MyLabel

Tình Hình Kinh Tế Xã Hội 6 Tháng Đầu Năm 2020

6/29/2020
                                                                  TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI
                                                                    6 THÁNG ĐẦU NĂM 2020

Năm 2020, năm kết thúc thời kỳ kế hoạch kinh tế xã hội 5 năm 2016 - 2020. Năm tiến hành Đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII. Kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh 6 tháng đầu năm 2020 diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước chịu tác động nặng nề của đại dịch Covid-19. Trong tỉnh mặc dù không có trường hợp mắc dịch bệnh trong cộng đồng nhưng dịch đã ảnh hưởng đến hầu hết các ngành, lĩnh vực, nhất là tác động trực tiếp đến hoạt động du lịch, vận tải, xuất nhập khẩu, dịch vụ cá nhân, cộng đồng và vui chơi giải trí,... Tính đến nay đã hơn 2 tháng Việt Nam không có dịch bệnh, nhưng nhiều quốc gia, đặc biệt là Mỹ và Khối EU, đối tác kinh tế lớn của nước ta, vẫn chưa khống chế được dịch và việc tái khởi động nền kinh tế còn rất chậm; các nước dịch bệnh cơ bản được khống chế, kinh tế cũng chưa lấy lại được đà tăng trưởng và nguy cơ tái dịch còn cao, nhất là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc đối tác lớn xuất nhập khẩu nguyên phụ liệu và hàng hoá của ta.
Kế thừa những thành quả kinh tế xã hội đạt được của năm 2019, với quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị, chúng ta đã cơ bản đẩy lùi đại dịch Covid-19, được thế giới tin tưởng và đánh giá cao, đồng thời hạn chế tối đa thiệt hại do dịch bệnh gây ra, kinh tế đang trên đà phục hồi, chính trị ổn định, an sinh xã hội và đời sống các tầng lớp dân cư đảm bảo.
Thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2020; Nghị quyết số 12-NQ/TU của Tỉnh ủy, Nghị quyết số 22/2019/NQ-HĐND của HĐND tỉnh; Quyết định số 01/QĐ-UBND của UBND tỉnh về phát triển KT-XH năm 2020. Đặc biệt, tập trung quyết liệt triển khai thực hiện Nghị quyết 54-NQ/TW của Bộ Chính trị. Theo đó UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 60/KH-UBND, ngày 28/02/2020 về triển khai Chương trình hành động số 69-CTr/TU, ngày 03/02/2020 của Tỉnh ủy về xây dựng và phát triển Thừa Thiên Huế đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Kết quả một số chỉ tiêu kinh tế xã hội chủ yếu năm 2020 đạt được theo Nghị quyết của HĐND tỉnh trong 6 tháng đầu năm như sau:

Chỉ tiêu Thực hiện Ước thực hiện Chỉ tiêu
                                                      6 tháng đầu năm 2019         6 tháng đầu năm 2020         Nghị quyết năm 2020
1. Tốc độ tăng Tổng sản phẩm GRDP (%)               6,87 0,38 7,5-8,0
Tr.đó: - Nông lâm nghiệp thủy sản                            2,19 0,84 3,16
    - Công nghiệp-Xây dựng              9,29 3,61 10,16
    - Dịch vụ 6,37 -2,26                                      7,15
    - Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm 7,73 4,13 4,72 
2. Giá trị xuất khẩu (Triệu USD) 573 293 1.100
3. Tổng vốn đầu tư phát triển  (Tỷ đồng) 9.888 10.870 22.700
4. Tổng thu ngân sách nhà nước (Tỷ đồng)    3.822,5 3.826,2 8.565
1. Tăng trưởng kinh tế
Tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) 6 tháng đầu năm 2020 ước tăng 0,38%  so cùng kỳ năm trước, đây là mức tăng thấp nhất chưa từng xảy ra trong nhiều thập kỷ qua, thấp hơn nhiều mức tăng 6,87% của 6 tháng đầu năm 2019. Trong đó, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 3,61% (6 tháng đầu năm 2019 tăng 9,29%), đóng góp 1,07 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung, riêng công nghiệp tăng 3,44% (6 tháng đầu năm 2019 tăng 9,68%); khu vực dịch vụ giảm 2,26% (6 tháng đầu năm 2019 tăng 6,37%), đóng góp âm 1,12 điểm phần trăm; khu vực nông, lâm, thủy sản tăng 0,84% (6 tháng đầu năm 2019 tăng 2,19%), đóng góp 0,11 điểm phần trăm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 4,13% (6 tháng đầu năm 2019 tăng 7,73%), đóng góp 0,33 điểm phần trăm.
Nguyên nhân chủ yếu làm tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu năm nay năm sụt giảm nghiêm trọng là do tác động của đại dịch Covid-19 bắt đầu bùng phát từ cuối tháng 2/2020 đã ảnh hưởng lớn đến khu vực dịch vụ, công nghiệp. Ngoài ra trong sản xuất nông nghiệp, ngành trồng trọt và chăn nuôi bị thiệt hại đáng kể do tình hình thời tiết và hậu quả dịch tả lợn Châu Phi; sản xuất thủy điện giảm do tình trạng nắng nóng kéo dài. 
Đối với các khu vực kinh tế, khu vực công nghiệp tăng trưởng chậm do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong 6 tháng đầu năm đạt mức tăng thấp 6,0%, thấp hơn nhiều mức tăng 9,29% của 6 tháng đầu năm 2019. Trong bối cảnh đại dịch Covid-19, sản xuất công nghiệp trong 6 tháng đầu năm đạt được mức tăng trưởng trên là nhờ một số ngành chủ lực của tỉnh như chế biến tôm xuất khẩu, sản xuất dăm gỗ, sản xuất vỏ lon nhôm, sản xuất bao bì, sản xuất tân dược có mức tăng trưởng khá. Bên cạnh đó, nhờ năng lực bổ sung thêm từ các nhà máy mới đưa vào hoạt động từ giữa năm 2019 và đầu năm nay. Khu vực nông, lâm, thủy sản có mức tăng trưởng thấp chủ yếu do sản lượng lúa đông xuân bị ảnh hưởng bởi 2 đợt mưa và lốc nên giảm 10.183 tấn, giảm 5,6% so vụ đông xuân năm trước; chăn nuôi lợn chậm phục hồi, sản lượng thịt lợn hơi giảm 40,6% so cùng kỳ. Tuy nhiên thủy sản tăng trưởng khá đạt mức 6,63%; kinh tế rừng trồng tiếp tục duy trì ổn định, tăng trưởng ngành lâm nghiệp đạt 4,03%. Khu vực dịch vụ, hoạt động sản xuất kinh doanh trong 6 tháng đầu năm nay chịu tác động nặng nề của đại dịch Covid-19 đã làm một số ngành tăng trưởng âm ở mức sâu: Ngành bán buôn và bán lẻ giảm 0,5% so cùng kỳ năm trước; vận tải kho bãi giảm 10,14%; dịch vụ lưu trú và ăn uống giảm 33,19%; nghệ thuật, vui chơi và giải trí giảm 10,36%; hoạt động dịch vụ khác giảm 7,94%.
Về cơ cấu kinh tế 6 tháng đầu năm 2020, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 12,54%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 30,56%; khu vực dịch vụ chiếm 48,75%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 8,15%. Cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2019 là: 12,33%; 29,98%; 49,84% và 7,86%.
2. Tài chính, ngân hàng
Tài chính : Ngay từ đầu năm, đặc biệt khi xảy ra dịch bệnh Covid-19, tỉnh đã quyết liệt, thắt chặt quản lý các biện pháp thu, tiết kiệm trong chi thường xuyên. Nhờ đó, thu ngân sách nhà nước 6 tháng đầu năm 2020 ước đạt 3.826,2 tỷ đồng, bằng 50,3% dự toán. Trong đó: Thu nội địa đạt 3.618,7 tỷ đồng, bằng 51,07% DT; thu thuế từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 200 tỷ đồng, bằng 40,65% DT. Trong thu nội địa: Thu từ khu vực đầu tư nước ngoài đạt 1.005 tỷ đồng, bằng 43,7% DT; thu từ khu vực ngoài quốc doanh đạt 477 tỷ đồng, bằng 39,42% DT; thu từ doanh nghiệp nhà nước do địa phương quản lý đạt 103 tỷ đồng, bằng 44,78% DT; doanh nghiệp nhà nước do Trung ương quản lý đạt 76 tỷ đồng, bằng 35,35% DT; thuế thu nhập cá nhân 195 tỷ đồng, đạt 50,65% dự toán và giảm 3,47%; thuế bảo vệ môi trường 338,0 tỷ đồng, bằng 46,3% dự toán
Chi ngân sách 6 tháng đầu năm 2020 ước đạt 4.711,9 tỷ đồng, bằng 39,36% dự toán, trong đó chi đầu tư phát triển 1.127,1 tỷ đồng, bằng 26,47% dự toán; chi sự nghiệp kinh tế 253,8 tỷ đồng, bằng 34,81% dự toán; chi sự nghiệp giáo dục đào tạo 1.353,2 tỷ đồng, bằng 45,66% dự toán; chi sự nghiệp y tế 357,9 tỷ đồng, bằng 54,17% dự toán; chi quản lý Nhà nước 720,4 tỷ đồng, bằng 53,71% dự toán.
Tỉnh đã hỗ trợ chi trả phòng, chống dịch Covid-19 với số tiền 217,15 tỷ đồng, trong đó chi trả 44,15 tỷ đồng theo Nghị quyết số 37/NQ-CP của Chính phủ về một số chế độ đặc thù trong phòng, chống dịch Covid-19 và tạm ứng ngân sách tỉnh 173 tỷ đồng để chi trả cho các đối tượng Người có công, người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội theo Nghị quyết số 42/NQ-CP của Chính phủ.
Ngân hàng( ): Thực hiện các văn bản chỉ đạo về phòng, chống và thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn đối với khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19 của NHNN Việt Nam, gồm: Thông tư 01/2020/TT-NHNN của NHNN Việt Nam Quy định về việc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng chịu ảnh hưởng do dịch Covid – 19; và các văn bản chỉ đạo của NHNN Việt Nam thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn đối với khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19 đến các TCTD trên địa bàn. Triển khai Công điện số 02/CĐ-NHNN ngày 11/03/2020, Công điện số 03/CĐ-NHNN ngày 31/3/2020 và Công điện số 04/CĐ-NHNN ngày 16/4/2020 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Công văn số 2593/UBND-YT ngày 31/3/2020, Công văn 3123/UBND-YT ngày 15/4/2020 và Công văn 3482/UBND-GD ngày 27/4/2020 của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế. Đồng thời, Chi nhánh cũng đã xây dựng, bổ sung phương án phòng chống dịch theo các văn bản chỉ đạo và diễn biến dịch bệnh. 100% TCTD trên địa bàn đều có phương án/kịch bản tổ chức giao dịch nhằm phòng, chống dịch Covid-19. Triển khai thực hiện các giải pháp cấp bách của ngành ngân hàng nhằm tăng cường phòng, chống và khắc phục khó khăn do tác động của dịch bệnh Covid-19 theo Chỉ thị 02/CT-NHNN ngày 31/3/2020 của NHNN Việt Nam. Chỉ đạo các ngân hàng thương mại trên địa bàn về việc tăng cường hoạt động tín dụng ngân hàng nhằm khắc phục khó khăn do ảnh hưởng của dịch Covid-19 theo Thông báo số 130/TB-TTH ngày 24/4/2020 của Thống đốc NHNN Việt Nam.
Tổng nguồn vốn huy động đến cuối tháng 06/2020 ước đạt 49,9 nghìn tỷ đồng, tăng 3,3% so với đầu năm; tổng dư nợ tín dụng ước đạt 51,1 nghìn tỷ đồng, tăng 1,1%.
Đến cuối tháng 6 năm 2020 cho vay một số lĩnh vực ưu tiên theo chính sách của Chính phủ: Cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn giảm 0,6% so với đầu năm; cho vay hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa giảm 4,2%; cho vay phát triển sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu tăng 9,9%; cho vay ngành công nghiệp hỗ trợ tăng 0,1%.
Về lãi suất, các tổ chức tín dụng trên địa bàn duy trì mức lãi suất huy động và cho vay ổn định, cụ thể:
Lãi suất huy động bằng VND phổ biến ở mức 0,2%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn hoặc có kỳ hạn dưới 1 tháng, kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng ở mức 3,75-4,25%/năm, kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng từ 4,5-5,0%/năm, kỳ hạn từ 12 tháng trở lên ở mức 5,0-6,0%/năm. Lãi suất cho vay bằng VND đối với các lĩnh vực ưu tiên ở mức 5,0%/năm đối với ngắn hạn, Lãi suất cho vay các lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường ở mức 5,5-8,0%/năm đối với ngắn hạn; 7,5-9,0%/năm đối với trung và dài hạn.
Lãi suất huy động USD phổ biến bằng mức trần do NHNN quy định là 0,0%/năm đối với tiền gửi của tổ chức và cá nhân. Lãi suất cho vay USD ở mức 2,8-5%/năm.
3. Vốn đầu tư
Tổng vốn đầu tư thực hiện theo giá hiện hành trên địa bàn trong sáu tháng đầu năm 2020 ước đạt 10.870 tỷ đồng, bằng 40,26% KH năm, tăng 9,93% so với cùng kỳ năm trước; trong đó vốn do Trung ương quản lý đạt 2.917 tỷ đồng, bằng 43,70% KH, tăng 3,0%, chiếm 26,84% tổng vốn; vốn do Địa phương quản lý 7.953 tỷ đồng, bằng 39,19% KH, tăng 12,71%, chiếm 73,16%.
Vốn thuộc ngân sách Nhà nước sáu tháng đầu năm 2020 đạt 2.567 tỷ đồng, bằng 44,64% KH, tăng 38,61% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 23,62% tổng vốn, gồm có: Vốn ngân sách Trung ương quản lý 669 tỷ đồng, bằng 65,59% KH, tăng 57,41%; vốn ngân sách Địa phương quản lý 1.898 tỷ đồng, bằng 40,12%, tăng 33,01%. Nguồn vốn tín dụng đạt 4.585 tỷ đồng, bằng 41,63% KH, tăng 1,46% so cùng kỳ, chiếm 42,18% tổng vốn; vốn đầu tư của doanh nghiệp 1.500 tỷ đồng, bằng 43,86% KH, tăng 5,56%, chiếm 13,80%; vốn viện trợ 708 tỷ đồng, bằng 42,50% KH, tăng 66,12%, chiếm 6,51%; vốn đầu tư nước ngoài 300 tỷ đồng, bằng 12,0% KH, giảm 45,45%, chiếm 2,76%.
Nguồn vốn đầu tư trong 6 tháng đầu năm chủ yếu tập vào các dự án chuyển tiếp: Sửa chữa nâng cấp hệ thống tưới phục vụ sản xuất thuộc Khu tái định cư thủy điện A Lưới; Cống An Xuân và kè gia cố hai bờ hói An Xuân, xã Quảng An; Kè chống sạt lở bờ sông Nong, huyện Phú Lộc; Sửa chữa, nâng cấp hồ Thọ Sơn, xã Hương Xuân; Kè chống sạt lở bờ sông Tả Trạch; Nạo vét và xây dựng Kè hói Đốc Sơ-An Hòa;… Vốn đầu tư NSNN do trung ương quản lý tiếp tục tập trung đầu tư vào những dự án trọng điểm quốc gia: Dự án cao tốc Cam Lộ - La Sơn; Dự án đầu tư xây trung tâm Sản phụ khoa bệnh viện TW Huế; Khu kinh tế quốc phòng A So, A Lưới; Trung tâm phục hồi chức năng đoàn 41 Huế; Đồn Biên phòng cửa khẩu Hồng Vân; xây dựng giảng đường và tăng cường năng lực xanh trường Cao đẳng Công nghiệp;…
Nguồn vốn doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh tiếp tục đầu tư vào các dự án gấp rút hoàn thiện để đưa vào sử dụng: Dự án phức hợp Manor Crown; Khu nghỉ dưỡng nước khoáng nóng Mỹ An. Các dự án trọng điểm quốc gia BT và BOT tiếp tục được hoàn thiện như:  Hầm Hải Vân giai đoạn II; Dự án đường cao tốc La Sơn- Túy Loan. Ngoài ra một số dự án chuyển tiếp được thực hiện nhanh các công đoạn cuối để đưa vào hoạt động: Các nhà máy thủy điện A Lin B2, Rào Trăng 3 ; Dự án Movenpic Resort Lăng Cô. Nguồn vốn đầu tư nước ngoài  chủ yếu thực hiện các dự án chuyển tiếp: Dự án Laguna giai đoạn 2; Dự án khu nghỉ dưỡng của Công ty Minh Viễn; Dự án Nhà máy dệt Sunjin AT&C Vina; Dự án Nhà máy chế xuất Billion Max Việt Nam ; Nhà máy xử lý rác thải Phú Sơn; Nhà máy của công ty Kanglongda;…
Tính từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh có 04 dự án đầu tư nước ngoài đăng ký mới với tổng số vốn đăng ký 15,41 triệu USD. Trong đó, Vương quốc Anh 01 dự án với số vốn 0,06 triệu USD đầu tư vào lĩnh vực công nghệ thông tin; Hoa Kỳ 01 dự án với số vốn 6 triệu USD vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo; Nhật Bản 02 dự án với số vốn 9,35 triệu USD vào lĩnh vực kiến trúc 1 dự án và công nghiệp chế biến chế tạo 1 dự án.
4. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
4.1. Nông nghiệp
Sản xuất nông nghiệp tháng 6/2020 tập trung chủ yếu gieo trồng các loại cây hàng năm vụ hè thu năm 2020, tính đến 15/6/2020 tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ hè thu đạt 27.670 ha, giảm 1,2% so cùng kỳ, riêng cây lúa đạt 25.318 ha, giảm 1%. Các địa phương tăng cường các giống lúa có ưu thế về thời gian sinh trưởng ngắn như PC6, TH5,... được tập trung bố trí gieo trên các diện tích gieo cấy muộn, vùng đất thấp trũng để thu hoạch sớm trước ngày 02/9/2020. Khuyến khích các địa phương tiếp tục mở rộng diện tích gieo cấy giống lúa chất lượng cao.
Đối với cây hàng năm chủ yếu khác vụ hè thu năm 2020 như cây ngô đạt 195 ha, bằng 96,5% so cùng kỳ năm trước; khoai lang 180 ha, bằng 102,3%; cây sắn 92 ha, bằng 104,5%; cây chất bột khác 62 ha, bằng 96,4%; cây lạc 172 ha, bằng 101,8%; rau các loại 982 ha, bằng 101,6%; đậu các loại 509 ha, bằng 98,5%; cây ớt cay 43 ha, bằng 96,6%.
Tình hình dịch bệnh khảm lá sắn: Ngày 25/02/2020 UBND tỉnh ban hành Quyết định số 528/QĐ-UBND công bố dịch bệnh khảm lá sắn trên địa bàn các huyện Phong Điền, huyện Quảng Điền, thị xã Hương Trà. Tính đến ngày 10/3/2020 có 1.492 ha nhiễm bệnh khảm lá sắn, trong đó 736 ha bị mất trắng. Nguyên nhân được xác định là do người dân sử dụng nguồn giống sắn bị nhiễm bệnh hoặc ủ bệnh từ vụ trước. Ngành chức năng phối hợp các địa phương đã tiêu huỷ sắn nhiễm bệnh. 
Tình hình lúa bị ngập úng, đỗ ngã: Do ảnh hưởng của không khí lạnh tăng cường gây mưa lớn trên diện rộng vào ngày 12/4/2020 và sau đó từ ngày 24 đến 26/4/2020, trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế lại tiếp tục có mưa vừa, có nơi mưa to làm cho diện tích lúa của các địa phương bị ngập úng và đỗ ngã ước tính khoảng hơn 16.500 ha. Ngành chức năng phối hợp với chính quyền địa phương khẩn trương huy động lực lượng, phương tiện hỗ trợ người dân thoát nước, tiêu úng để cứu lúa, hạn chế tối thiểu thiệt hại lúa đông xuân do mưa lớn gây ra.  
Kết thúc gieo cấy lúa vụ đông xuân 2020 toàn tỉnh đạt 28.692 ha, giảm 0,8% so với vụ đông xuân năm trước. Nguyên nhân giảm chủ yếu do chuyển đổi diện tích đất lúa sang quy hoạch đất xây dựng nhà ở của một số địa phương khoảng 88 ha, chuyển sang trồng cây hàng năm khác 86 ha, do thiếu nước không thể canh tác 52 ha, chuyển sang trồng cây lâu năm 15,4 ha, nuôi trồng thuỷ sản 5,7 ha. 
Cơ cấu giống lúa đông xuân 2020, diện tích nhóm giống lúa trung và dài ngày chiếm khoảng 7,2%; nhóm ngắn ngày và cực ngắn chiếm 92,8%, trong đó khang dân chỉ chiếm 38,8%. Lúa chất lượng cao được các địa phương chú trọng mở rộng diện tích đưa vào gieo cấy đạt 10.972 ha, chiếm 38,2% diện tích. Tỷ lệ sử dụng giống lúa xác nhận đạt khoảng 93,4% diện tích. 
Tình hình sâu bệnh trên cây lúa vụ đông xuân 2020 tuy có diễn ra nhưng trong phạm vi hẹp, mức độ gây hại thấp. 
Tính đến 15/5/2020 cơ bản đã kết thúc thu hoạch lúa đông xuân, năm nay do ảnh hưởng của 2 đợt mưa lớn nên năng suất lúa của nhiều địa phương trong tỉnh giảm so với vụ đông xuân năm trước. Kết quả thăm đồng ước tính, năng suất lúa đông xuân 2020 toàn tỉnh  đạt 59,5 tạ/ha, giảm 3 tạ/ha, giảm 4,8%; sản lượng ước đạt 170.643 tấn, giảm 10.183 tấn, giảm 5,6% so vụ đông xuân năm trước. 
Đối với cây hàng năm khác, do lượng mưa năm nay thấp hơn nhiều so với trung bình nhiều năm, làm một số diện tích sản xuất nông nghiệp thiếu nước, khâu làm đất và gieo trồng cây hàng năm gặp khó khăn, nên diện tích gieo trồng cây hàng năm chủ yếu khác của vụ đông xuân 2020 giảm như: ngô đạt 965 ha, giảm 7,5% so cùng kỳ năm trước; khoai lang 1.223 ha, giảm 14,1%; sắn 1.214 ha, giảm 18,7%, diện tích sắn giảm chủ yếu do dịch bệnh khảm lá sắn; cây lạc 2.763 ha, giảm 5,2%; rau các loại 3.127 ha, giảm 0,7%; đậu các loại 650 ha, giảm 3,2%; ớt cay 296 ha, giảm 2%.
Ước tính năng suất sản lượng một số cây hàng năm chủ yếu khác của vụ đông xuân 2020: Cây ngô năng suất đạt 41,3 tạ/ha, tăng 0,2 tạ/ha so cùng kỳ năm trước, sản lượng đạt 3.982 tấn, giảm 7,1%; khoai lang 55,2 tạ/ha, tăng 1,9 tạ/ha, sản lượng 6.748 tấn, giảm 11%, nguyên nhân chủ yếu sản lượng ngô, khoai giảm là do giảm diện tích; cây lạc 24,9 tạ/ha, tăng 7,9 tạ/ha, sản lượng 6.876 tấn, tăng 38,9% ; cây rau các loại 100,8 tạ/ha, tăng 3,9 tạ/ha, sản lượng  31.511 tấn, tăng 3,3%; Cây ớt cay 86 tạ/ha, tăng 3,6 tạ/ha.
Tổng diện tích hiện có cây lâu năm 11.551 ha, tăng 0,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong 6 tháng đầu năm 2020 thời tiết tương đối thuận lợi cho quá trình sinh trưởng và phát triển các loại cây lâu năm chủ yếu, một số loại sâu bệnh gây hại đã được ngành chức năng hướng dẫn người dân biện pháp khắc phục và phòng trừ hiệu quả nên ít ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng thu hoạch.
Diện tích hiện có của một số cây lâu năm ăn quả chủ yếu trên địa bàn như cây chuối đạt 838 ha, giảm 8,9% so cùng kỳ năm trước; cây bưởi bòng thanh trà 1.122 ha, chiếm 9,7% tổng diện tích cây lâu năm toàn tỉnh, tăng 0,3%, diện tích cây bưởi thanh trà tăng nhờ hiệu quả kinh tế đạt khá. Các ngành chức năng của tỉnh với nhiều hình thức giới thiệu thanh trà Huế với khách hàng nhằm xây dựng thương hiệu và quảng bá cho sản phẩm, đây là sản phẩm chủ lực về cây lâu năm của tỉnh.
Cây cao su là cây lâu năm chiếm tỷ trọng cao nhất với diện tích hiện có 7.805 ha, chiếm 67,6% tổng diện tích cây lâu năm toàn tỉnh, giảm 9 ha so với cùng kỳ năm 2019 do người dân ở một số địa phương chặt bỏ số diện tích già cỗi, hết chu kỳ khai thác chuyển sang trồng rừng và trồng các loại cây lâu năm khác. Bên cạnh đó do giá mủ cao su đang ở mức thấp nên nhiều địa phương hạn chế trồng mới. Sản lượng mủ cao su ước 6 tháng đầu năm 2020 đạt 2.800 tấn, tăng 3,1% so với cùng kỳ năm trước. Ước tính sản lượng thu hoạch một số cây lâu năm chủ yếu 6 tháng đầu năm 2020: Sản lượng chuối ước đạt 8.080 tấn, tăng 0,4%; bưởi, thanh trà 1.906 tấn, tăng 4,7%; dứa 1.180 tấn, tăng 16,5%; tiêu 130 tấn, giảm 3,7%. 
Chăn nuôi: Đến thời điểm 15/6/2020 không xảy ra dịch bệnh ở đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh, tuy nhiên từ đầu năm 2020 đến nay, các loại dịch bệnh động vật đã xảy ra ở nhiều tỉnh, thành trong cả nước và có chiều hướng diễn biến phức tạp, Ủy ban nhân tỉnh đã ban hành Chỉ thị số 08/CT-UBND ngày 27/3/2020 về việc tập trung triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp phòng, chống dịch bệnh gia súc, gia cầm. Hiện nay công tác phòng chống dịch bệnh, kiểm dịch, kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y động vật và sản phẩm động vật trên địa bàn được tăng cường nhằm đảm bảo an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng và góp phần ngăn chặn dịch bệnh.
Đàn gia cầm: Trong 2 tháng đầu năm 2020 chăn nuôi gia cầm có nhiều thuận lợi, dịch bệnh không xảy ra, công tác tiêm phòng thú y, vệ sinh môi trường được chú trọng. Tuy nhiên từ cuối tháng 3/2020 do thực hiện các biện pháp chống dịch bệnh Covid-19 nên nhu cầu tiêu thụ gia cầm giảm mạnh, bên cạnh đó do tạm ngừng cung ứng đến các đầu mối tại thị trường trong nước nên khâu tiêu thụ gặp nhiều khó khăn làm cho người chăn nuôi gia cầm thận trọng tái đàn vì lo sợ rủi ro. Tổng đàn gia cầm hiện có 3.700,2 nghìn con, tăng 1,3% so cùng kỳ năm trước, trong đó đàn gà 2.905,1 nghìn con, tăng 1,6%; đàn vịt, ngan, ngỗng 795,1 nghìn con, tăng 0,4%. 
Đàn trâu, bò: Tổng đàn trâu toàn tỉnh hiện có 16.412 con, giảm 2,1% so cùng kỳ năm trước; đàn bò 29.920 con, giảm 1,8%. Nguyên nhân đàn trâu, bò giảm là do hiện nay ở khu vực nông thôn nhiều ngành nghề có thu nhập khá đã thu hút lao động nông thôn tham gia nên người chăn nuôi trâu bò ngày càng giảm, bên cạnh đó đồng cỏ chăn nuôi trâu bò ngày càng thu hẹp.
Đàn lợn: Dịch tả lợn Châu Phi trên địa bàn tỉnh tiếp tục được kiểm soát, tuy nhiên tình hình chăn nuôi nuôi lợn vẫn còn gặp nhiều khó khăn do số lượng đàn lợn nái giảm mạnh sau đợt dịch nên nguồn lợn giống khan hiếm và có giá bán cao làm cho việc tái đàn chậm. Hiện nay ngành chức năng phối hợp chính quyền địa phương tăng cường chỉ đạo phục hồi đàn lợn, tập trung các đơn vị chăn nuôi lợn quy mô lớn đẩy mạnh tái đàn, trong đó chú trọng thực hiện các giải pháp an toàn sinh học, chất lượng và nguồn gốc con giống đảm bảo nhằm hạn chế nguy cơ dịch tái phát. Tổng đàn lợn hiện có 110.250 con, so cùng kỳ năm trước giảm 29,5%, so với đầu năm vào thời điểm 01/01/2020, tăng 24,4%.
Các địa phương trong tỉnh đang tiến hành tiêm phòng vụ Xuân, tính đến 15/6/2020 đã tiêm 22.960 liều vắc xin tụ huyết trùng trâu bò đạt 62% kế hoạch; 72.174 liều vắc xin tam liên lợn đạt 76% kế hoạch; 4.680 liều vắc xin VX + KT E.coli đạt 55% kế hoạch; 505.500 liều vắc xin cúm gia cầm, đạt 87% kế hoạch; 456.300 liều vắc xin dịch tả vịt, đạt 81% kế hoạch; 89.785 liều vắc xin Newcastle đạt 89% kế hoạch; 7.050 liều vắc xin tụ huyết trùng gia cầm đạt 61% kế hoạch; 50.200 liều vắc xin đậu gà, đạt 88% kế hoạch; 137.650 liều vắc xin VX+KT Gumboro đạt 82% kế hoạch; 125.020 liều vắc xin Lasota+New, đạt 77% kế hoạch. 
Sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng 6 tháng đầu năm 2020 ước đạt 495 tấn, giảm 2,5% so cùng kỳ năm trước; thịt bò hơi xuất chuồng 732 tấn, giảm 2,5%; thịt lợn hơi xuất chuồng 4.668 tấn, giảm 40,6%; thịt gà hơi xuất chuồng 4.807 tấn, tăng 0,2%;  thịt vịt, ngan, ngỗng 1.192 tấn, giảm 0,3%. 


4.2. Lâm nghiệp
Ước tính diện tích trồng rừng tập trung 6 tháng đầu năm 2020 đạt 3.071,2 ha, tăng 8,2%  so cùng kỳ năm trước, trong đó toàn bộ là rừng sản xuất. Nguyên nhân tăng khá do người dân tập trung trồng mới trên diện tích rừng đã khai thác năm trước, trồng rừng mang lại hiệu quả kinh tế cao, bên cạnh đó thời tiết thuận lợi và nguồn giống cây lâm nghiệp đầy đủ góp phần làm tăng diện tích trồng rừng. 
Sáu tháng đầu năm 2020 diện tích rừng trồng được chăm sóc ước đạt 9.046 ha, tăng 4,8% so cùng kỳ năm trước; diện tích rừng được giao khoán bảo vệ 86.438 ha, tăng 2,1%, nguyên nhân tăng do các địa phương tiếp tục thực hiện chương trình về giao rừng cho người dân bảo vệ đạt tỷ lệ khá. Số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 9.805 nghìn cây, tăng 3,9% so cùng kỳ. 
Sản lượng gỗ khai thác 6 tháng đầu năm 2020 ước đạt 318.850 m3 gỗ,  tăng 1,8% so cùng kỳ năm trước, trong đó toàn bộ là khai thác gỗ rừng trồng; sản lượng củi khai thác 65.611 ste, giảm 25,8%. 
Ước tính sản lượng một số sản phẩm lâm sản khác 6 tháng đầu năm 2020: Nhựa thông đạt 432 tấn, tăng 0,5% so cùng kỳ năm trước; măng tươi 346 tấn, tăng 2,4%; tre/lồ ô đạt 340 nghìn cây, giảm 0,6%; song mây 502 tấn, tăng 0,8%; rau rừng các loại 295 tấn, giảm 0,3%; mộc nhĩ 1,4 tấn, bằng cùng kỳ. 
4.3 Thủy sản
Tổng diện tích nuôi trồng thủy sản 6 tháng đầu năm 2020 ước đạt 2.721 ha, tăng 4,9% so cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích nuôi nước lợ 1.545,5 ha, tăng 5%; nuôi nước ngọt ước đạt 1.175,5 ha, tăng 4,9%. Trong nuôi nước lợ, nuôi cá 459 ha, tăng 4,6%; nuôi tôm 722 ha, tăng 7%, riêng nuôi tôm sú 348 ha, tăng 2,1%, tôm thẻ chân trắng 328 ha, tăng 12,7%, tôm khác 46 ha, tăng 7,0%,  ha; nuôi các loại thủy sản khác 360 ha, tăng 1,7%; ươm, nuôi giống thủy sản 4,5 ha, tăng 12,5%.
Hiện nay nuôi lồng bè ở các địa phương phát triển nhờ hiệu quả kinh tế mang lại khá, do tận dụng mặt nước vùng đầm phá, sông ngòi, hồ thủy điện và một phần nguồn thức ăn tự chế của người nuôi. Số hộ nuôi lồng, bè đạt 3.605 hộ, tăng 3,2% so cùng kỳ năm trước; số lồng, bè thả nuôi 7.277 lồng, tăng 6,3%; thể tích lồng, bè nuôi 155.415 m3, tăng 7,1%.
Sản xuất giống thủy sản, 6 tháng đầu năm 2020 sản xuất giống trên địa bàn tỉnh đạt 133 triệu con, tăng 2,9% so cùng kỳ năm trước, trong đó tôm sú giống 82,6 triệu con, tăng 2,6%; cá giống các loại 48,4 triệu con, tăng 3,6%; cua, ếch giống 2 triệu con bằng so cùng kỳ.
Sản lượng thủy sản nuôi trồng thu hoạch 6 tháng đầu năm 2020 ước đạt 7.034 tấn, tăng 8,8% so cùng kỳ năm trước, chia ra sản lượng cá 4.330 tấn, tăng 5,9%; tôm các loại 2.339 tấn, tăng 15,6%, trong đó tôm sú 203 tấn, tăng 3,6%, tôm thẻ chân trắng 2.072 tấn, tăng 17,2%; thủy sản khác 365 tấn, tăng 3,4%.  
Thời tiết 6 tháng đầu năm 2020 thuận lợi cho việc khai thác hải sản biển. Sản lượng khai thác thủy sản 6 tháng đầu năm 2020 ước đạt 21.757 tấn, tăng 3,5%, trong đó khai thác biển 19.850 tấn, tăng 3,9%; khai thác nội địa 1.907 tấn,  giảm 0,7%.
 Tính chung sản lượng thủy sản nuôi trồng và khai thác 6 tháng đầu năm 2020 ước đạt 28.791 tấn, tăng 4,75% so cùng kỳ năm trước.
5. Sản xuất công nghiệp
Sản xuất công nghiệp trên địa bàn trong 6 tháng đầu năm 2020 chịu ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 nên chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) đạt thấp. Bắt đầu từ cuối tháng 4/2020, dịch bệnh cơ bản được không chế trong cả nước, sản xuất kinh doanh từng bước phục hồi, tuy nhiên hiện nay trên thế giới dịch bệnh vẫn còn diễn biến phức tạp, các nước nới lõng phong toả một cách thận trọng, đặt biệt là các đối tác thương mại lớn của Việt Nam như  Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, đã làm ảnh hưởng đến xuất nhập khẩu hàng hóa của ta. Ngành sản xuất bia mặc dù đã mở rộng được thị trường xuất khẩu sang Úc và Malaysia, thị trường trong nước mở rộng ra đến các tỉnh Thanh Hóa và Sơn La, nhưng do tác động kép từ dịch và việc kiểm soát nghiêm ngặt nồng độ cồn khi tham gia giao thông nên ngành bia cũng gặp nhiều khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm; một số sản phẩm chủ lực khác ít chịu tác động của dịch song năng lực tăng thêm còn hạn chế nên khối lượng sản xuất đang duy trì ở mức thấp. Ngoài ra, ngành sản xuất điện tuy trong năm có bổ sung năng lực mới từ nhà máy thủy điện A Lin B1 công suất 46MW, nhưng vẫn đang gặp khó khăn do từ cuối năm 2019 đến nay lượng mưa trên địa bàn đạt thấp không đủ nước để các nhà máy chạy hết công suất thiết kế. 
Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) sáu tháng đầu năm 2020 ước tăng 3,05% so với cùng kỳ năm trước, trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng tăng 8,96%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,45%; sản xuất, phân phối điện, nước đá giảm 15%; cấp nước và thu gom rác thải tăng 3,98%. 
Trong bối cảnh đại dịch Covid-19, sản xuất công nghiệp trong sáu tháng đầu năm giữ được mức tăng trưởng trên chủ yếu là nhờ một số ngành chủ lực của tỉnh như chế biến tôm xuất khẩu, sản xuất dăm gỗ, sản xuất vỏ lon nhôm, sản xuất bao bì, sản xuất tân dược có mức tăng trưởng khá. Bên cạnh đó, nhờ năng lực bổ sung thêm từ các nhà máy mới đưa vào hoạt động từ giữa năm 2019 và đầu năm nay: Nhà máy sản xuất khoáng Cristobalite của Công ty Phenikaa; Nhà máy sợi Phú Quang; Công ty men Frit Phú Sơn; Công ty men frit Hương Giang; mở rộng Nhà máy sợi Phú An; Nhà máy sản xuất đồ chơi của công ty Billion Max. Tuy nhiên năng lực các nhà máy này còn ở qui mô nhỏ.  
Các ngành có chỉ số sản xuất sáu tháng đầu năm 2020 tăng so với cùng kỳ năm trước: Khai thác quặng kim loại ước tăng gấp hơn 5,5 lần; chế biến thủy sản tăng 5,75%; sản xuất da và các sản phẩm từ da tăng 2,96%; chế biến dăm gỗ tăng 14,25%; sản xuất tân dược tăng 14,11%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 11,86%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 6,05%; sản xuất vi tính và các thiết bị ngoại vi tăng 7,22%; sản xuất vỏ lon nhôm tăng 14,13%; cấp nước tăng 4,33%; xử lý nước thải tăng 5,52%.
Ngành may mặc bắt đầu từ cuối tháng 5/2020 đã có chuyển biến tích cực và tăng trưởng trở lại do các doanh nghiệp đã chủ động chuyển sang sản xuất khẩu trang y tế thay cho các sản phẩm truyền thống nhằm phục vụ xuất khẩu sang thị trường Châu âu và Mỹ đang rất cần sản phẩm này. Sản xuất chế biến thủy sản những tháng đầu năm 2020 có mức tăng trưởng khá do các công ty đã chủ động được nguồn nguyên liệu đầu vào và thị trường xuất khẩu tiếp tục thuận lợi, không bị tác động nhiều của đại dịch. Sản xuất tân dược có chỉ số sản xuất tăng cao nhờ doanh nghiệp có nhiều đơn hàng mới, các doanh nghiệp chủ động đẩy nhanh sản xuất kể cả trrong thời gian có dịch bệnh. Sản xuất vỏ lon nhôm ngoài sản xuất sản phẩm phục vụ bao bì cho các doanh nghiệp sản xuất đồ uống trên địa bàn, doanh nghiệp đang tiếp tục mở rộng cung cấp sản phẩm cho các doanh nghiệp lớn như Coca, Pepsi. 
Các ngành có chỉ số sản xuất sáu tháng đầu năm 2020 giảm so với cùng kỳ: Sản xuất bia giảm 1,32%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy giảm 3,91%; in ấn giảm 9,85%; đúc kim loại màu giảm 30,73%; đóng tàu và cấu kiện nổi giảm 50,8%; sản xuất ô tô giảm 17,81%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế giảm 10,82%; sản xuất và phân phối điện giảm 15,0%, trong đó, điện sản xuất giảm 23,22%. 
Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu có mức sản xuất trong sáu tháng đầu năm 2020 tăng so cùng kỳ năm trước: Quặng inmenit và tinh quặng inmenit ước đạt 8.450 tấn, tăng gấp hơn 5,5 lần; đá vôi 773 nghìn m3, tăng 3,13%; đá xây dựng khác 274 nghìn m3, tăng 3,6%; tôm đông lạnh 2,2 nghìn tấn, tăng 6,63%; túi xách 1.230 nghìn cái, tăng 29,14%; dăm gỗ 260 ngàn tấn, tăng 14,11%; phân vi sinh 6,9 nghìn tấn, tăng 4,42%; cao su tổng hợp 2.540 tấn, tăng 2,46%; thuốc kháng sinh dạng viên 30 triệu viên, tăng 9,33%; thuốc mỡ 49 tấn, tăng 21,17%; xi măng 1.090 nghìn tấn, tăng 3,19%; clanhke 1.370 nghìn tấn, tăng 1,95%; men frit 108,5 nghìn tấn, tăng 9,8%; vỏ lon nhôm 7,15 nghìn tấn, tăng 14,13%; linh kiện máy tính 116 nghìn cái, tăng 7,22%; nước máy 26,3 triệu m3, tăng 4,33%.
Các sản phẩm công nghiệp chủ yếu có mức sản xuất sáu tháng đầu năm 2020 giảm so cùng kỳ: Bia đóng lon ước đạt 63,8 triệu lít, giảm 0,49%; bia đóng chai 44,8 triệu lít, giảm 3,63%; quần áo lót 162 triệu cái, giảm 6,38%; giày dép da 60 nghìn đôi, giảm 15,03%; thùng, hộp bằng bìa cứng 4,4 triệu chiếc, giảm 4,9%; sản phẩm in 350 triệu trang, giảm 9,85%; xe ô tô 60 chiếc, giảm 17,81%; hương vòng 6,9 triệu vòng, giảm 5,75%; điện sản xuất 320 triệu kwh, giảm 23,22%.
6. Thương mại, dịch vụ và giá cả 
Trong 6 tháng đầu năm 2020, đại dịch Covid-19 đã tác động đến nhiều mặt kinh tế, đời sống, xã hội của tỉnh, trong đó một số ngành chịu tác động mạnh như du lịch, lưu trú và ăn uống, vận tải, phục vụ cá nhân, cộng đồng và vui chơi giải trí,... Mặc dù từ cuối tháng 4/2020 dịch bệnh cơ bản được khống chế trong cả nước, sản xuất kinh doanh từng bước được phục hồi, nhưng ảnh hưởng của dịch bệnh vẫn còn lâu dài và tiềm ẩn khả năng bùng phát đe dọa đến các hoạt động dễ bị rũi ro, tổn thương. Nhằm mục đích phục hồi nhanh và bền vững nền kinh tế sau dịch, nhất là đối với các hoạt động du lịch, dịch vụ, UBND tỉnh đã tiến hành  đánh giá đúng thực trạng, đề ra các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện các chương trình kích cầu, phục hồi và phát triển trở lại. Trong đó, ngày 20/5/2020, UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 129/KH-UBND về triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp cấp bách phục hồi, kích cầu phát triển du lịch Thừa Thiên Huế năm 2020 trong bối cảnh tác động của dịch Covid-19. Giảm phí tham quan di tích tại các điểm du lịch theo Nghị quyết số 08/NQ-HĐND ngày 08 tháng 5 năm 2020 của HĐND tỉnh; triển khai Kế hoạch tổ chức Chương trình Lễ hội Festival Huế lần thứ XI 2020 dự kiến vào cuối tháng 8/2020; ký kết chương trình liên kết hành động phục hồi và phát triển du lịch trong bối cảnh mới, phát động chương trình kích cầu du lịch ba địa phương Thừa Thiên Huế - Đà Nẵng - Quảng Nam;...
a. Bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Tình hình thị trường bán lẻ hàng hóa và các hoạt động dịch vụ đã được mở cửa trở lại tuy nhiên doanh thu vẫn chưa đạt mức bình thường trước dịch nhất là các ngành dịch vụ du lịch, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, ... Nguồn cung ứng hàng hóa phong phú, đa dạng, đáp ứng nhu cầu của thị trường, giá cả hàng hóa ổn định, không có hiện tượng sốt giá do khan hiếm hàng hóa.
Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa doanh thu dịch vụ tiêu dùng sáu tháng đầu năm 2020 đạt 20.268,2 tỷ đồng, giảm 4,80% so với cùng kỳ năm trước. Trong tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 6 tháng đầu năm 2020 thì kinh doanh bán lẻ hàng hóa đạt 16.499,8 tỷ đồng, chiếm 81,41% tổng số và tăng 2,06%; dịch vụ lưu trú và ăn uống đạt 2.430 tỷ đồng, chiếm 12% và giảm 30,96%; du lịch lữ hành đạt 38,9 tỷ đồng, chiếm 0,19% và giảm 59,93%; dịch vụ khác đạt 1.299,6 tỷ đồng, chiếm 6,41% và giảm 13,79% so với cùng kỳ năm 2019.
b. Vận tải hành khách và hàng hóa 
Bắt đầu từ tháng 5/2020 các phương tiện vận tải hành khách đã trở lại hoạt động bình thường sau thời gian ngừng hoạt động hoặc giãn cách do dịch Covid-19. Đồng thời nhu cầu vận chuyển hàng hóa phục vụ sản xuất kinh doanh, xây dựng nhà cửa, các công trình tăng mạnh so với những tháng trước. Hoạt động kho bãi, dịch vụ đường biển trong những tháng qua diễn ra thuận lợi, doanh thu tăng cao so với cùng kỳ năm trước.
Dự ước hành khách vận chuyển sáu tháng đầu năm 2020 đạt 8.616,7 nghìn hành khách và 440.712,0 nghìn hành khách.km, giảm 29,33% về hành khách và 28,14% về hành khách.km so với sáu tháng đầu năm 2019, bao gồm: vận tải hành khách đường bộ ước đạt 8.318,3 nghìn hành khách, giảm 29,37% và 439.375,5 nghìn hành khách.km, giảm 28,14%; đường sông đạt 298,4 nghìn hành khách, giảm 28,30% và 1.336,5 nghìn hành khách.km, giảm 27,96% so với sáu tháng đầu năm 2019.
Dự ước hàng hóa vận chuyển sáu tháng đầu năm 2020 ước đạt 6.276,9 nghìn tấn và 564.162,3 nghìn tấn.km, giảm 3,35% về tấn và giảm 5,07% về tấn.km so với sáu tháng đầu năm 2019, bao gồm: vận tải hàng hóa đường bộ đạt 6.219,7 nghìn tấn, giảm 3,11% và 492.828,3 nghìn tấn.km, giảm 4,09%; đường biển đạt 57,2 nghìn tấn, giảm 14,48% và 71.334,0 nghìn tấn.km, giảm 11,20% so với sáu tháng đầu năm 2019.
Dự ước doanh thu vận tải, bốc xếp sáu tháng đầu năm 2020 đạt 1.377,6 tỷ đồng, giảm 8,87% so với sáu tháng đầu năm 2019. Chia theo loại hình dịch vụ vận tải: Doanh thu vận tải hành khách đạt 254,7 tỷ đồng, giảm 29,63%; vận tải hàng hóa đạt 996 tỷ đồng, giảm 3,55%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 118,5 tỷ đồng, tăng 7,72%; bưu chính chuyển phát đạt 8,3 tỷ đồng, tăng 15,93% so với sáu tháng đầu năm 2019.
c. Lượt khách các cơ sở lưu trú phục vụ và du lịch lữ hành
Mặc dù trong hơn 2 tháng qua dịch bệnh Covid-19 ở Việt Nam cơ bản được kiểm soát nhưng lượng khách quốc tế đến Việt Nam nói chung, Thừa Thiên Huế nói riêng vẫn đình trệ do dịch bệnh vẫn còn diễn biến phức tạp trên thế giới, các thị trường khách quốc tế vẫn tiếp tục đóng cửa. Các cơ sở lữ hành phục vụ khách du lịch tạm ngừng hoạt động từ tháng 4, tháng 5/2020, đến tháng 6 một số cơ sở lữ hành đã hoạt động trở lại nhưng mức độ còn rất hạn chế.
Dự ước sáu tháng đầu năm 2020 lượt khách do các cơ sở lưu trú phục vụ ước đạt 554,7 nghìn lượt khách, giảm 51,89% so cùng kỳ năm trước; trong đó, lượt khách quốc tế ngủ qua đêm đạt 240,2 nghìn lượt khách, giảm 56,19%. Tổng ngày khách ước thực hiện sáu tháng đầu năm 2020 đạt 937,3 nghìn ngày, giảm 53,59% so với cùng kỳ; trong đó, ngày khách quốc tế đạt 483,5 nghìn ngày, giảm 57,47%; khách trong nước đạt 453,8 nghìn ngày, giảm 48,59%.
Dự ước doanh thu cơ sở lưu trú sáu tháng đầu năm 2020 đạt 422,1 tỷ đồng, giảm 51,93% so sáu tháng đầu năm 2019.
Dự ước lượt khách theo tour sáu tháng đầu năm 2020 đạt 23,2 nghìn lượt giảm 59,83% so với cùng kỳ năm trước. Tổng ngày khách theo tour ước thực hiện sáu tháng đầu năm 2020 đạt 48,2 nghìn ngày, giảm 60,27% so với sáu tháng đầu năm 2019.
d. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
Chỉ số giá tiêu dùng toàn tỉnh tháng 6/2020 tăng 0,28% so với tháng trước, giảm 1,35% so với tháng 12 năm trước. Nguyên nhân tăng giá so tháng trước chủ yếu do điều chỉnh tăng giá xăng dầu, bên cạnh đó một số nhóm hàng tăng nhẹ như đồ uống và thuốc lá; thiết bị và đồ dùng gia đình; hàng hóa và dịch vụ khác. Các nhóm hàng hóa dịch vụ có chỉ số giá tăng so tháng trước gồm: Nhóm giao thông tăng 6,45%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,15%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,03%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,12%. Nhóm giáo dục; thuốc và dịch vụ y tế; bưu chính viễn thông; ăn uống ngoài gia đình không tăng giảm. Nhóm hàng hóa dịch vụ có chỉ số giá giảm gồm: Nhóm lương thực giảm 0,59%, trong đó gạo giảm 0,96% do vừa thu hoạch vụ lúa đông xuân; thực phẩm giảm 0,49%, trong đó giá thịt lợ tăng 0,84%; thịt bò giảm 0,09%; hịt gia cầm tươi sống tăng 0,64%; thủy sản tươi sống giảm 2,81% do ngư dân được mùa cá; một số mặt hàng như cá quả, cá dày, tôm, mực có giá giảm; thủy sản chế biến giảm 0,77%. 
So với cùng kỳ năm trước, chỉ số giá tiêu dùng chung tháng 6/2020  tăng 2,97%; so với bình quân cùng kỳ năm 2019, chỉ số giá tiêu dùng bình quân 6 tháng đầu năm 2020 ước tăng 4,54%. Nguyên nhân tăng giá so cùng kỳ năm trước chủ yếu do giá thịt lợn đẩy lên cao từ các tháng cuối năm 2019 sau khi bị tác động bởi dịch tả lợn Châu Phi và việc tăng học phí các trường đại học, cao đẳng, trung cấp đầu năm học mới vào tháng 9/2019. Thêm vào đó một số nhóm hàng hóa, dịch vụ thiết yếu tăng trong dịp lễ tết đầu năm.
Các nhóm hàng hóa dịch vụ có chỉ số giá bình quân 6 tháng đầu năm 2020 tăng cao so cùng kỳ năm trước gồm: Thực phẩm tăng 13,18% do giá thịt lợn tăng cao; nhóm giáo dục tăng 12,51%; lương thực tăng 3,58%; ăn uống ngoài gia đình tăng 3,77%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 3,73%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 2,85%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,75%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,66%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 1,76%; hàng hóa và dịch vụ khác (chủ yếu chăm sóc, phục vụ cá nhân) tăng 4,42%.
Chỉ số giá tiêu dùng 6 tháng đầu năm
Đơn vị tính : %
2016 2017 2018 2019 2020
Tháng 12 năm trước =100
Tháng 1 100,05 100,75 100,55 100,08 101,47
Tháng 2 100,60 100,98 101,35 101,22 99,48
Tháng 3 101,30 100,68 100,87 100,72 99,16
Tháng 4 101,45 100,41 100,89 101,20 98,25
Tháng 5 102,07 99,96 101,19 101,81 100,03
Tháng 6 102,47 99,72 101,55 101,63 100,28
- Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ 
Chỉ số giá vàng tháng 6/2020 tăng 2,97% so với tháng trước, tăng 15,46% so với tháng 12 năm trước và tăng 29,19% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 6 tháng đầu năm 2020 tăng 23,82% so với bình quân cùng kỳ năm trước. 
Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 6/2020 giảm 0,57% so với tháng trước, tăng 0,39% so với tháng 12 năm trước và giảm 0,4% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 6 tháng đầu năm 2020 tăng 0,34% so với bình quân cùng kỳ năm trước.
7. Các vấn đề xã hội
a. Lao động việc làm
Thông qua việc phát triển doanh nghiệp, làng nghề và các ngành nghề; sàn giao dịch việc làm; thực hiện công tác cho vay vốn giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động, tuy nhiên do ảnh hưởng của dịch Covid-19, trong 05 tháng đầu năm, toàn tỉnh chỉ giải quyết việc làm mới cho 2.607 lao động, bằng 13,3% KH, trong đó 176 người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
Từ ngày 01/5/2020 đến nay, nhiều doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh, hộ gia đình hoạt động sản xuất kinh doanh trở lại, qua đó thu hút nhiều lao động quay trở lại làm việc; lao động tự do có cơ hội tìm kiếm việc làm, tạo thu nhập. Tuy nhiên, tình hình sản xuất kinh doanh hiện nay của nhiều đơn vị còn gặp khó khăn nên nhu cầu tuyển lao động còn hạn chế, ảnh hưởng đến công tác giải quyết việc làm trong 6 tháng đầu năm.
Do đại dịch Covid-19 nên số lao động đề nghị giải quyết chế độ bảo hiểm thất nghiệp tăng mạnh so với cùng kỳ năm 2019, từ đầu năm đến nay đã giải quyết trợ cấp thất nghiệp cho 5.129 người trên tổng số 5.860 người đăng ký với tổng số tiền chi trả 72,5 tỷ đồng; số người đề nghị được hỗ trợ học nghề 66 người với số tiền chi là 254,7 triệu đồng.
b. Chính sách - xã hội
Thực hiện Quyết định số 2422/QĐ-CTN ngày 31/12/2019 của Chủ tịch Nướcvà Quyết định số 3379/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế về việc tặng quà các đối tượng chính sách xã hội nhân dịp Tết Nguyên đán Canh Tý 2020, Lãnh đạo tỉnh và các địa phương đã tổ chức thăm hỏi và trao 197.214 suất quà với tổng số tiền 55,537 tỷ đồng hỗ trợ cho Người có công và các đối tượng xã hội khác. Bao gồm: Trao 42.677 suất quà của Chủ tịch nước, của tỉnh, huyện, xã và cộng đồng cho Người có công với tổng số tiền 9,724 tỷ đồng; các cơ quan, đoàn thể, địa phương, doanh nghiệp và cộng đồng xã hội đã tổ chức thăm hỏi và trao 154.537 suất quà cho các hộ nghèo, người khuyết tật, trẻ em mồ côi và các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn,…với tổng số tiền 45,813 tỷ đồng.
Thực hiện Nghị quyết 42/NQ-CP ngày 9/4/2020 của Chính phủ về các biện pháp hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid-19, tính đến ngày 12/6/2020, tỉnh đã thực hiện hỗ trợ kịp thời cho 133.677 đối tượng với tổng kinh phí 147,83 tỷ đồng. Trong đó: Người có công 13.561 người, kinh phí 20.341,5 triệu đồng; Bảo trợ xã hội 49.840 người, kinh phí 74.760 triệu đồng; Hộ nghèo 27.316 người, kinh phí 20.487 triệu đồng; Hộ cận nghèo 42.960 người, kinh phí 32.220 triệu đồng.
Thông qua nguồn vận động của UBMTTQVN tỉnh, đã tiến hành chi hỗ trợ cho 12 cơ sở, 94 gia đình và 145 người thuộc hộ nghèo, cận nghèo với tổng kinh phí hơn 1 tỷ đồng.
Công tác giảm nghèo, trong 6 tháng đầu năm đã tổ chức giúp đỡ các xã có tỷ lệ hộ nghèo trên 25%. Triển khai chính sách giảm nghèo bền vững gắn với xuất khẩu lao động năm 2020. 
c. Giáo dục và đào tạo
Thực hiện Chỉ thị số 16/CT-UBND về triển khai thực hiện nhiệm vụ năm học 2019-2020 trên địa bàn tỉnh. Kết quả học kỳ 1:
+ Giáo dục mầm non: Toàn tỉnh có 206 trường mầm non (186 trường công lập và 20 trường tư thục) với 403 điểm trường, tỷ lệ 2,0 điểm/1 trường. Có 2374 nhóm, lớp (645 nhóm trẻ, 1729 lớp mẫu giáo; trong đó có 595 lớp mẫu giáo 5 tuổi). 
+ Giáo dục tiểu học: Toàn tỉnh có 200 trường tiểu học; có 95.608 học sinh/3.333 lớp. Trong đó, huy động 99,99% trẻ 6 tuổi vào lớp 1 với 19.722 /723 lớp. Tỷ lệ học sinh học 2 buổi/ngày là 87,7% (100% học sinh lớp 1 học 2 buổi/ ngày). Toàn cấp học có 99,13% học sinh được học ngoại ngữ.
+ Giáo dục THPT có 37 trường với 37.575 học sinh (công lập: 37.267 học sinh; ngoài công lập: 308 học sinh). 
+ THCS có 132 trường với 66.947 học sinh (công lập: 66.924 học sinh; ngoài công lập: 23 học sinh).
Về chất lượng 2 mặt giáo dục học kỳ I năm học 2019-2020, toàn tỉnh cấp THCS: có 20,32%  học sinh xếp loại Giỏi về học lực và 86,7% xếp loại Tốt về Hạnh kiểm. Cấp THPT: có 14,59%  học sinh xếp loại Giỏi về học lực và 73,70% xếp loại Tốt về hạnh kiểm.
Kỳ thi học sinh giỏi cấp Tỉnh năm học 2019-2020 có 2.713 học sinh tham gia (tăng 53 học sinh so với năm học trước), đã công nhận 1.163 học sinh đạt học sinh giỏi cấp tỉnh (tăng 46 học sinh so với năm trước). Tham gia dự thi kỳ thi học sinh giỏi THPT quốc gia có 75 học sinh, kết quả đạt 52 giải, gồm: 3 giải Nhất, 13 giải Nhì, 18 giải Ba và 18 giải Khuyến khích.
Công tác phòng chống dịch Covid - 19 được ngành Giáo dục Đào tạo triển khai kịp thời, có hiệu quả. Đã tổ chức dạy học qua truyền hình , dạy học online trong thời gian học sinh nghỉ học do dịch bệnh, góp phần quan trọng trong việc củng cố kiến thức và hoàn thành chương trình đúng tiến độ quy định. Sau thời gian học sinh nghỉ học do dịch bệnh đến cuối tháng 4, tất cả các cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh cơ bản đã ổn định trở lại và đảm bảo tiến độ dạy học theo khung thời gian năm học quy định. Dự kiến thời gian kết thúc năm học 2019-2020: Học kỳ II trước ngày 11/7/2020, cả năm trước ngày 15/7/2020, riêng khối 12 của cấp THPT và Giáo dục thường xuyên phải hoàn thành chương trình giảng dạy năm học trước 30/6/2020; công tác tuyển sinh các lớp đầu cấp học cho năm học 2020-2021 dự kiến hoàn thành trước ngày 15/8/2020. 
Năm 2020, Đại học Huế dự kiến tuyển sinh với 14.250 chỉ tiêu đại học hệ chính quy cho 146 ngành đào tạo.
Công tác dạy nghề, tính đến ngày 15/5/2020, có 280 học viên đăng ký học nghề sơ cấp, tiếp nhận 415 hồ sơ đăng ký học trình độ cao đẳng, trung cấp. 
d. Tình hình y tế, dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm
* Dịch viêm phổi cấp Covid-19: Trong thời gian xảy ra dịch và sau dịch, để chủ động trong công tác phòng chống, UBND tỉnh đã ban hành nhiều văn bản yêu cầu các cấp, các ngành, các địa phương, người dân trong tỉnh thực hiện nghiêm túc công tác phòng, chống dịch theo chỉ đạo của Trung ương và Địa phương. Thực hiện phương châm "chống dịch như chống giặc" của Thủ tướng Chính phủ, ngay từ những ngày đầu, công tác phòng, chống dịch trên địa bàn tỉnh được triển khai một cách đồng bộ, hiệu quả, đặc biệt là sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, đã bám sát việc chủ động phát hiện, cách ly kịp thời và ngăn chặn triệt để dịch bệnh lây lan. Hoạt động hiệu quả "Sở chỉ huy tiền phương" tại trụ sở UBND tỉnh, vào 7h15' hàng ngày, tổ chức họp giao ban trực tuyến với các địa phương để nắm bắt vào tháo gỡ những vướng mắc, công việc mới phát sinh. Chỉ đạo các địa phương thực hiện nghiêm túc việc kê khai y tế toàn dân; tập trung rà soát, giám sát, nắm chắc các trường hợp có yếu tố dịch tễ theo quy định ngay từ cơ sở; tạm dừng kinh doanh Karaoke, vũ trường, quán Bar, massage, rạp chiếu phim, điểm cung cấp trò chơi điện tử; tạm thời không đón khách vào tham quan tại các di tích, bảo tàng, danh lam thắng cảnh; vận động người dân tổ chức cưới hỏi trong phạm vi gia đình, phù hợp nghi lễ truyền thống, dừng các hoạt động tổ chức đông người trong thời gian cao điểm của dịch. Chốt chặn, giám sát, kiểm soát dịch bệnh tại các tuyến cửa ngõ trọng yếu, nhà ga, sân bay, bến xe. Cấp phát lương hưu và các  khoản trợ cấp hàng tháng đến từng hộ gia đình. Chỉ đạo Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức dạy học qua sóng truyền hình cho học sinh lớp 12 và lớp 9. 
Đến ngày 23/4/2020, trong toàn tỉnh đã không còn bệnh nhân dương tính Covid-19 sau khi bệnh nhân số 30 và 49 đã khỏi hoàn toàn. Đã hoàn thành thời gian cách ly tập trung 14 ngày cho tất cả 6.362 người từ Lào trở về, số lượng giám sát tại nơi cư trú 160 người. Toàn tỉnh đã lấy mẫu xét nghiệm 8.745 người; trong đó có 2 người dương tính, còn lại đều âm tính. Trên địa bàn tỉnh trong thười gian bùng phát dịch không có trường hợp lây nhiễm trong cộng đồng. Từ ngày 22/4/2020 đến nay, toàn quốc đã qua hơn 2 tháng không có ca lây nhiễm trong cộng đồng. Hầu hết các ngành, nghề sản xuất, kinh doanh đã hoạt động trở lại. Tuy nhiên Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh yêu cầu các ngành, UBND các huyện, thị xã, thành phố Huế không chủ quan, lơ là trong công tác phòng, chống dịch, nhất là tại các khu đô thị, nơi tập trung đông người, đông dân cư; phải bảo đảm sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống dịch bệnh, không để dịch bệnh quay trở lại. Thực hiện nghiêm các biện pháp bảo đảm an toàn phòng, chống dịch bệnh trong hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện chủ trương quản lý tốt, tạo thuận lợi nhưng bảo đảm chặt chẽ trong thực hiện cách ly y tế đối với các chuyên gia, công nhân tay nghề cao, nhà quản lý được nhập cảnh.
* Các loại bệnh khác: Tháng 5/2020, toàn tỉnh có 111 ca mắc sốt xuất huyết, tăng 85 ca so cùng kỳ năm trước; 9 ca mắc viêm gan siêu trùng, tăng 8 ca; không có ca mắc bệnh Tay-Chân-Miệng, giảm 4 ca. Không có trường hợp tử vong. Không có ca mắc sốt rét, liên cầu lợn, thương hàn và viêm não vi rút, bằng cùng kỳ năm trước. Tính từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh không có ca mắc sốt rét, giảm 1 ca so với cùng kỳ năm trước; 669 ca mắc sốt xuất huyết, tăng 472 ca; 39 ca mắc viêm gan siêu trùng, tăng 26 ca; 4 ca mắc bệnh Tay-Chân-Miệng, giảm 18 ca. Không có trường hợp tử vong. Không có ca mắc liên cầu lợn, thương hàn và viêm não vi rút, bằng cùng kỳ năm trước.
Tháng 5/2020, qua kiểm tra sàng lọc trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 5 ca nhiễm mới HIV, giảm 5 ca so cùng kỳ năm trước; không có trường hợp chuyển qua AIDS, giảm 1 ca; có 1 ca tử vong, bằng cùng kỳ. Từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 49 ca nhiễm mới HIV, giảm 3 ca; không có trường hợp chuyển qua AIDS, giảm 2 ca; có 3 ca tử vong, không tăng giảm so cùng kỳ năm 2019. Hiện tại, trên địa bàn tỉnh có 418 bệnh nhân đang được quản lý và điều trị tại các cơ sở y tế, trong đó có 413 bệnh nhân điều trị ARV.
Tình hình ngộ độc thực phẩm: Từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh không xảy ra trường hợp ngộ độc thực phẩm, bằng cùng kỳ năm 2019. 
e. Hoạt động văn hóa, thể thao 
Trong tháng 01/2020, tháng Tết Nguyên đán Canh Tý trên địa bàn tỉnh nhiều hoạt độngvăn hóa, thể thao, du lịch diễn ra sôi nổi. Tổ chức các hoạt động mừng Đảng, mừng Xuân Canh Tý 2020. Trong đó, tổ chức các hoạt động chào đón năm mới như bắn pháo hoa tầm cao tại thành phố Huế và thị xã Hương Thủy;tổ chức Hội hoa xuân; Hội Báo xuân; hoạt động chào đón năm mới với chủ đề “Mừng Đảng, mừng Xuân, mừng công cuộc đổi mới, hội nhập của quê hương, đất nước”; chương trình 3D mapping “Trình chiếu ánh sáng Laser tương tác kĩ thuật số trên sông Hương”; Tuần phim “Mừng Đảng - Mừng Xuân”;... biểu diễn văn nghệ và các hoạt động vui xuân khác tại nhiều địa điểm phục vụ cho nhu cầu giải trí của nhân dân và du khách. Ngoài ra, tại các huyện, thị xã đã tổ chức nhiều chương trình hoạt động Tết sôi nổi như: Chợ quê ngày Tết, lễ hội Bài chòi; lễ hội Đu tiên; chợ phiên;...
Kỷ niệm 130 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2020), sáng ngày 18/5/2020, Sở Văn hóa và Thể thao phối hợp với Bảo tàng Hồ Chí Minh Trung ương tổ chức triển lãm chuyên đề “Hồ Chí Minh - Những nét phác họa chân dung” với hơn 200 tư liệu và hiện vật. Ngày 19/5/2020, Trung tâm Văn hóa - Điện ảnh tỉnh đã khai mạc Tuần phim chào mừng kỷ niệm 130 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh. 
Ngày 22/5/2020, tại thành phố Huế đã diễn ra buổi Lễ trao giải chặng 3 (Đồng Hới - thành phố Huế) và khai mạc chặng 4 (cầu Trường Tiền - Phú Xuân) trong khuôn khổ Giải đua xe đạp Cúp truyền hình TP.Hồ Chí Minh lần thứ 32 - 2020. 
Trong thời gian dịch bệnh Covid-19 bùng phát mạnh các điểm tham quan trên địa bàn tỉnh thực hiện tạm ngưng đón khách, do vậy lượt khách tham quan và doanh thu bán vé 6 tháng đầu năm nay giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước; Các đơn vị nghệ thuật, thư viện trên địa bàn tạm ngưng hoạt động. Trung tâm Thể thao tỉnh, Đoàn Bóng đá Huế tạm hoãn việc tổ chức các giải thi đấu và các hoạt động thể dục thể thao để tránh tụ tập đông người. Các hoạt động văn hoá, thể thao khác và các sự kiện, lễ hội có tụ tập đông người đều phải tạm hoãn hoặc hủy để tập trung công tác phòng, chống dịch bệnh, trong đó riêng Lễ hội Festival Huế 2020 đã được dời lịch tổ chức đến 28/8 - 02/9/2020. Điều này đã tác động không nhỏ đến hoạt động văn hoá, thể thao trong 6 tháng đầu năm 2020.
f. Tai nạn giao thông( )
Từ 15/5/2020 đến 14/6/2020, trên địa bàn tỉnh xảy ra 27 vụ tai nạn và va chạm giao thông, giảm 12 vụ so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, tai nạn đường bộ xảy ra 26 vụ, giảm 12 vụ;  làm chết 10 người, giảm 10 người; bị thương 21 người, giảm 9 người. Tai nạn đường sắt xảy ra 1 vụ, làm chết 1 người và không có người bị thương, không tăng giảm so với cùng kỳ. Tai nạn đường thủy không xảy ra, không tăng giảm so cùng kỳ.
Tính từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 130 vụ tai nạn và va chạm giao thông, giảm 38 vụ so với cùng kỳ năm trước; làm chết 62 người, giảm 40 người; bị thương 92 người, giảm 50 người. Trong đó, tai nạn đường bộ xảy ra 128 vụ, giảm 32 vụ so với cùng kỳ; làm chết 60 người, giảm 37 người; bị thương 92 người, giảm 48 người. Tai nạn đường sắt xảy ra 2 vụ, giảm 6 vụ; làm chết 2 người, giảm 3 người; không có người bị thương, giảm 2 người. Tai nạn đường thủy không xảy ra, không tăng giảm so cùng kỳ.
g. Tình hình cháy nổ và bảo vệ môi trường
Đến hết ngày 15/6/2020 trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 4 vụ cháy, giảm 4 vụ so với cùng kỳ năm 2019, không gây thiệt hại về người, giá trị thiệt hại 11,9 triệu đồng. Từ đầu năm đến  nay trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 30 vụ cháy, tăng 1 vụ so với cùng kỳ năm 2019, làm chết 5 người, giá trị thiệt hại 1,643 tỷ đồng. Nguyên nhân cháy chủ yếu là do sự cố hệ thống thiết bị điện.
Đến hết ngày 15/6/2020 qua kiểm tra của các ngành chức năng đã phát hiện 29 vụ vi phạm môi trường, tăng 2 vụ so với cùng kỳ 2019. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 90 vụ vi phạm môi trường, tăng 12 vụ so với cùng kỳ năm trước, đã tiến hành xử lý 71 vụ với số tiền xử phạt 374,7 triệu đồng. Các hình thức vi phạm chủ yếu khai thác cát, khoáng sản trái phép; chặt phá rừng; đỗ vật liệu trái phép.

Khái quát lại, kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh 6 tháng đầu năm 2020 phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Đặc biệt đại dịch Covid-19 đã tác động nặng nề đến nhiều lĩnh vực kinh tế xã hội và đời sống sinh hoạt người dân. Kể từ cuối tháng 4/2020 dịch bệnh đã cơ bản được khống chế trong cả nước, tuy nhiên trên thế giới dịch vẫn còn diễn biến phức tạp, trong đó có các nước là đối tác kinh tế lớn của nước ta; giao thương giữa các nước với ta vẫn còn rất hạn chế, do vậy nền kinh tế trong nước với độ mở lớn đang phục hồi nhưng còn chậm.
Sản xuất, kinh doanh trong tỉnh 6 tháng đầu năm các ngành, lĩnh vực chịu tác động trực tiếp, nặng nề của đại dịch chủ yếu thuộc khu vực du lịch, dịch vụ và một số ngành trong sản xuất công nghiệp, cụ thể: Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống  giảm 30,96% so cùng kỳ năm trước (6 tháng đầu năm 2019 tăng 11,05%); doanh thu du lịch lữ hành giảm 59,93% (6 tháng đầu năm 2019 tăng 9,15%); doanh thu vận tải, bốc xếp giảm 8,87% (6 tháng đầu năm 2019 tăng 12,23%); doanh thu dịch vụ khác giảm 13,79% (6 tháng đầu năm 2019 tăng 8,72%); lượt khách du lịch cơ sở lưu trú phục vụ 6 tháng năm 2020 giảm 51,89% so cùng năm trước, con số này cách biệt rất lớn so với mức tăng 6,51% của 6 tháng năm đầu 2019;...Một số sản phẩm chủ lực trong công nghiệp giảm: Bia giảm 1,32% (6 tháng đầu năm 2019 tăng 12,88%); quần áo lót giảm 6,38% (6 tháng đầu năm 2019 tăng 3,91%); xe ô tô giảm 17,81% (6 tháng đầu năm 2019 tăng 11,94%); giày dép da giảm 15,03%; sản phẩm in giảm 9,85%; hương vòng giảm 5,75%;...Ngoài ra năm nay do tình trạng hạn hán kéo dài nên lượng điện sản xuất giảm 23,22% so cùng kỳ (6 tháng đầu năm 2019 tăng 18,89%). Sản xuất nông nghiệp trong trồng trọt và chăn nuôi thiệt hại đáng kể do thiên tai và hậu quả dịch tả lợn Châu Phi làm cho sản lượng lúa giảm 5,6%; thịt lợn hơi xuất chuồng giảm 40,6% so cùng kỳ. 
Kinh tế trong tỉnh 6 tháng đầu năm duy trì được mức tăng trưởng dương 0,38% như trên, không bị âm như một số tỉnh trong vùng có cơ cấu kinh tế nặng về dịch vụ du lịch như tỉnh ta, chủ yếu nhờ vào một số sản phẩm công nghiệp truyền thống như chế biến tôm xuất khẩu, sản xuất dăm gỗ, sản xuất vỏ lon nhôm, sản xuất bao bì, sản xuất tân dược,...có mức tăng trưởng khá, ít bị tác động của dịch. Ngoài ra nhờ một số năng lực mới tăng từ các nhà máy mới đưa vào hoạt động từ giữa năm 2019 và đầu năm nay: Nhà máy sản xuất khoáng Cristobalite của Công ty Phenikaa; Nhà máy sợi Phú Quang; Công ty men Frit Phú Sơn; Công ty men frit Hương Giang; mở rộng Nhà máy sợi Phú An; Nhà máy sản xuất đồ chơi của công ty Billion Max. Tuy nhiên năng lực các nhà máy này còn ở qui mô nhỏ. 
Trong 6 tháng đầu năm 2020, với sự lãnh đạo, điều hành sát, đúng, quyết liệt; sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị; sự đồng sức, đồng lòng toàn Đảng, toàn quân và toàn dân, đại dịch Covid-19 trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế được ngăn chặn ở mức tối đa và đã được đẩy lùi trên phạm vi cả nước. Tỉnh Thừa Thiên Huế đã triển khai tốt các biện pháp phòng chống dịch, tổ chức cách ly tập trung hàng ngàn đối tượng nước ngoài về và đã chữa khỏi 4 trường hợp dương tính với SARS CoV-2; hạn chế thấp nhất những thiệt hại về mặt kinh tế và đời sống. Trong hơn 2 tháng cuối quí II/2020 sinh hoạt đời sống xã hội đã thiết lập lại trạng thái bình thường mới, sản xuất kinh doanh đang trên đà ổn định, an sinh xã hội và đời sống người lao động bảo đảm, làm tốt công tác hỗ trợ các đối tượng khó khăn trong đại dịch. 
Trong 6 tháng cuối năm khả năng dịch bệnh Covid-19 không còn diễn biến và lây lan trong phạm vi cả nước ta, hoạt động sản xuất kinh doanh trở lại trạng thái bình thường; các cấp Nhà nước Trung ương và địa phương đã và đang có các chính sách hỗ trợ tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh; tiếp tục thực hiện các gói hỗ trợ an sinh xã hội đối với các nhóm đối tượng bị ảnh hưởng dịch; đẩy mạnh các chương trình, kế hoạch kích cầu khu vực du lịch dịch vụ;... Tuy nhiên kinh tế trên địa bàn 6 tháng cuối năm không thể phục hồi nhanh như những năm trước khi chưa xảy ra dịch do tăng trưởng kinh tế hậu dịch của tỉnh và cả nước nói chung chủ yếu dựa vào kích cầu tiêu dùng nội địa là chính, nhưng hiện nay sức tiêu thụ trong dân cư, chi tiêu công Nhà nước vẫn còn hạn chế, thắt chặt; giải ngân đầu tư công còn gặp khó khăn; thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài tuy có nhiều cơ hội nhưng không thể thực hiện được ngay. Trong khi đó các nước đối tác kinh tế lớn của ta tình hình dịch còn diễn biến rất phức tạp, các biện pháp phong tỏa chưa được nới lỏng nhiều, đã làm cho thị trường xuất nhập khẩu thế giới không thể phục hồi nhanh chóng, ảnh hưởng đến một số ngành sản xuất các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của tỉnh và các ngành nhập khẩu nguyên phụ liệu đầu vào sản xuất từ nước ngoài; giao lưu quốc tế chưa nới lỏng, thị trường khách du lịch nước ngoài còn đóng cửa. Một số ngành dịch vụ chịu tác động trực tiếp của dịch giảm sâu trong 6 tháng đầu năm khó có thể phục hồi nhanh trong 6 tháng cuối năm. Ngành chăn nuôi đàn lợn phục hồi chậm. Ngành sản xuất điện còn phụ thuộc lượng mưa những tháng cuối năm. Từ những nguyên nhân trên, nên tăng trưởng kinh tế của tỉnh cả năm 2020 khó có thể đạt kế hoạch đề ra. Để tiếp tục đối phó không để dịch bệnh Covid-19 tái bùng phát, cùng với với việc khắc phục khó khăn trong các cơ sở sản xuất kinh doanh, kích cầu kinh tế phát triển trở lại, ổn định đời sống và thu nhập người lao động, trong 6 tháng cuối năm 2020 các cấp, các ngành cần tổ chức thực hiện một số vấn đề trọng tâm sau:
Thứ nhất, tập trung nguồn lực triển khai thực hiện Nghị quyết 54-NQ/TW của Bộ Chính trị với kết quả đạt được cao nhất theo tiến độ của từng phân kỳ. Rà soát, đánh giá lại các chỉ tiêu Kế hoạch kinh tế xã hội năm 2020 và cả thời kỳ 2016-2020, đánh giá tác động của dịch bệnh Covid-19 đối với từng ngành, lĩnh vực kinh tế cụ thể sau đại dịch để phân lập đúng đối tượng và tiếp tục có các biện pháp hỗ trợ kịp thời, sát đúng, hiệu quả nhằm ổn định, phát triển sản xuất kinh doanh và đời sống. Tiếp tục ưu tiên công tác phòng chống dịch bệnh Covid-19 trong tình hình mới theo chỉ đạo của UBND tỉnh tại Công văn số 3809/UBND-GD ngày 08/5/2020. 
Thứ hai, làm tốt công tác kích cầu tiêu dùng nội địa, kích cầu đầu tư, tạo mọi điều kiện để mời gọi, chào đón dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài chuyển về Việt Nam sau Đại dịch và dòng vốn đầu tư khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực. Đẩy nhanh tiến độ khởi công, thi công các dự án đã được cấp chủ trương đầu tư trong năm 2020; giải ngân nguồn vốn đầu tư công đảm bảo kế hoạch năm 2020. Tạo điều kiện cụ thể về chính sách để các công trình đã hoàn thành trong năm 2019 và 6 tháng đầu năm nay phát huy hiệu quả cao, tạo thêm động lực đóng góp cho tăng trưởng kinh tế của cả năm 2020. Hoàn thành giải ngân các gói hỗ trợ tài chính, tín dụng, hỗ trợ dân sinh của Trung ương và Địa phương đến kịp thời các đối tượng, không để nhiều cơ sở kinh tế lâm vào tình trạng phá sản, giải thể. Từ các điểm mạnh, yếu của nền kinh tế bộc lộ qua Đại dịch, cần nhận thức rõ vấn đề mấu chốt để đẩy nhanh quá trình sắp xếp, cơ cấu lại nền kinh tế trong từng ngành, lĩnh vực theo hướng sản xuất thông minh, bền vững và hiệu quả, đủ sức chống chịu với các biến động bên ngoài. Chú trọng bảo đảm nguồn nguyên, phụ liệu đầu vào sản xuất và thị trường đầu ra đối với các sản phẩm chủ lực của tỉnh, không để ngừng trệ.
Thứ ba, tăng cường công tác quảng bá, kích cầu du lịch theo Kế hoạch số 129/KH-UBND của UBND tỉnh; chuẩn bị tốt Lễ hội Festival Huế lần thứ XI 2020 sẽ diễn ra những ngày cuối tháng 8 đầu tháng 9, đồng thời lồng ghép giới thiệu các tour du lịch nội địa đặc sắc của Thừa Thiên Huế. Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, công tác an toàn vệ sinh thực phẩm, kiểm soát chặt chẽ nguồn thực phẩm tươi sống nhập vào tỉnh để hạn chế dịch bệnh. Đẩy mạnh các chương trình khuyến mãi tiêu thụ nông sản địa phương và cuộc vận động Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam; tăng cường ứng dụng thương mại điện tử trong hoạt động sản xuất kinh doanh; duy trì và phát triển ứng dụng công nghệ thông tin, số hóa trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, hội họp, quản lý điều hành,... từ kinh nghiệm trong đợt bùng phát đại dịch Covid-19 vừa qua.
Thứ tư, tập trung sản xuất tốt vụ hè thu 2020, tiếp tục triển khai các giải pháp ứng phó với tình hình nắng nóng kéo dài trong năm nay; tu sửa, nạo vét các công trình thủy lợi, điều tiết nguồn nước các công trình thủy điện, khai thác tối đa các nguồn nước phục vụ sản xuất và đời sống, phòng chống xâm nhập mặn trong cao điểm mùa hè. Đẩy nhanh tái đàn lợn đi đôi với việc chuyển đổi mô hình sản xuất theo hướng an toàn sinh học, phòng chống dịch tả lợn Châu Phi tái phát và lây lan trên diện rộng. Tạo nền tảng hình thành nền nông nghiệp công nghệ cao, cơ cấu lại sản xuất, phát triển nông nghiệp gắn với du lịch trên cơ sở triển khai các hoạt động hợp tác với Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Tăng cường các biện pháp bảo vệ rừng, ngăn chặn triệt để nguy cơ lâm tặc ngày càng gia tăng.
Thứ năm, đẩy mạnh công tác cải cách hành chính; thực hiện nghiêm kỷ cương, kỷ luật lao động trong cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị sự nghiệp. Thực hiện có hiệu quả các chính sách an sinh xã hội và Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, Chương trình xây dựng nông thôn mới. Tiếp tục thực hiện các chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với các nhóm đối tượng xã hội bị ảnh hưởng dịch Covid-19; duy trì các phương án chuẩn bị nguồn lực, chủ động đối phó với dịch bệnh trong trường hợp dịch Covid-19 tái bùng phát./.

Gửi bởi    

HỆ THỐNG TÊN MIỀN MẠNG GSO
MÁY CHỦ TÊN MIỀN .GSO:
Chính:       10.0.1.1
Dự phòng: 10.0.1.2
  • Góc người dùng
Tên đăng nhập:
Mật khẩu:



Bạn đang dùng -

IP:3.92.74.105

Thống kê

Lượt truy cập  12978
Đang trực tuyến   21