MyLabel

TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI THÁNG 5 NĂM 2020 TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

5/29/2020
                                         TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI 
                                                 THÁNG 5 NĂM 2020

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
a. Sản xuất nông nghiệp
Sản xuất nông nghiệp tháng 5/2020 tập trung chủ yếu thu hoạch lúa và cây hàng năm khác vụ đông xuân và thực hiện khâu làm đất gieo cấy lúa vụ hè thu. Diện tích gieo cấy lúa vụ đông xuân 2020 toàn tỉnh đạt 28.692 ha, giảm 0,80% so với vụ đông xuân năm trước. Nguyên nhân giảm chủ yếu do chuyển đổi diện tích đất lúa sang quy hoạch đất xây dựng nhà ở của một số địa phương; chuyển sang trồng cây hàng năm khác, cây lâu năm và nuôi trồng thủy sản; một số chân ruộng cao thiếu nước không thể canh tác. 
Từ ngày 24-26/4/2020, trên địa bàn tỉnh xuất hiện mưa lớn trên diện rộng làm cho diện tích lúa của các địa phương bị ngập úng và đổ ngã, ước tính khoảng 16.500 ha. Các ngành chức năng đã phối hợp với chính quyền địa phương khẩn trương huy động lực lượng, phương tiện hỗ trợ người dân thoát nước, tiêu úng để cứu lúa, hạn chế tối đa thiệt hại do mưa lớn gây ra.
Tình hình sâu bệnh trên cây lúa vụ đông xuân 2020 diễn ra trong phạm vi hẹp và mức độ gây hại thấp. Các ngành chức năng phối hợp với chính quyền địa phương tăng cường chỉ đạo người dân tập trung chăm sóc, đảm bảo cho cây lúa sinh trưởng tốt, không để lây lan sâu bệnh. 
Tính đến 15/5/2020 cơ bản đã kết thúc thu hoạch lúa đông xuân, năm nay do ảnh hưởng của 2 đợt mưa lớn  nên năng suất lúa của nhiều địa phương trong tỉnh giảm so với vụ đông xuân năm trước. Theo kết quả thăm đồng ước tính, năng suất lúa đông xuân 2020 đạt 59,5 tạ/ha, giảm 3 tạ/ha, giảm 4,80%; sản lượng lúa vụ đông xuân ước đạt 170.643 tấn, giảm 5,63% so với vụ đông xuân năm trước.
Năng suất và sản lượng một số cây hàng năm khác chủ yếu của vụ đông xuân 2020: Năng suất ngô ước đạt 41,3 tạ/ha, tăng 0,2 tạ/ha so cùng kỳ năm trước; sản lượng ước tính 3.982 tấn, giảm 7,07%. Cây khoai lang 55,2 tạ/ha, tăng 1,9 tạ/ha; sản lượng 6.748 tấn, giảm 11,02%. Cây lạc 24,9 tạ/ha, tăng 7,9 tạ/ha; sản lượng 6.876 tấn, tăng 38,88% . Rau các loại 100,8 tạ/ha, tăng 3,9 tạ/ha; sản lượng 31.511 tấn,  tăng 3,30%. Ớt cay 86 tạ/ha, tăng 3,6 tạ/ha.
Chăn nuôi: Từ đầu năm 2020 đến nay, một số dịch bệnh trên động vật xảy ra ở nhiều tỉnh, thành trong cả nước và có chiều hướng diễn biến phức tạp. Ngày 27/3/2020, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Chỉ thị số 08/CT-UBND về việc tập trung triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp phòng, chống dịch bệnh gia súc, gia cầm. Công tác phòng chống dịch bệnh, kiểm dịch, kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y trên địa bàn được tăng cường nhằm đảm bảo an toàn thực phẩm và góp phần ngăn chặn dịch bệnh. Trong tháng  5/2020 không xảy ra dịch bệnh ở đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh.
Dịch tả lợn Châu Phi trên địa bàn tỉnh được các địa phương tiếp tục kiểm soát chặt chẽ nhưng tình hình chăn nuôi lợn vẫn còn gặp nhiều khó khăn do số lượng đàn lợn nái giảm mạnh sau đợt dịch, nguồn lợn giống khan hiếm và có giá bán cao nên làm cho việc tái đàn chậm. Hiện nay, các đơn vị chăn nuôi lợn quy mô lớn tiếp tục đầu tư tái đàn nhờ tăng cường thực hiện các giải pháp an toàn sinh học, chú trọng chất lượng và nguồn gốc con giống đảm bảo. Tính đến thời điểm 01/5/2020, tổng đàn lợn toàn tỉnh đạt 105.566 con, giảm 33,96% so cùng kỳ năm trước.
Tổng đàn trâu toàn tỉnh thời điểm 01/5/2020 đạt 16.479 con, giảm 1,68% so cùng kỳ năm trước; đàn bò 29.922 con, giảm 1,86%. Nguyên nhân chủ yếu đàn trâu, bò giảm là do hiện nay đồng cỏ chăn nuôi bị thu hẹp, lao động chăn nuôi ngày càng giảm và dự án khuyến nông ở một số huyện đã kết thúc. 
Tình hình chăn nuôi gia cầm từ đầu năm đến nay tiếp tục có nhiều thuận lợi, dịch bệnh không xảy ra, công tác tiêm phòng thú y, vệ sinh môi trường thường xuyên chú trọng. Tuy nhiên từ cuối tháng 3/2020 do tăng cường thực hiện nghiêm ngặt các biện pháp phòng chống dịch bệnh Covid -19 nên khâu tiêu thụ gia cầm và một số nông sản khác gặp khó khăn, làm cho người chăn nuôi thận trọng trong đầu tư tái đàn vì lo sợ rủi ro. Tổng đàn gia cầm thời điểm 01/5/2020 đạt 3.626 nghìn con, giảm 0,50% so cùng kỳ năm trước, trong đó đàn gà 2.847 nghìn con, giảm 0,35%. 
Công tác tiêm phòng đàn gia súc, gia cầm vụ xuân tính đến 15/5/2020 đã tiêm 22.705 liều vắc xin tụ huyết trùng trâu bò đạt 61% kế hoạch; 30.923 liều vắc xin tam liên lợn đạt 60,6% kế hoạch; 2.760 liều vắc xin VX + KT E.coli đạt 33% kế hoạch; 443.700 liều vắc xin cúm gia cầm, đạt 84% kế hoạch; 384.400 liều vắc xin dịch tả vịt, đạt 74% kế hoạch; 80.560 liều vắc xin Newcastle đạt 82% kế hoạch; 6.100 liều vắc xin tụ huyết trùng gia cầm đạt 53% kế hoạch; 40.900 liều vắc xin đậu gà, đạt 72% kế hoạch; 126.900 liều vắc xin VX+KT Gumboro đạt 76% kế hoạch; 116.720 liều vắc xin Lasota+New, đạt 74% kế hoạch.
b. Lâm nghiệp
Sản xuất lâm nghiệp tháng 5/2020 chủ yếu tập trung thực hiện khâu lâm sinh và khai thác gỗ rừng trồng. Ước tính sản lượng gỗ rừng trồng khai thác trong tháng đạt 66.970 m3, giảm 2,04% so cùng kỳ năm trước; sản lượng củi đạt 9.842 ste, giảm 2,67%. Lũy kế năm tháng đầu năm 2020, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 255.836 m3, tăng 1,51% so với cùng kỳ năm trước, toàn bộ là gỗ rừng trồng; sản lượng củi đạt 54.784 ste, giảm 1,28%.
Tháng 5/2020 do thời tiết bắt đầu vào mùa nắng nóng nên hoạt động trồng rừng không diễn ra. Lũy kế năm tháng đầu năm, diện tích rừng trồng tập trung ước đạt 3.786 ha, tăng 6,05% so cùng kỳ năm trước, toàn bộ là rừng sản xuất. 
Trong tháng 5/20202 đã xảy ra 2 vụ cháy rừng do thời tiết nắng nóng kéo dài với diện tích bị cháy là 5,8 ha; phá rừng làm nương rẫy xảy ra 26 vụ với diện tích rừng bị phá 3,4 ha. Lũy kế năm tháng đầu năm, tổng số vụ phá rừng là 31 vụ, tăng 16 vụ so với cùng kỳ năm trước với diện tích bị thiệt hại 4,6 ha, tăng 1,29 ha; cháy rừng xảy ra 2 vụ, tăng 2 vụ với diện tích rừng bị cháy 5,8 ha, tăng 5,8 ha.
c. Thủy sản
Tình hình nuôi trồng thủy sản: Diện tích nuôi trồng thủy sản tháng 5/2020 ước đạt 743 ha, tăng 5,39% so cùng kỳ năm trước, trong đó nuôi nước lợ 243 ha, chiếm 32,71% tổng diện tích thả nuôi, tăng 5,65%; nuôi nước ngọt 500 ha, chiếm 67,29%, giảm 5,26%. Trong nuôi nước lợ, diện tích nuôi cá 45 ha, tăng 12,50% so với cùng kỳ; nuôi tôm 149 ha, tăng 4,95%, trong đó tôm thẻ chân trắng 31 ha, tăng 14,81%. Lũy kế tổng diện tích nuôi trồng thủy sản năm tháng đầu năm 2020 ước đạt 1.412 ha, tăng 5,29% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm diện tích nuôi nước lợ 652,5 ha, tăng 6,97%; nuôi nước ngọt 759,5 ha, tăng 3,90%. Trong nuôi nước lợ, nuôi cá đạt 139 ha, tăng 7,75%; nuôi tôm đạt 237 ha, tăng 12,32%.
Về sản xuất giống thủy sản, trong tháng 5/2020 sản xuất được 15.5 triệu con giống, tăng 4,03% so cùng kỳ năm trước, trong đó tôm sú giống 9,1 triệu con, tăng 3,41%; cá giống 5,9 triệu con, tăng 5,36%. Lũy kế năm tháng đầu năm 2020 số giống sản xuất ước đạt 114 triệu con, tăng 3,07% so cùng kỳ năm trước, toàn bộ số giống sản xuất chủ yếu cung cấp cho các cơ sở nuôi trên địa bàn tỉnh.
Sản lượng thủy sản nuôi trồng thu hoạch tháng 5/2020 ước đạt 1.676 tấn, tăng 8,34% so với cùng kỳ năm trước; trong đó sản lượng cá 1.280 tấn, tăng 6,49%; tôm các loại 340 tấn, tăng 16,84%. Lũy kế sản lượng thủy sản nuôi trồng năm tháng đầu năm 2020 ước đạt 4.003 tấn, tăng 9,31% so cùng kỳ năm trước, trong đó cá các loại 2.388 tấn, tăng 5,90%; tôm các loại 1.453 tấn, tăng 16,15%.
Tình hình khai thác hải sản: Sản lượng khai thác tháng 5/2020 ước đạt 5.058 tấn, tăng 3,54% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khai thác biển 4.705 tấn, tăng 3,89%; khai thác nội địa 353 tấn, giảm 0,84%. Lũy kế sản lượng khai thác năm tháng đầu năm 2020 ước đạt 16.591 tấn, tăng 3,48% so cùng kỳ năm trước, trong đó khai thác biển 15.255 tấn, tăng 3,88%; khai thác nội địa 1.336 tấn, giảm 0,89%.
Tính chung sản lượng thủy sản nuôi trồng và khai thác năm tháng đầu năm 2020 ước đạt 20.594 tấn, tăng 4,56% so cùng kỳ năm trước.
2. Sản xuất công nghiệp
Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5/2020 tăng 15,36% so với tháng trước và giảm 0,28% so cùng kỳ năm trước. Tính chung năm tháng đầu năm 2020 chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 0,20% so với cùng kỳ năm trước, trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng tăng 8,79%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,65%; sản xuất, phân phối điện, nước đá giảm 16,62%; cấp nước và thu gom rác thải tăng 3,86%. 
Bắt đầu từ tháng 5/2020, dịch bệnh Covid-19 cơ bản được không chế trong cả nước, sản xuất kinh doanh từng bước được phục hồi. Tuy nhiên trên thế giới dịch bệnh vẫn còn diễn biến phức tạp, đặt biệt các đối tác thương mại lớn của Việt Nam như  Mỹ, EU, Nhật Bản vẫn còn hạn chế nới lỏng phong tỏa để kiểm soát dịch bệnh nên đã ảnh hưởng lớn đến sản xuất cũng như xuất nhập khẩu hàng hóa của ta. 
Chỉ số sản xuất công nghiệp trên địa bàn 5 tháng đầu năm tăng thấp chủ yếu do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo là động lực tăng trưởng chính đạt mức tăng thấp, đồng thời ngành sản xuất điện sản lượng tiếp tục giảm sâu so cùng kỳ. 
Trong bối cảnh đại dịch Covid-19, sản xuất công nghiệp trong năm tháng đầu năm 2020 có được mức tăng trưởng trên chủ yếu là nhờ một số ngành chủ lực của tỉnh như chế biến tôm xuất khẩu, sản xuất dăm gỗ, sản xuất vỏ lon nhôm, sản xuất bao bì, sản xuất tân dược có mức tăng trưởng khá. Bên cạnh đó, nhờ năng lực bổ sung thêm từ các nhà máy mới đưa vào hoạt động từ giữa năm 2019 và đầu năm nay: Nhà máy sản xuất khoáng Cristobalite của Công ty Phenikaa; Nhà máy sợi Phú Quang; Công ty men Frit Phú Sơn; Công ty men frit Hương Giang; mở rộng Nhà máy sợi Phú An; Nhà máy sản xuất đồ chơi của công ty Billion Max. Tuy nhiên năng lực các nhà máy này còn ở qui mô nhỏ.  
Các ngành có chỉ số sản xuất năm tháng đầu năm 2020 tăng so với cùng kỳ năm trước: Khai thác đá tăng 1,58%; chế biến thủy sản tăng 8,43%; sản xuất bia tăng 1,76%; sản xuất da và các sản phẩm từ da tăng 2,16%; chế biến dăm gỗ tăng 14,93%; sản xuất hoát chất và các sản phẩm hóa chất tăng 1,45%; sản xuất tân dược tăng 15,68%; sản xuất sản phẩm từ plastic tăng 14,78%; sản xuất xi măng, vôi, thạch cao tăng 0,97%; sản xuất vi tính và các thiết bị ngoại vi tăng 6,45%; sản xuất vỏ lon nhôm tăng 15,13%; cấp nước tăng 4,40%; xử lý nước thải tăng 1,95%; thu gom rác thải tăng 1,88%.
Sản xuất chế biến thủy sản những tháng đầu năm 2020 có mức tăng trưởng khá do các công ty đã chủ động được nguồn nguyên liệu đầu vào và thị trường xuất khẩu tiếp tục duy trì lợi thế và phát triển. 
Ngành sản xuất bia mặc dù chịu ảnh hưởng kép bởi Nghị định 100 và dịch Covid-19 nhưng vẫn giữ được tăng trưởng là nhờ thị trường tiêu thụ trong nước tiếp tục được mở rộng, đồng thời Công ty đã tìm kiếm được thị trường xuất khẩu sang các nước Úc, Malaysia. 
Các ngành có chỉ số sản xuất năm tháng đầu năm 2020 giảm so với cùng kỳ: Sản xuất các loại bánh từ bột giảm 1,17%; sản xuất sợi giảm 1,92%; may mặc giảm 0,19%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy giảm 1,98%; in ấn giảm 13,69%; sản xuất gạch ngói giảm 3,78%; đúc kim loại màu giảm 39,19%; đóng tàu và cấu kiện nổi giảm 55,99%; sản xuất ô tô giảm 17,24%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế giảm 13,09%; sản xuất và phân phối điện giảm 16,62%, trong đó, điện sản xuất giảm 25,01%. 
Ngành dệt may chiếm tỷ trọng trên 35% toàn ngành công nghiệp, trong 5 tháng đầu năm tăng trưởng âm do ảnh hưởng bởi thị xuất khẩu. Những doanh nghiệp may hết đơn hàng đã chuyển sang sản xuất khẩu trang nhưng giá trị mang lại từ sản phẩm này nhỏ hơn nhiều so với áo quần nên không đóng góp nhiều cho chỉ số phát triển của ngành. Ngành dệt trong tháng 4 và tháng 5 giảm khá sâu, một bộ phận công  nhân phải nghỉ việc từ giữa tháng 4 đến nay vẫn chưa đi làm trở lại. 
Ngành sản xuất điện tuy có bổ sung thêm năng lực mới từ Nhà máy thủy điện A Lin B1 công suất 46MW nhưng sản xuất điện đang gặp khó khăn do từ cuối năm 2019 đến nay lượng mưa trên địa bàn thấp, các nhà máy không đủ nước để chạy hết công suất thiết kế. 
Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu có mức sản xuất trong năm tháng đầu năm 2020 tăng so cùng kỳ năm trước: Đá xây dựng khác ước đạt 284,8 nghìn m3, tăng 5,22%; tôm đông lạnh đạt 1,7 nghìn tấn, tăng 8,43%; bia đóng lon 50,8 triệu lít, tăng 3,53%; túi xách 1.020,2 nghìn cái, tăng 33,16%; dăm gỗ 269,4 ngàn tấn, tăng 14,93%; phân vi sinh 5,6 nghìn tấn, tăng 3,00%; cao su tổng hợp 2,1 nghìn tấn, tăng 2,14%; thuốc kháng sinh dạng viên 23,6 triệu viên, tăng 12,32%; thuốc mỡ 39,2 tấn, tăng 25,14%; xi măng 885,0 nghìn tấn, tăng 0,50%; clanhke 1.110,7 nghìn tấn, tăng 0,10%; vỏ lon nhôm 5,8 nghìn tấn, tăng 15,13%; điện thương phẩm 704,9 triệu kwh, tăng 0,38%; nước máy 21,2 triệu m3, tăng 4,40%.
Các sản phẩm công nghiệp chủ yếu có mức sản xuất năm tháng đầu năm 2020 giảm so cùng kỳ: Bánh được làm từ bột ước đạt 1.403,1 nghìn tấn, giảm 1,17%; bia đóng chai 34,6 triệu lít, giảm 3,10%; sợi các loại 31,3 nghìn tấn, giảm 1,92%; quần áo lót 127,0 triệu cái, giảm 11,80%; giày dép da 48,0 nghìn đôi, giảm 20,89%; thùng, hộp bằng bìa cứng 4,0 triệu chiếc, giảm 1,90%; giấy và bìa nhăn 2,1 nghìn tấn, giảm 2,20%; sản phẩm in 376,0 triệu trang, giảm 13,69%; phân NPK 6,8 nghìn tấn, giảm 2,79%; gạch men 5,4 triệu m2, giảm 3,78%; xe ô tô 48 chiếc, giảm 17,24%; hương vòng 5,5 triệu vòng, giảm 9,01%; điện sản xuất 293,6 triệu kwh, giảm 25,01%.
3. Vốn đầu tư
Tổng vốn đầu tư thực hiện theo giá hiện hành trên địa bàn trong năm tháng đầu năm 2020 ước đạt 7.824,2 tỷ đồng, bằng 28,98% KH năm, tăng 6,83% so với cùng kỳ năm trước; trong đó vốn do Trung ương quản lý 2.095,4 tỷ đồng, bằng 31,39% KH, giảm 0,38%, chiếm 26,78% tổng vốn; vốn do Địa phương quản lý 5.728,8 tỷ đồng, bằng 28,19% KH, tăng 9,73%, chiếm 73,22%.
Vốn thuộc ngân sách Nhà nước năm tháng đầu năm 2020 đạt 1.711,5 tỷ đồng, bằng 29,76% KH, tăng 26,59% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 21,87% tổng vốn, gồm có: Vốn ngân sách Trung ương quản lý 439,0 tỷ đồng, bằng 43,04% KH, tăng 45,85%; vốn ngân sách Địa phương quản lý 1.272,5 tỷ đồng, bằng 26,90%, tăng 21,08%. Nguồn vốn tín dụng đạt 3.348 tỷ đồng, bằng 30,40% KH, tăng 0,72% so cùng kỳ, chiếm 42,79% tổng vốn; vốn đầu tư của doanh nghiệp 1.140,4 tỷ đồng, bằng 33,35% KH, tăng 2,65%, chiếm 14,58%; vốn viện trợ 546,0 tỷ đồng, bằng 32,78% KH, tăng 34,05%, chiếm 6,98%; vốn đầu tư nước ngoài 219 tỷ đồng, bằng 8,76% KH, giảm 43,85%, chiếm 2,80%.
Nguồn vốn đầu tư trong 5 tháng đầu năm chủ yếu tập vào các dự án chuyển tiếp: Sửa chữa nâng cấp hệ thống tưới phục vụ sản xuất thuộc Khu tái định cư thủy điện A Lưới; Cống An Xuân và kè gia cố hai bờ hói An Xuân, xã Quảng An; Kè chống sạt lở bờ sông Nong, huyện Phú Lộc; Sửa chữa, nâng cấp hồ Thọ Sơn, xã Hương Xuân; Kè chống sạt lở bờ sông Tả Trạch; Nạo vét và xây dựng Kè hói Đốc Sơ-An Hòa;… Vốn đầu tư NSNN do trung ương quản lý tiếp tục tập trung đầu tư vào những dự án trọng điểm quốc gia: Dự án cao tốc Cam Lộ - La Sơn; Dự án đầu tư xây trung tâm Sản phụ khoa bệnh viện TW Huế; Khu kinh tế quốc phòng A So, A Lưới; Trung tâm phục hồi chức năng đoàn 41 Huế; Đồn Biên phòng cửa khẩu Hồng Vân; xây dựng giảng đường và tăng cường năng lực xanh trường Cao đẳng Công nghiệp;…
Nguồn vốn doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh tiếp tục đầu tư vào các dự án gấp rút hoàn thiện để đưa vào sử dụng: Dự án phức hợp Manor Crown; Khu nghỉ dưỡng nước khoáng nóng Mỹ An. Các dự án trọng điểm quốc gia BT và BOT tiếp tục được hoàn thiện như:  Hầm Hải Vân giai đoạn II; Dự án đường cao tốc La Sơn- Túy Loan. Ngoài ra một số dự án chuyển tiếp được thực hiện nhanh các công đoạn cuối để đưa vào hoạt động: Các nhà máy thủy điện A Lin B2, Rào Trăng 3 ; Dự án Movenpic Resort Lăng Cô. Nguồn vốn đầu tư nước ngoài  chủ yếu thực hiện các dự án chuyển tiếp: Dự án Laguna giai đoạn 2; Dự án khu nghỉ dưỡng của Công ty Minh Viễn; Dự án Nhà máy dệt Sunjin AT&C Vina; Dự án Nhà máy chế xuất Billion Max Việt Nam ; Nhà máy xử lý rác thải Phú Sơn ; Nhà máy của công ty Kanglongda;…
Từ ngày 16/4/2020 đến ngày 15/5/2020, trên địa bàn có 1 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký mới của Nhật Bản vào ngành công nghiệp sản xuất chế biến chế tạo với số vốn đăng ký 4 triệu USD. Tính từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh có 04 dự án đầu tư nước ngoài đăng ký mới với tổng số vốn đăng ký 11,41 triệu USD. Trong đó, Vương quốc Anh 01 dự án với số vốn 0,06 triệu USD đầu tư vào lĩnh vực công nghệ thông tin; Hoa kỳ 01 dự án với số vốn 6 triệu USD vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo; Nhật Bản 02 dự án với số vốn 5,35 triệu USD vào lĩnh vực kiến trúc 1 dự án và công nghiệp chế biến chế tạo 1 dự án.
4. Thương mại, dịch vụ và giá cả 
Dịch Covid -19 đã tác động đến nhiều mặt kinh tế, đời sống, xã hội của tỉnh, trong đó một số ngành chịu tác động lớn như du lịch, lưu trú và ăn uống, vận tải... Mặc dù từ đầu tháng 5/2020, dịch bệnh cơ bản được không chế trong cả nước, sản xuất kinh doanh từng bước được phục hồi, nhưng ảnh hưởng của dịch bệnh vẫn còn lâu dài và tiềm ẩn khả năng bùng phát đe dọa đến các hoạt động dễ bị rũi ro, thương tổn. Nhằm mục đích phục nhanh, vững chắc nền kinh tế sau dịch, nhất là đối với các hoạt động du lịch, dịch vụ, UBND tỉnh đã tiến hành  đánh giá đúng thực trạng, đề ra các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện các chương trình kích cầu, phục hồi và phát triển trở lại. Trong đó, ngày 20/5/2020, UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 129/KH-UBND về triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp cấp bách phục hồi, kích cầu phát triển du lịch Thừa Thiên Huế năm 2020 trong bối cảnh tác động của dịch Covid-19. 
a. Bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 5/2020 ước đạt 3.138,2 tỷ đồng, tăng 36,77% so với tháng trước và giảm 11,67% so với cùng kỳ năm trước. Xét theo ngành hàng, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 2.616,1 tỷ đồng, chiếm 83,36% trong tổng số, tăng 26,68% so với tháng trước và giảm 3,21% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng so với tháng trước là do hoạt động kinh doanh đã trở lại bình thường mới sau thời gian giãn cách xã hội, nhu cầu tiêu dùng người dân đã tăng lên, trong đó mặt hàng lương thực, thực phẩm tăng 12,94%; may mặc tăng 41,28%; đồ dùng dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 39,02%; vật phẩm văn hóa giáo dục tăng 43,13%; ô tô con tăng 27,34%; xăng, dầu tăng 48,64%. Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống đạt 327,0 tỷ đồng, chiếm 10,46% trong tổng số, tương ứng tăng gấp 2,9 lần và giảm 43,80%; doanh thu dịch vụ du lịch lữ hành trong tháng không phát sinh số liệu; doanh thu dịch vụ khác đạt 195,0 tỷ đồng, chiếm 6,24%, tăng 68,90% và giảm 22,27%.
Tính chung năm tháng đầu năm 2020, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trên địa bàn ước đạt 15.938,4 tỷ đồng, giảm 9,79% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, kinh doanh bán lẻ hàng hóa đạt 13.118,2 tỷ đồng, chiếm 82,31% tổng số và giảm 2,31%; dịch vụ lưu trú và ăn uống đạt 1.752,0 tỷ đồng, chiếm 11,04% và giảm 39,71%; du lịch lữ hành đạt 33,3 tỷ đồng, chiếm 0,21% và giảm 58,27%; dịch vụ khác đạt 1.034,7 tỷ đồng, chiếm 6,52% và giảm 17,49%.
b. Vận tải hành khách và hàng hóa 
Vận tải hành khách tháng 5/2020 ước đạt 1.048,2 nghìn lượt khách và 53,3 triệu lượt khách.km, tăng 96,21% về lượt khách và tăng 97,81% về lượt khách.km so với tháng trước; giảm 48,07% về lượt khách và giảm 47,26% về lượt khách.km so cùng kỳ năm trước.
Dự ước vận tải hành khách năm tháng đầu năm 2020 đạt 7.352,9 nghìn lượt khách, giảm 27,60% và 376,4 triệu lượt khách.km,giảm 26,33% so cùng kỳ năm trước; trong đó vận tải hành khách đường bộ ước đạt 7.099,0 nghìn lượt khách, giảm 27,63% và 375,3 triệu lượt khách.km, giảm 26,33%; đường sông 253,9 nghìn lượt khách, giảm 26,83% và 1,1 triệu lượt khách.km, giảm 26,47%.
Vận tải hàng hóa tháng 5/2020 ước đạt 1.089,8 nghìn tấn và 98,3 triệu tấn.km, tăng 45,84% về tấn và tăng 45,06% về tấn.km so với tháng trước; giảm 0,45% về tấn và giảm 2,38% về tấn.km so cùng kỳ năm trước.
Dự ước vận tải hàng hóa năm tháng đầu năm 2020 đạt 5.100,6 nghìn tấn, giảm 5,05% và 457,6 triệu tấn.km, giảm 6,79% so cùng kỳ năm trước, trong đó vận tải hàng hóa đường bộ ước đạt 5.054,1 nghìn tấn, giảm 4,78% và 399,1 triệu tấn.km, giảm 5,80%; đường biển 46,5 nghìn tấn, giảm 16,06% và 58,5 triệu tấn.km, giảm 12,92%.
Doanh thu vận tải, bốc xếp và bưu chính chuyển phát tháng 5/2020 ước đạt 225,2 tỷ đồng, tăng 48,87% so với tháng trước và giảm 12,91% so cùng kỳ năm trước. Tính chung năm tháng đầu năm 2020, doanh thu vận tải, bốc xếp và bưu chính chuyển phát ước đạt 1.129,1 tỷ đồng, giảm 9,58% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Đường bộ đạt 1.046,7 tỷ đồng, giảm 10,94%; đường sông 1,5 tỷ đồng, giảm 34,48%; đường biển 81,0 tỷ đồng, tăng 13,70%. Chia theo loại hình dịch vụ: Doanh thu vận tải hành khách đạt 217,4 tỷ đồng, giảm 27,43%; doanh thu vận tải hàng hóa đạt 808,1 tỷ đồng, giảm 5,54%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 96,7 tỷ đồng, tăng 9,29%; bưu chính chuyển phát đạt 6,9 tỷ đồng, tăng 15,53%.
c. Lượt khách các cơ sở lưu trú phục vụ và du lịch lữ hành
Dự ước lượt khách cơ sở lưu trú phục vụ tháng 5/2020 đạt 37,8 nghìn lượt khách, tăng 5,7 lần so với tháng trước và giảm 78,25% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: Lượt khách ngủ qua đêm đạt 31,9 nghìn lượt, tương ứng tăng 5,4 lần và giảm 79,01%; lượt khách trong ngày đạt 5,9 nghìn lượt, tăng 7,5 lần và giảm 72,92%. 
Trong tổng số lượt khách ngủ qua đêm tháng 5/2020, lượt khách quốc tế ước đạt 4,6 nghìn lượt, tăng 94,32% so với tháng trước và giảm 93,78% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách trong nước đạt 27,4 nghìn lượt, tương ứng tăng 7,7 lần và giảm 65,19%. 
Tính chung năm tháng đầu năm 2020, tổng lượt khách cơ sở lưu trú phục vụ ước đạt 466,1 nghìn lượt khách, giảm 51,25% so cùng kỳ năm trước; trong đó lượt khách ngủ qua đêm 414,7 nghìn lượt, giảm 51,44%; lượt khách trong ngày 51,4 nghìn lượt, giảm 49,70%.
Trong tổng số lượt khách ngủ qua đêm năm tháng đầu năm, khách quốc tế ước đạt 234,8 nghìn lượt, giảm 50,43% so với cùng kỳ; lượt khách trong nước đạt 179,9 nghìn lượt, giảm 52,69%.
Ngày khách cơ sở lưu trú phục vụ tháng 5/2020 ước đạt 58,3 nghìn ngày khách, tăng 6,2 lần so với tháng tháng trước và giảm 80,86% so với cùng kỳ năm trước, chia ra ngày khách quốc tế đạt 9,0 nghìn ngày khách, tương ứng tăng 2,4 lần và giảm 94,32%; ngày khách trong nước 49,4 nghìn ngày khách, tăng 8,6 lần và giảm 66,45%. Đưa tổng ngày khách cơ sở lưu trú phục vụ năm tháng đầu năm 2020 ước đạt 798,2 nghìn ngày khách, giảm 52,29% so cùng kỳ năm trước; trong đó, ngày khách quốc tế 472,7 nghìn ngày, giảm 51,62%; ngày khách trong nước 325,5 nghìn ngày, giảm 53,24%.
Doanh thu cơ sở lưu trú ước thực hiện tháng 5/2020 đạt 28,6 tỷ đồng, tăng 5,9 lần so với tháng trước và giảm 78,79% so cùng kỳ năm trước. Đưa doanh thu cơ sở lưu trú thực hiện năm tháng đầu năm 2020 ước đạt 350,5 tỷ đồng, giảm 51,84% so cùng kỳ năm trước.
Hoạt động du lịch lữ hành trong tháng 5/2020 không diễn ra. Tổng lượt khách theo tour thực hiện năm tháng đầu năm 2020 ước đạt 19,5 nghìn lượt, giảm 58,76% so cùng kỳ năm trước. Tổng ngày khách theo tour năm tháng đầu năm 2020 ước đạt 41,3 nghìn ngày, giảm 58,62% so cùng kỳ năm trước.
d. Giá cả
- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
Chỉ số giá tiêu dùng chung toàn tỉnh tháng 5/2020 tăng 0,03% so với tháng trước. Nguyên nhân tăng chủ yếu do điều chỉnh tăng mạnh giá gas, đồng thời giá cả một số mặt hàng tăng nhẹ như thực phẩm, may mặc,... Các nhóm hàng hóa dịch vụ có chỉ số giá tăng so với tháng trước: Nhóm thực phẩm tăng 0,77%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,65%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,31%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,15%;  đồ uống và thuốc lá tăng 0,06%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,07%. Các nhóm ăn uống ngoài gia đình; thuốc và dịch vụ y tế; giáo dục; bưu chính viễn thông có chỉ số giá không tăng giảm so với tháng trước. Các nhóm có chỉ số giá giảm so với tháng trước: Nhóm giao thông giảm 2,38%; lương thực giảm 0,69%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,32%. 
Chỉ số giá tiêu dùng chung toàn tỉnh tháng 5/2020 giảm 1,63% so với tháng 12 năm trước và tăng 2,50% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm tháng đầu năm 2020 tăng 4,85% so với bình quân cùng kỳ năm 2019, trong đó nhóm thực phẩm tăng mạnh nhất ở mức 13,21%, chủ yếu do giá thịt lợn tăng cao và nhóm giáo dục tăng 12,55%, chủ yếu do học phí các trường đại học, cao đẳng, trung cấp và mầm non tư thục tăng vào đầu năm học mới.
- Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ 
Chỉ số giá vàng tháng 5/2020 tăng 3,29% so với tháng trước, tăng 12,13% so với tháng 12 năm trước và tăng 27,73% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 5/2020 giảm 0,50% so với tháng trước, tăng 0,97% so với tháng 12 năm trước và tăng 0,49% so với cùng kỳ năm trước. 
5. Tài chính, ngân hàng
Tài chính : 
Tổng thu ngân sách trên địa bàn ước tính đến 30/5/2020 đạt 3.199,3 tỷ đồng, bằng 42,06% dự toán năm. Trong đó: Thu nội địa đạt 3.016,9 tỷ đồng, bằng 42,58% dự toán; thu thuế từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 175,0 tỷđồng,  bằng 35,57% dự toán. Trong thu nội địa: Thu doanh nghiệp Nhà nước ước đạt 160,0 tỷ đồng, bằng 35,96% dự toán; thu doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 880,0 tỷ đồng, bằng 38,26% dự toán; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 400,0 tỷ đồng, bằng 33,06% dự toán; thuế thu nhập cá nhân 170,0 tỷ đồng, bằng 44,16% dự toán; thuế bảo vệ môi trường 241,0 tỷ đồng, bằng 33,01% dự toán.
Tổng chi ngân sách địa phương tính đến 30/5/2020 ước đạt 3.847,3 tỷ đồng, bằng 32,14% dự toán, trong đó chi đầu tư phát triển 952,6 tỷ đồng,  bằng 22,37% dự toán; chi sự nghiệp kinh tế 211,5 tỷ đồng, bằng 29,01% dự toán; chi sự nghiệp giáo dục đào tạo 1.127,6 tỷ đồng, bằng 38,05% dự toán; chi sự nghiệp y tế 194,6 tỷ đồng, bằng 29,45% dự toán; chi quản lý Nhà nước 600,3 tỷ đồng, bằng 44,76% dự toán.
Ngân hàng( ):
Tiếp tục triển khai các văn bản chỉ đạo về phòng, chống dịch bệnh Covid-19, trong tháng đã triển khai thực hiện các giải pháp theo Chỉ thị 19/CT-TTg ngày 24/4/2020 của Thủ tướng Chính phủ, Công văn 3482/UBND-GD ngày 27/4/2020 của UBND tỉnh. Chi nhánh đã bổ sung phương án phòng, chống dịch bệnh tại NHNN chi nhánh theo chỉ đạo mới.
Các ngân hàng thương mại trên địa bàn cùng tham dự Hội nghị trực tuyến toàn Ngành về việc tăng cường hoạt động tín dụng ngân hàng nhằm khắc phục khó khăn do ảnh hưởng của dịch Covid-19. Đồng thời triển khai thực hiện Thông báo số 130/TB-TTH ngày 24/4/2020 của Thống đốc NHNN về nội dung hội nghị này đến các TCTD trên địa bàn.
 Triển khai và theo dõi tình hình thực hiện Nghị quyết 42 và Quyết định số 15/2020/QĐ-TTg của Chính phủ.
Tổng nguồn vốn huy động đến cuối tháng 05/2020 ước đạt 48,7 nghìn tỷ đồng, tăng 0,7% so với đầu năm; tổng dư nợ tín dụng ước đạt 51,1 nghìn tỷ đồng, tăng1,1%.
Đến cuối tháng 4 năm 2020 cho vay một số lĩnh vực ưu tiên theo chính sách của Chính phủ: Cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn giảm 3,39% so với đầu năm; cho vay hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa giảm 9,06%; cho vay phát triển sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu tăng 6,3%; cho vay ngành công nghiệp hỗ trợ giảm 2,2%.
Về lãi suất, các tổ chức tín dụng trên địa bàn duy trì mức lãi suất huy động và cho vay ổn định, cụ thể:
Lãi suất huy động bằng VND phổ biến ở mức 0,2%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn hoặc có kỳ hạn dưới 1 tháng, kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng ở mức 3,75-4,25%/năm, kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng từ 4,5-5,0%/năm, kỳ hạn từ 12 tháng trở lên ở mức 5-6,0%/năm. Lãi suất cho vay bằng VND đối với các lĩnh vực ưu tiên ở mức 5,0%/năm đối với ngắn hạn, lãi suất cho vay các lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường ở mức 5,5-8,0%/năm đối với ngắn hạn; 7,5-9,0%/năm đối với trung và dài hạn.
Lãi suất huy động USD phổ biến bằng mức trần do NHNN quy định là 0,0%/năm đối với tiền gửi của tổ chức và cá nhân. Lãi suất cho vay USD ở mức 2,8-5%/năm.
6. Các vấn đề xã hội
a. Giáo dục 
Thực hiện Quyết định số 736/QĐ-BGDĐT ngày 13/3/2020 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Chủ tịch UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 1096/QĐ-UBND ngày 29/4/2020 về việc sửa đổi thời gian hoàn thành chương trình giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên. Thời gian kết thúc học kỳ II năm học 2019-2020 trước ngày 11/7/2020, kết thúc năm học trước ngày 15/7/2020. Riêng khối 12 của cấp THPT và Giáo dục thường xuyên phải hoàn thành chương trình giảng dạy năm học trước 30/6/2020. Đối với công tác tuyển sinh các lớp đầu cấp học (lớp 1, lớp 6 và lớp 10) cho năm học 2020-2021 phải hoàn thành trước ngày 15/8/2020.
b. Tình hình y tế, dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm
* Dịch viêm phổi cấp Covid-19: Tính đến tháng 5/2020, tình hình dịch Covid -19 của cả nước đã cơ bản khống chế. Từ ngày 22/5/2020 đến nay, toàn quốc đã trải qua 36 ngày không có ca lây nhiễm mới trong cộng đồng. Các hoạt động sản xuất, kinh doanh đã bắt đầu trở lại hoạt động bình thường nhưng phải đảm bảo nguyên tắc về giãn cách, đeo khẩu trang, sát khuẩn, hạn chế tiếp xúc, tập trung đông người, thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19.
* Các loại bệnh khác: Tháng 4/2020 toàn tỉnh có 55 ca mắc sốt xuất huyết, tăng 23 ca so với cùng kỳ năm trước; không có ca mắc viêm gan siêu trùng, giảm 1 ca; có 1 ca mắc bệnh Tay-Chân-Miệng, giảm 3 ca. Không có trường hợp tử vong. Không có ca mắc sốt rét, liên cầu lợn, thương hàn và viêm não vi rút, bằng cùng kỳ năm trước. 
Tính chung từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh có 558 ca mắc sốt xuất huyết, tăng 387 ca; 30 ca mắc viêm gan siêu trùng, tăng 18 ca; 4 ca mắc bệnh Tay-Chân-Miệng, giảm 14 ca; không ca mắc sốt rét, giảm 1 ca. Không có trường hợp tử vong. Không có ca mắc thương hàn, viêm não vi rút và liên cầu lợn, bằng cùng kỳ năm trước.
Tháng 4/2020, qua kiểm tra đã phát hiện 12 ca nhiễm HIV, tăng 3 ca so cùng kỳ năm trước; không có ca chuyển qua AIDS, giảm 1 ca so cùng kỳ; có 1 ca tử vong do AIDS, bằng so với cùng kỳ. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 44 ca nhiễm mới HIV, tăng 2 ca so với cùng kỳ năm trước; không có trường hợp chuyển qua AIDS, giảm 1 ca; có 2 ca tử vong, không tăng không giảm so cùng kỳ. Hiện tại, trên địa bàn tỉnh có 416 bệnh nhân HIV đang được quản lý và điều trị tại các cơ sở y tế, trong đó có 405 bệnh nhân điều trị ARV.
Tình hình ngộ độc thực phẩm: Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh không xảy ra trường hợp ngộ độc. 
c. Hoạt động văn hóa, thể thao
Kỷ niệm 130 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2020), sáng ngày 18/5/2020, Sở Văn hóa và Thể thao phối hợp với Bảo tàng Hồ Chí Minh Trung ương tổ chức triển lãm chuyên đề “Hồ Chí Minh - Những nét phác họa chân dung” với hơn 200 tư liệu và hiện vật. Ngày 19/5/2020, Trung tâm Văn hóa - Điện ảnh tỉnh đã khai mạc Tuần phim chào mừng kỷ niệm 130 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh. 
Ngày 22/5/2020, tại thành phố Huế đã diễn ra buổi Lễ trao giải chặng 3 (Đồng Hới - thành phố Huế) và khai mạc chặng 4 (cầu Trường Tiền - Phú Xuân) trong khuôn khổ Giải đua xe đạp Cúp truyền hình TP.Hồ Chí Minh lần thứ 32 - 2020. 
d. Tai nạn giao thông( )
Từ 15/4/2020 đến 14/5/2020, trên địa bàn tỉnh xảy ra 30 vụ tai nạn và va chạm giao thông đường bộ, tăng 6 vụ so với cùng kỳ năm trước; làm chết 17 người, tăng 6 người; bị thương 13 người, giảm 20 người. Tai nạn đường sắt và tai nạn đường thủy không xảy ra, không tăng giảm so với cùng kỳ.
Tính từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 103 vụ tai nạn và va chạm giao thông, giảm 26 vụ so với cùng kỳ năm trước; làm chết 51 người, giảm 30 người; bị thương 71 người, giảm 41 người. Trong đó, tai nạn đường bộ xảy ra 102 vụ, giảm 20 vụ so với cùng kỳ; làm chết 50 người, giảm 27 người; bị thương 71 người, giảm 39 người. Tai nạn đường sắt xảy ra 1 vụ, giảm 6 vụ; làm chết 1 người, giảm 3 người; không có người bị thương, giảm 2 người. Tai nạn đường thủy không xảy ra, không tăng giảm so cùng kỳ.
e. Tình hình cháy nổ và bảo vệ môi trường
Từ 16/4/2020 đến ngày 15/5/2020, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 6 vụ cháy, giảm 1 vụ so với cùng kỳ năm trước, làm 2 người chết, giá trị thiệt hại 200 triệu đồng. Trong đó, có 1 vụ cháy nghiêm trọng xảy ra tại điểm bán hàng tạp hóa lớn nhất phường Xuân Phú, thành phố Huế; làm nhiều hàng hóa và các vật dụng trong gia đình đều bị cháy rụi, nguyên nhân và giá trị thiệt hại hiện đang được các cơ quan chức năng điều tra làm rõ. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 26 vụ cháy, tăng 2 vụ so cùng kỳ năm trước; làm chết 5 người; tổng giá trị thiệt hại 631 tỷ đồng. Nguyên nhân chủ yếu là do sự cố hệ thống thiết bị điện.
Từ 16/4/2020 đến ngày 15/5/2020, qua kiểm tra các ngành chức năng đã phát hiện 15 vụ vi phạm môi trường, bằng so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khai thác cát và khoáng sản trái phép 5 vụ, đổ chất thải gây ô nhiễm 2 vụ, chặt phá rừng 6 vụ, phát tờ rơi quảng cáo 2 vụ. Đã tiến hành xử lý 9 vụ với tổng số tiền xử phạt 41,3 triệu đồng. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 61 vụ vi phạm môi trường, tăng 10 vụ so cùng kỳ năm trước, đã tiến hành xử lý 42 vụ với tổng số tiền phạt 224,5 triệu đồng. Các hành vi vi phạm chủ yếu: Khai thác cát, khoáng sản trái phép, chặt phá rừng, phát tờ rơi quảng cáo không đúng quy định và vi phạm đảm bảo an toàn thực phẩm./.


Gửi bởi    

HỆ THỐNG TÊN MIỀN MẠNG GSO
MÁY CHỦ TÊN MIỀN .GSO:
Chính:       10.0.1.1
Dự phòng: 10.0.1.2
  • Góc người dùng
Tên đăng nhập:
Mật khẩu:



Bạn đang dùng -

IP:3.92.74.105

Thống kê

Lượt truy cập  12969
Đang trực tuyến   12