sản phẩm từ cao su, plastic giảm 66,70%.
Chỉ số sử dụng lao động tháng 12/2019 tăng 0,80% so với tháng trước và tăng 1,78% so với cùng kỳ năm trước, cộng dồn cả năm 2019 chỉ số sử dụng lao động trong các doanh nghiệp tăng 2,51% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó tập trung vào một số ngành: Khai thác quặng kim loại tăng 13,70%; sản xuất sợi tăng 7,39%; may mặc tăng 0,44%; sản xuất da và các sản phẩm từ da tăng 18,36%; dăm gỗ tăng 2,80%; in ấn tăng 32,39%; sản xuất hóa chất tăng 10,56%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 82,39%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim tăng 7,10%; sản xuất ô tô tăng 5,94%; sản xuất giường tủ, bàn ghế tăng 8,97%. Chia theo loại hình doanh nghiệp, chỉ số sử dụng lao động doanh nghiệp nhà nước tăng 5,53%; doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng 4,88% và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 0,09%.
7. Thương mại, dịch vụ 
Trong năm 2019, tình hình giá cả hàng hóa và dịch vụ trên địa bàn ổn định, một số doanh nghiệp lớn được đầu tư xây dựng và đi vào hoạt động như Trung tâm thương mại Vincom Plaza Huế với sự góp mặt của chuỗi siêu thị Vinmarrt, Vinpro; Khách sạn 5 sao Vinpearl Huế; Trung tâm tổ chức sự kiện và du lịch Sen Trắng; Trung tâm giải trí cinestar Huế... đáp ứng được nhu cầu mua sắm đa dạng của người dân địa phương và du khách. Nhiều lễ hội văn hóa, thể thao và du lịch diễn ra, đặc biệt Festival Nghề truyền thống Huế 2019 với qui mô được nâng lên mang tầm quốc tế đã thu hút lượng lớn du khách; Hội chợ sản phẩm công nghiệp nông thôn và làng nghề Huế năm 2019; Hội chợ sản phẩm nông nghiệp tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2019; mở rộng không gian văn hóa nghệ thuật với việc đưa vào hoạt động Đường đi bộ trên sông Hương, kết nối đường hoa Lê Lợi cùng các tuyến phố đi bộ khác. Nhờ đó, hoạt động thương mại, dịch vụ trên địa bàn trong năm đạt được những kết quả tích cực.
a. Bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 12/2019 ước đạt 3.881,8 tỷ đồng, tăng 3,43% so với tháng trước và tăng 17,87% so với cùng kỳ năm trước. Xét theo ngành hàng, doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 12/2019 ước đạt 3.007,2 tỷ đồng, chiếm 77,47%, tăng 3,14% so với tháng trước và tăng 17,95% so với cùng kỳ năm trước; nguyên nhân tăng do nhu cầu tiêu dùng, mua sắm một số mặt hàng tháng tết dương lịch và cận tết âm lịch: lương thực, thực phẩm tăng 5,24%; hàng may mặc tăng 7,11%; đồ dùng trang thiết bị gia đình tăng 2,19%; ô tô tăng 5,43%; hàng hóa khác tăng 2%. Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống đạt 643,2 tỷ đồng, chiếm 16,57%, tương ứng tăng 3,8% và tăng 16,28%; doanh thu dịch vụ du lịch lữ hành đạt 16,8 tỷ đồng, chiếm 0,43%, tăng 5,08% và tăng 11,45%; doanh thu dịch vụ khác 214,6 tỷ đồng, chiếm 5,53%, tăng 6,3% và tăng 22,37%, nguyên nhân dịch vụ khác tăng cao so cùng kỳ do nhu cầu dịch vụ bất động sản tăng, dịch vụ vui chơi, giải trí và phục vụ cá nhân tăng.
Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trên địa bàn tỉnh năm 2019 đạt 42.908 tỷ đồng, tăng 12,35% so với năm trước (nếu loại trừ yếu tố trượt giá thì còn tăng 9,88%), trong đó, kinh doanh bán lẻ hàng hóa ước đạt 33.361,4 tỷ đồng, chiếm 77,75% tổng số và tăng 12,55% so năm trước; dịch vụ lưu trú và ăn uống 7.130,1 tỷ đồng, chiếm 16,62% và tăng 11,92%; du lịch lữ hành 192,1 tỷ đồng, chiếm 0,45% và tăng 9,68%; dịch vụ khác 2.224,4 tỷ đồng, chiếm 5,18% và tăng 11,03%.

b. Vận tải hành khách và hàng hóa 
Năm 2019 thời tiết rất thuận lợi cho hoạt động vận tải. Vận tải hành khách tháng 12/2019 ước đạt 2.164,9 nghìn lượt khách và 111,0 triệu lượt khách.km, tăng 1,69% về lượt khách và tăng 2,27% về lượt khách.km so với tháng trước; tăng 9,82% về lượt khách và tăng 9,86% về lượt khách.km so cùng kỳ năm trước. Đưa vận tải hành khách năm 2019 ước đạt 24.925,3 nghìn lượt khách, tăng 9,62% so năm trước và 1.259,5 triệu lượt khách.km tăng 9,94%, trong đó vận tải hành khách đường bộ ước đạt 24.075,1 nghìn lượt khách, tăng 10,11% và 1.255,8 triệu lượt khách.km, tăng 9,98%.
Vận tải hàng hóa tháng 12/2019 ước đạt 1.113,8 nghìn tấn và 92 triệu tấn.km, tăng 1,73% về tấn và tăng 0,45% về tấn.km so với tháng trước; tăng 16,88% về tấn và tăng 19,56% về tấn.km so cùng kỳ năm trước. Đưa vận tải hàng hóa năm 2019 ước đạt 12.330,5 nghìn tấn, tăng 12% và 1.061,1 triệu tấn.km, tăng 13,84% so năm trước, trong đó vận tải hàng hóa đường bộ ước đạt 12.233,4 nghìn tấn, tăng 12,32% và 957,6 triệu tấn.km tăng 14,67%; đường biển 88,7 nghìn tấn, tăng 5,87% và 103,3 triệu tấn.km, tăng 7,01%.
Doanh thu vận tải, bốc xếp và bưu chính chuyển phát tháng 12/2019 ước đạt 254,3 tỷ đồng, tăng 1,68% so với tháng trước và tăng 15,39% so cùng kỳ năm trước. Đưa doanh thu vận tải, bốc xếp và bưu chính chuyển phát năm 2019 ước đạt 2.877,1 tỷ đồng, tăng 12,82% so năm trước, trong đó đường bộ đạt 2.699,3 tỷ đồng, tăng 12,45%; đường biển 172,8 tỷ đồng, tăng 20,34%. Chia theo loại hình dịch vụ thì doanh thu vận tải hành khách đạt 745,1 tỷ đồng, tăng 10,97%; doanh thu vận tải hàng hóa đạt 1.916,7 tỷ đồng, tăng 12,84%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 215,3 tỷ đồng, tăng 15,59%.
c. Lượt khách các cơ sở lưu trú phục vụ và du lịch lữ hành
Trong năm 2019, UBND tỉnh Thừa Thiên Huế đã ban hành Kế hoạch số 208/KH-UBND về triển khai Chương trình trọng điểm phát triển du lịch-dịch vụ năm 2019 nhằm tiếp tục đưa Du lịch Thừa Thiên Huế trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, xứng tầm là trung tâm du lịch lớn của cả nước và khu vực, từng bước xây dựng thương hiệu du lịch “Huế - Kinh đô của lễ hội và ẩm thực”. Đầu năm 2019 tỉnh Thừa Thiên Huế đăng cai tổ chức thành công Hội nghị về phát triển Du lịch miền Trung và Tây Nguyên, cùng với việc trưng bày các gian hàng triển lãm, quảng bá du lịch của 19 tỉnh, thành phố miền Trung và Tây Nguyên đã đem lại nhiều kết quả quan trọng. Đồng thời tỉnh cũng tổ chức nhiều diễn đàn khác để thúc đẩy hoạt động du lịch trên địa bàn, đặc biệt  diễn đàn Phát triển du lịch thông minh và bền vững; phát động các phong trào “Ngày chủ nhật xanh - Hãy hành động để Thừa Thiên Huế thêm xanh - sạch - sáng”, “Nói không với túi ni lông và sản phẩm nhựa sử dụng một lần” có hiệu ứng lan tỏa cao.
Dự ước lượt khách cơ sở lưu trú phục vụ tháng 12/2019 đạt 202,9 nghìn lượt khách, tăng 7,87% so với tháng trước và tăng 10,04% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: Lượt khách ngủ qua đêm đạt 180,6 nghìn lượt khách, tương ứng tăng 8,4% và tăng 10,24%, trong đó lượt khách quốc tế ước đạt 113,2 nghìn lượt khách, tăng 10,87% và tăng 16,38%; lượt khách trong ngày đạt 22,3 nghìn lượt khách, tăng 3,74% và tăng 8,43%. 
Dự ước lượt khách cơ sở lưu trú phục vụ năm 2019 đạt 2.247,9 nghìn lượt khách, tăng 7,3% so cùng kỳ năm trước; chia ra lượt khách ngủ qua đêm 1.985,9 nghìn lượt, tăng 7,24%, trong đó khách quốc tế 1.092,7 nghìn lượt khách, tăng 10,55%; lượt khách trong ngày 262 nghìn lượt, tăng 7,81%. 
Ngày khách cơ sở lưu trú phục vụ tháng 12/2019 ước đạt 362,9 nghìn ngày khách, tăng 5,8% so với tháng tháng trước và tăng 9,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngày khách quốc tế đạt 236,5 nghìn ngày khách, tương ứng tăng 6,29% và tăng 15,34%. Đưa tổng ngày khách cơ sở lưu trú phục vụ năm 2019 ước đạt 3.973,8 nghìn ngày, tăng 6,7% so năm trước; trong đó, ngày khách quốc tế 2.302,3 nghìn ngày, tăng 9,6%.
Doanh thu cơ sở lưu trú ước thực hiện tháng 12/2019 đạt 167,2 tỷ đồng, tăng 3,07% so với tháng trước và tăng 19,61% so cùng kỳ năm trước. Đưa doanh thu cơ sở lưu trú năm 2019 ước đạt 1.761,2 tỷ đồng, tăng 9,8% so năm trước.
Hoạt động du lịch lữ hành tháng 12/2019 ước tính lượt khách du lịch theo tour đạt 9,7 nghìn lượt, tăng 6,53% so với tháng trước và tăng 9,47% so cùng kỳ năm trước. Đưa tổng lượt khách theo tour thực hiện năm 2019 ước đạt 113,7 nghìn lượt, tăng 7,9% so năm trước. Dự ước ngày khách theo tour tháng 12/2019 đạt 20,7 nghìn ngày, tăng 5,93% so với tháng trước và tăng 10,5% so cùng kỳ năm trước. Đưa tổng ngày khách theo tour năm 2019 ước đạt 239,3 nghìn ngày, tăng 8,26%.
8. Các vấn đề xã hội 
a. Dân số, lao động, việc làm
Dân số trung bình toàn tỉnh năm 2019 ước tính đạt 1.128,6 nghìn người, tăng 0,28% so với năm 2018, trong đó dân số nam 558,5 nghìn người, chiếm 49,48% tổng dân số toàn tỉnh, tăng 0,29%; dân số nữ 570,1 nghìn người, chiếm 50,52%, tăng 0,27%; dân số khu vực thành thị 558,5 nghìn người, chiếm 49,49%; khu vực nông thôn là 570,1 nghìn người, chiếm 50,51%. 
Thông qua việc tiếp tục mở rộng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp và hoạt động sàn giao dịch việc làm, qua nguồn vốn vay giải quyết việc làm,… trong năm 2019 đã giải quyết việc làm mới cho hơn 16.000 lao động đạt 100% kế hoạch đề ra.
Nhằm đẩy mạnh xuất khẩu lao động, từ đầu năm đến nay đã đưa 1.250 lao động đi làm việc nước ngoài tại các thị trường chủ yếu là Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan. Bên cạnh đó UBND tỉnh đã ký kết hợp đồng kết nghĩa với các địa phương của Hàn Quốc để đưa lao động đi làm việc theo thời vụ trong thời gian đến.
Giải quyết chế độ bảo hiểm thất nghiệp cho 5.883 người với tổng số tiền trên 88 tỷ đồng (trong đó, hỗ trợ học nghề cho 247 người với số tiền 927,8 triệu đồng). Tỉ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế năm 2019 đạt 98,5%. Cấp mới, cấp lại và xác nhận miễn cấp giấy phép lao động cho 166 người nước ngoài làm việc trên địa bàn tỉnh, đưa tổng số lao động nước ngoài đang làm việc trên địa bàn tỉnh đến nay là 336 người.
b. Chính sách - xã hội
- Thực hiện chính sách Người có công 
Tỉnh đã trao 69.607 suất quà cho người có công vào các dịp Tết, 27/7 với số tiền trên 9,2 tỷ đồng; chi trả trợ cấp hàng tháng cho trên 20.100 người với số tiền trên 30,1 tỷ đồng; giải quyết kịp thời 2.573 hồ sơ đề nghị hưởng chế độ, chính sách và giám định AND xác định danh tính liệt sĩ; nuôi dưỡng, điều dưỡng 22 người đang sống tại Trung tâm Điều dưỡng, chăm sóc người có công và 1.894 người có công sống tại các địa phương.
Tổ chức lễ truy tặng Bà mẹ Việt Nam anh hùng đối với 90 mẹ và trao tặng 21 Huân chương độc lập, đưa tổng số Bà mẹ VNAH toàn tỉnh đến nay là 2.367 mẹ.
Hỗ trợ sửa chữa, nâng cấp 21 công trình ghi công và nghĩa trang liệt sĩ với tổng kinh phí 17,4 tỷ đồng và phân bổ kinh phí Trung ương về điều dưỡng người có công với số tiền 12,576 tỷ đồng.
 Tổ chức Lễ an táng 18 hài cốt liệt sĩ quân tình nguyện Việt Nam hy sinh tại nước bạn Lào tại nghĩa trang thành phố Huế.
- Công tác bảo trợ xã hội và bảo vệ, chăm sóc trẻ em
Trao 123.554 suất quà cho các hộ nghèo, người hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội, gia đình có hoàn cảnh khó khăn với số tiền trên 44,345 tỷ đồng trong dịp Tết nguyên đán 2019; tổ chức chúc thọ, mừng thọ 157 cụ tròn 100 tuổi và 1.462  cụ tròn 90 tuổi với tổng kinh phí 600 triệu đồng.
Chi trả trợ cấp thường xuyên tại cộng đồng cho hơn 50.000 đối tượng với kinh phí trên 20 tỷ đồng/tháng; nuôi dưỡng hàng tháng trên 550 người khuyết tật thần kinh, 12 người nghiện ma túy, 23 cháu mồ côi, 85 người già cô đơn, khuyết tật,...
Thông qua nguồn vận động của UBMTTQVN tỉnh, Hội Chữ thập đỏ tỉnh, Quỹ Thiện Tâm của tập đoàn Vingroup, các tổ chức đoàn thể, các doanh nghiệp,… từ đầu năm đến nay đã vận động hỗ trợ với số tiền 55,050 tỷ đồng.
Cấp 6.768 thẻ BHYT miễn phí cho các đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng.
Tổ chức nhiều hoạt động vui chơi và tặng quà cho các em thuộc diện có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, đang được nuôi dưỡng tại các cơ sở bảo trợ xã hội và gia đình hộ nghèo với tổng kinh phí trên 5 tỷ đồng.
Công tác giảm nghèo, trong năm 2019 đã tổ chức giúp đỡ các xã có tỷ lệ hộ nghèo trên 25%. Triển khai chính sách giảm nghèo bền vững gắn với xuất khẩu lao động năm 2019. Phối hợp với các địa phương, doanh nghiệp tổ chức 18 lớp tập huấn về chính sách giảm nghèo gắn với xuất khẩu lao động cho hơn 1.300 đối tượng và 13 lớp tập huấn nâng cao năng lực cho 1.058 cán bộ cấp huyện, cấp xã. Theo kết quả rà soát hộ nghèo cận nghèo năm 2019, tỉ lệ hộ nghèo trên địa bàn tỉnh năm 2019 giảm xuống còn 4,17%.
c. Giáo dục và đào tạo( )
Giáo dục: Bước vào đầu năm học 2019-2020, ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh đã củng cố và tăng cường cơ sở vật chất cho các cấp học, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên nhằm nâng cao chất lượng dạy và học... 
Tính đến đầu năm học 2019-2020, toàn tỉnh có 370 trường phổ thông, giảm 13 trường so với năm học trước, nguyên nhân do sáp nhập một số trường tiểu học trên địa bàn tỉnh; trong đó tiểu học có 200 trường, giảm 13 trường; trung học cơ sở 132 trường, bằng so với cùng kỳ; trung học phổ thông 38 trường, bằng so với cùng kỳ. Toàn tỉnh hiện có 11.575 giáo viên, tăng 0,26% so với năm học trước, trong đó cấp tiểu học có 5.065 giáo viên, tăng 0,58%; trung học cơ sở 4.096 giáo viên, giảm 0,32%; trung học phổ thông 2.414 giáo viên, tăng 0,58%. Toàn tỉnh hiện có 201.428 học sinh, tăng 1,45% so với năm học trước, trong đó có 95.778 học sinh tiểu học, tăng 2,74%; 67.534 học sinh trung học cơ sở, giảm 0,54%; 38.116 học sinh trung học phổ thông, tăng 1,82%.
Kết quả giáo dục phổ thông năm học 2018-2019:
- Khối Tiểu học: Môn Toán có số học sinh hoàn thành tốt đạt tỷ lệ 64,85%;  hoàn thành 34,49%; chưa hoàn thành 0,66%. Môn Tiếng việt: Hoàn thành tốt đạt tỷ lệ 58,92%;  hoàn thành 40,19%;  chưa hoàn thành 0,89%.
- Khối Trung học cơ sở: Hạnh kiểm loại Tốt đạt tỷ lệ 90%; Khá 9,1%; Trung bình 0,7%; Yếu 0,2%. Học lực loại Giỏi đạt tỷ lệ 26,2%, giảm 0,2% so với năm học trước; Khá 41,5%, giảm 0,2%; Trung bình 29,8%, tăng 0,2%; Yếu 2,4%, giảm 1,6%; Kém 0,1%. 
- Khối Trung học phổ thông: Hạnh kiểm loại Tốt đạt tỷ lệ 83,6%; Khá 13,4%; Trung bình 2,6%; Yếu 0,4%. Học lực loại Giỏi đạt tỷ lệ 12,4%, giảm 1,7% so năm học trước; Khá 51,9%, tăng 1,9%; Trung bình 31,4%, giảm 0,2%; Yếu 4%; Kém 0,3%. 
Kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh có 2.657 học sinh tham dự, có 1.117 học sinh đạt giải, tăng 335 giải so với năm trước, trong đó có 38 em đạt giải Nhất, tăng 19 em. Kỳ thi học sinh giỏi THPT cấp quốc gia năm 2019 tỉnh đạt 52 giải, trong đó: 3 giải Nhất, 11 giải Nhì, 16 giải Ba và 22 giải Khuyến khích và có 1 học sinh đạt Huy chương Đồng trong kỳ thi Olympic Vật lý Châu Á. 
Công  tác tổ chức tuyển sinh các lớp đầu cấp và thi THPT quốc gia 2019 tổ chức nghiêm túc, đúng quy chế; tỷ lệ tốt nghiệp THPT toàn tỉnh năm 2019  đạt 89,4% (thấp hơn 5,3 điểm % so với năm 2018), trong đó khối trường THPT đạt tỷ lệ 90,4 % và khối GDTX đạt tỷ lệ 51,2%).
Đào tạo: Năm học 2019-2020, Đại học Huế có 8.598 sinh viên được gọi nhập học theo nguyện vọng, đạt 76% chỉ tiêu tuyển sinh và giảm 1,65% so với năm học trước. Các trường có số lượng sinh viên nhập học giảm: Đại học Luật giảm 7,28%; Khoa giáo dục thể chất giảm 25,0%; ĐH Nông lâm giảm 29,49%; ĐH Khoa học giảm 20,94%.
Về đào tạo nghề: Từ đầu năm đến nay đã tuyển sinh 13.388 người học nghề (đạt 89% KH), trong đó cao đẳng 2.281 người; trung cấp 1.571 người; sơ cấp và dưới 3 tháng 9.536 người. Đưa tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2019 đạt trên 64%.
d. Tình hình y tế, dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm
Trong năm 2019, công tác chăm sóc sức khỏe, tuyên truyền phòng chống dịch bệnh được triển khai tích cực.
Tháng 11/2019, trên địa bàn tỉnh không có ca mắc sốt rét, giảm 2 ca so cùng kỳ năm trước; 1.048 ca mắc sốt xuất huyết, tăng 966 ca; không có ca mắc viêm gan siêu trùng, giảm 2 ca; 9 ca mắc bệnh Tay-Chân-Miệng, giảm 16 ca; không có ca mắc liên cầu lợn, giảm 2 ca. Không có trường hợp tử vong. Không có ca mắc thương hàn và viêm não vi rút, bằng cùng kỳ năm trước.
Tính chung từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh có 4 ca mắc sốt rét, giảm 8 ca so với cùng kỳ năm trước; 2.900 ca mắc sốt xuất huyết, tăng 2.639 ca; 23 ca mắc viêm gan siêu trùng, giảm 25 ca; 106 ca mắc bệnh Tay-Chân-Miệng, giảm 116 ca; 3 ca mắc liên cầu lợn, giảm 6 ca. Không có trường hợp tử vong. Không có ca mắc thương hàn và viêm não vi rút, bằng cùng kỳ năm trước.
Tháng 11/2019, qua kiểm tra sàng lọc trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 8 ca nhiễm mới HIV, giảm 1 ca so cùng kỳ năm trước; không có  trường hợp chuyển qua AIDS, giảm 2 ca; không có trường hợp tử vong, không tăng giảm so cùng kỳ. Từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 108 ca nhiễm mới HIV, tăng 19 ca so cùng kỳ năm trước; có 2 ca chuyển qua AIDS, giảm 7 ca; có 6 ca tử vong, tăng 3 ca. Hiện tại, trên địa bàn tỉnh có 389 bệnh nhân đang được quản lý và điều trị tại các cơ sở y tế, trong đó có 384 bệnh nhân điều trị ARV.
Tình hình ngộ độc thực phẩm: Từ 15/10 đến 15/11/2019 trên địa bàn tỉnh không có trường hợp ngộ độc thực phẩm xảy ra. Từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh xảy ra 3 vụ ngộ độc, số người bị ngộ độc 92 người, tăng 2 người so với cùng kỳ năm trước, không có trường hợp tử vong.
e. Hoạt động văn hóa và thể thao 
Trong năm 2019, trên địa bàn tỉnh đã tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, thể thao sôi nổi: Hoạt động mừng Đảng, mừng Xuân Kỷ Hợi 2019 với nhiều chương trình đặc sắc; tổ chức Festival nghề truyền thống Huế lần thứ 8 năm 2019 với chủ đề "Tinh hoa nghề Việt"; tổ chức nhiều giải thể thao trong tỉnh, tổ chức và tham gia nhiều giải thể thao lớn trong nước, trong đó: tổ chức Giải vô địch Vật cổ điển, Vật tự do toàn quốc năm 2019 với hơn 200 vận động viên đến từ 18 đoàn trong cả nước, kết thúc giải, đoàn thể thao Thừa Thiên Huế giành được 3 HCV, 2 HCB, 3 HCĐ xếp thứ nhì toàn đoàn nội dung vật tự do nữ, thứ tư toàn đoàn vật tự do nam; tổ chức giải vô địch bắn cung các đội mạnh toàn quốc 2019, đội tuyển bắn cung Thừa Thiên Huế tham dự với 6 VĐV, kết quả giành 1 HCV, 2 HCB, 1 HCĐ, có 1 VĐV thiết lập kỷ lục quốc gia mới; tham gia Giải vô địch Jujitsu toàn quốc lần I-2019 tại Hà Nội với 150 VĐV đến từ 14 tỉnh, thành toàn quốc, Đoàn Huế góp mặt 16 VĐV, giành được 1 HCB, 1 HCĐ.
Về thể thao quốc tế, trong năm 2019 đã tham gia nhiều giải thể thao quốc tế, trong đó: thi đấu Giải vô địch Cờ vua trẻ châu Á tại Sri Lanca đạt 02 HCV, 01 HCB, 04 HCĐ; Giải vô địch Karate Đông Nam Á tại Băngkok - Thái Lan đạt 01 HCV, 02 HCB, 01 HCĐ; Giải Vô địch Taekwondo Đông Nam Á tại Philippine đạt 01 Huy chương Đồng; tổ chức Giải đua xe đạp quốc tế Coupe De Hue 2019 và các hoạt đông thể thao hưởng ứng với gần 800 VĐV, trong đó có hơn 150 VĐV người nước ngoài; tham gia Giải đá cầu tại Pháp với hơn 200 vận động viên đến từ các quốc gia, VĐV Nguyễn Thị Thùy Linh Thừa Thiên Huế đã tham gia và  xuất sắc giành 1 HCV nội dung 3 nữ; tham gia Giải vô địch & vô địch vật trẻ Đông Nam Á 2019 tại Thái Lan quy tụ gần 1.000 VĐV đến từ các nước trong khu vực, Đội tuyển vật Thừa Thiên Huế có 8 VĐV tham dự  và đã xuất sắc giành được 12 HCV, 3 HCB, 1 HCĐ.
 Trong năm 2019, có hơn 350 lượt VĐV của 35 lượt đội tuyển được cử tham gia tập huấn và thi đấu các giải trong nước, khu vực và quốc tế, đạt được kết quả vượt trội với 455 huy chương các loại (113 HCV, 139 HCB, 203 HCĐ), trong đó có 32  huy chương quốc tế (16 HCV, 7 HCB, 9 HCĐ). Trong đó, Thừa Thiên Huế đã cử 03 VĐV tham dự Seagames 30 tại Philippines, xuất sắc đạt được 04 huy chương, trong đó vận động viên Nguyễn Thị Mỹ Hạnh đoạt 01 Huy chương Vàng môn vật; vận động viên Trần Thị Yến Hoa đoạt 01 Huy chương Bạc và 01 Huy chương Đồng môn điền kinh; vận động viên Dương Thị Quỳnh Như đoạt Huy chương Đồng môn Sambo. Ngoài ra, vận động viên Nguyễn Thị Thùy Linh được tập trung vào đội tuyển Bóng đá nữ Việt Nam giành được Huy chương Vàng tại Seagames.  
f. Tai nạn giao thông( ), trật tự, an toàn xã hội 
Từ ngày 16/11/2019 đến 15/12/2019, trên địa bàn tỉnh xảy ra 21 vụ tai nạn và va chạm giao thông, giảm 8 vụ so với cùng kỳ năm trước, làm chết 12 người, không tăng giảm; bị thương 15 người, giảm 9 người. Trong đó, tai nạn đường bộ xảy ra 21 vụ, giảm 7 vụ; làm chết 12 người, không tăng giảm; bị thương 15 người, giảm 8 người. Đường sắt không xảy ra vụ nào, giảm 1 vụ so; không có người bị thương, giảm 1 người. Tai nạn đường thủy không xảy ra, không tăng giảm so với cùng kỳ.
Trong quí IV/2019, trên địa bàn tỉnh xảy ra 46 vụ tai nạn và va chạm giao thông, giảm 16 vụ so với quí IV/2018; làm chết 25 người, giảm 6 người; bị thương 36 người, giảm 12 người. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 335 vụ tai nạn và va chạm giao thông, tăng 31 vụ so với cùng kỳ năm 2018; làm chết 176 người, tăng 13 người; bị thương 272 người, tăng 26 người. Trong đó, tai nạn đường bộ xảy ra 323 vụ, tăng 24 vụ; làm chết 169 người, tăng 9 người; bị thương 269 người, tăng 25 người. Đường sắt xảy ra 12 vụ, tăng 7 vụ; làm 7 người chết, tăng 4 người; bị thương 3 người, tăng 1 người. Tai nạn đường thủy không xảy ra, không tăng giảm so cùng kỳ.
Trong năm 2019, tình hình trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh ổn định, không xảy ra những vụ việc lớn nổi cộm, nhất là những vụ việc liên quan đến an ninh, chính trị, đất đai, tụ tập đám đông gây rối. Để đảm bảo an toàn giao thông và an ninh, trật tự trong dịp lễ tết và các sự kiện chính trị, lễ hội cuối năm, UBND tỉnh đã triển khai Công điện 1658/CĐ-TTg của Thủ Tướng Chính phủ  về đảm bảo trật tự, an toàn giao thông trong dịp Tết Dương lịch, Tết Nguyên đán Canh Tý và Lễ hội xuân 2020.
g. Tình hình cháy nổ và bảo vệ môi trường
Trong tháng 11/2019 trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 3 vụ cháy, không tăng giảm so cùng kỳ năm 2018, giá trị thiệt hại không đáng kể, không có trường hợp bị thương và tử vong. Các vụ cháy nguyên nhân chủ yếu do sự cố hệ thống điện. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 100 vụ cháy, tăng 38 vụ, tăng 61% so cùng kỳ năm 2018, có 3 trường hợp tử vong, 1 trường hợp bị thương, giá trị thiệt hại 44649,5 triệu đồng.
 Trong tháng 11/2019 đã phát hiện 12 vụ vi phạm môi trường, tăng 3 vụ so cùng kỳ năm 2018. Đã tiến hành xử lý 12 vụ với tổng số tiền xử phạt 238 triệu đồng. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 238 vụ vi phạm môi trường, tăng 75 vụ, tăng 46% so cùng kỳ năm 2018, đã tiến hành xử lý 238 vụ với tổng số tiền phạt 1121,4 triệu đồng. Các hành vi vi phạm chủ yếu: Khai thác cát trái phép, đánh bắt thủy sản hủy diệt, chặt phá rừng trái phép, thải nước thải ra môi trường không qua xử lý; vận chuyển đất đá, cát sạn rơi vãi và vận chuyển thực phẩm bẩn không rõ nguồn gốc, vận chuyển động vật không đảm bảo điều kiện thú y, giết mổ động vật không đúng quy định.
      
                
       

Gửi bởi    

HỆ THỐNG TÊN MIỀN MẠNG GSO
MÁY CHỦ TÊN MIỀN .GSO:
Chính:       10.0.1.1
Dự phòng: 10.0.1.2
  • Góc người dùng
Tên đăng nhập:
Mật khẩu:



Bạn đang dùng -

IP:3.235.77.252

Thống kê

Lượt truy cập  954
Đang trực tuyến   1