MyLabel

BÁO CÁO KẾT QUẢ KHẢO SÁT ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA DỊCH COVID-19 ĐẾN HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT, KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

6/5/2020
Phần I. BỐI CẢNH KINH TẾ CHUNG
Kinh tế - xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế những tháng đầu năm 2020 diễn ra trong bối cảnh tình hình dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona (Covid-19) bùng phát mạnh trên toàn cầu đã tác động tiêu cực và làm cho kinh tế toàn cầu suy giảm. Một số nền kinh tế lớn như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Châu Âu đang chứng kiến tình trạng suy giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế do tập trung nguồn lực để đối phó với công tác phòng, chống dịch bệnh Covid-19 đang tiếp tục có những diễn biến phức tạp và ngày càng nghiêm trọng; giá dầu thô liên tục giảm mạnh; căng thẳng chính trị gia tăng giữa Mỹ và Iran. Việc đánh giá cụ thể các tác động của dịch Covid-19 gây ra không dễ dàng khi chưa thể xác định rõ thời gian kéo dài của dịch bệnh. Trong nước, để khống chế dịch Covid-19 lây lan ra cộng đồng, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị 16/CT-TTg nhằm phòng chống dịch, tuy nhiên do xã hội phải tiến hành giãn cách nên các cơ sở kinh doanh các mặt hàng không thiết yếu phải đóng cửa, doanh nghiệp (DN) sản xuất phải đảm bảo khoảng cách an toàn do đó khối lượng hàng hóa sản xuất cũng như tiêu thụ giảm sút mạnh đã ảnh hưởng lớn đến tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) của doanh nghiệp.
Trên địa bàn tỉnh, theo kết quả rà soát tại thời điểm 1/1/2020 hiện có 4.068 DN đang hoạt động, trong đó: doanh nghiệp nhà nước (DNNN) 23 DN, chiếm 0,57%; doanh nghiệp ngoài nhà nước (DN ngoài NN) 4.002 DN, chiếm 98,38% và doanh nghiệp có vốn đầu tư ngước ngoài (DN FDI) 43 DN, chiếm 1,06%. DN trên địa bàn tỉnh đa số là DN nhỏ và siêu nhỏ 2 nhóm này chiếm hơn 94,54% tổng số, trong khi đó 2 nhóm còn lại tuy chiếm tỷ trọng thấp chỉ 5,46% nhưng đóng góp phần lớn (chiếm 76% giá trị sản xuất khu vực DN) và quyết định đến tăng trưởng đối với khu vực này. Cũng như các khu vực kinh tế khác thì khu vực DN của tỉnh nói chung, cả nước nói riêng những tháng đầu năm 2020 bị chịu tác động nặng nề do (Covid – 19) gây ra. Dịch làm đứt gãy chuỗi cung ứng hàng hoá và dịch vụ, thiếu hụt nguyên liệu sản xuất, sản phẩm tiêu dùng và làm cho tổng cầu của nền kinh tế giảm mạnh. Nhiều DN phải áp dụng các biện pháp như cắt giảm nhân công; giảm chi tiêu thường xuyên;…, một số DN không có khả năng tài chính, không có đơn hàng hoặc không có nguồn nguyên liệu thay thế phải tạm ngừng hoạt động và có nguy cơ phá sản nếu tình hình dịch kéo dài. Trong 4 tháng đầu năm 2020, số lượng DN trên địa bàn tỉnh đã phải tạm ngưng và giải thể là 244  DN, tăng 20% so với cùng kỳ năm ngoái.
Trước tình hình đó, Chính phủ đã kịp thời chỉ đạo quyết liệt các bộ, ngành, địa phương thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp vừa phòng chống dịch bệnh, bảo đảm sức khỏe người dân, vừa chống suy giảm kinh tế và giữ vững ổn định xã hội, nỗ lực phấn đấu cao nhất thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2020. Ngày 4/3/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 11/CT-TTg về các nhiệm vụ, giải pháp cấp bách tháo gỡ khó khăn cho SXKD, bảo đảm an sinh xã hội ứng phó với dịch Covid-19 (sau đây viết gọn là Chỉ thị số 11/CT-TTg).
Phần II. THÔNG TIN CHUNG VỀ CUỘC KHẢO SÁT
Đồng hành với Chính phủ trong việc phòng chống dịch Covid, ngành Thống kê đã lồng ghép trong cuộc điều tra DN năm 2020 để tiến hành khảo sát nhanh DN trên toàn quốc nhằm thu thập thông tin về tác động của dịch Covid-19 đến hoạt động SXKD cũng như đánh giá của cộng đồng DN về mức độ phù hợp các giải pháp được đưa ra trong Chỉ thị số 11/CT-TTg đối với DN trên cả nước. Thông tin do DN cung cấp từ cuộc khảo sát sẽ giúp Chính phủ, các Bộ, ngành và địa phương đánh giá đầy đủ về tác động của dịch Covid-19 đến hoạt động SXKD của DN cũng như dự báo những khó khăn DN phải đối mặt nếu dịch Covid-19 tiếp tục kéo dài. Từ đó, Chính phủ, các Bộ, ngành và địa phương có thêm căn cứ để tiếp tục đưa ra các chính sách, giải pháp phù hợp, kịp thời hỗ trợ DN tháo gỡ khó khăn, ổn định và phát triển SXKD.
Cuộc khảo sát được thực hiện từ ngày 10/4/2020 đến ngày 20/4/2020 bằng hình thức trực tuyến, sử dụng bảng hỏi điện tử trên hệ thống Điều tra DN năm 2020 của Tổng cục Thống kê. Đối tượng khảo sát là các DN trên phạm vi cả nước, hoạt động trong tất cả các ngành kinh tế. 
Đối với tỉnh Thừa Thiên Huế ngay sau khi nhận được công văn số 475/TCTK – TKCN về việc điều tra bổ sung phiếu số 3 đánh giá tác động của dịch Covid-19 đến hoạt động SXKD của DN, Tổ thường trực điều tra DN tỉnh hướng dẫn các Chi cục huyện, thị xã, các phòng nghiệp vụ văn phòng Cục yêu cầu điều tra viên gửi bổ sung nội dung phiếu số 3 và thư cám ơn của Tổng cục trưởng Tổng Cục Thống kê đến các DN để điền phiếu khảo sát ảnh hưởng Covid theo thời gian đã quy định.
Sau 10 ngày tiến hành khảo sát (từ ngày 10/4/2020 đến ngày 20/4/2020) trên địa bàn tỉnh có 1.027 DN tham gia trả lời, chiếm 25% tổng số DN đang hoạt động có kết quả SXKD ở thời điểm hiện tại (số lượng DN toàn quốc tham gia trả lời phiếu khảo sát Covid là 20%). Chỉ trong thời gian ngắn triển khai khảo sát trực tuyến đặc biệt là trong điều kiện xã hội phải tiến hành giãn cách, tỷ lệ DN tham gia trả lời với số lượng khá lớn so với kỳ vọng của ngành, điều đó chứng tỏ cuộc khảo sát này thực sự mang tính cấp thiết và DN nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của cuộc khảo sát nên đã tích cực phối hợp với ngành Thống kê thực hiện thành công cuộc khảo sát.
Phần III. KẾT QUẢ KHẢO SÁT
I. THỰC TRẠNG KHU VỰC DOANH NGHIỆP DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA DỊCH COVID-19
Kết quả khảo sát cho thấy, có tới 92,4% DN được hỏi cho rằng đang phải chịu tác động tiêu cực của dịch Covid-19. Xét theo quy mô DN thì nhóm DN nhỏ và DN vừa là 2 nhóm chịu tác động mạnh nhất lần lượt là 95,84% và 95,45%; tỷ lệ này của nhóm DN lớn là 90,32% và nhóm DN siêu nhỏ là 90,18%. 
Theo loại hình DN, thì 100% DNNN trả lời chịu tác động của dịch Covid-19; tỷ lệ này đối với nhóm DN ngoài NN và DN FDI lần lượt là 92,11% và 93,94%. 
Theo khu vực kinh tế, tại thời điểm hiện nay thì khu vực công nghiệp và xây dựng và khu vực dịch vụ đang chịu nhiều tác động nhất từ dịch Covid-19 với tỷ lệ DN bị tác động lần lượt là 94,71% và 91,52%; trong khi khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chịu ảnh hưởng ít hơn với 79,17% (Quy mô của các DN khu vực này chỉ chiếm tỷ lệ rất thấp trong toàn bộ DN).
Đáng chú ý, một số ngành kinh tế đầu tàu của tỉnh có tỷ lệ DN chịu tác động tiêu cực của dịch Covid-19 cao, điển hình như: dịch vụ lưu trú và ăn uống 98,45%; Công nghiệp chế biến, chế tạo 97,48%; hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ (trong đó có hoạt động của các đại lý du lịch và đại lý vé máy bay) 95,7%; Vận tải kho bãi 93,24%; giáo dục và đào tạo 90,48%.
1. Những khó khăn và gánh nặng của doanh nghiệp 
Dịch Covid-19 xảy ra trong thời gian dài, trên diện rộng và chưa có dấu hiệu chấm dứt, kéo theo hàng loạt những vấn đề mà DN trên địa bàn tỉnh đang phải đối mặt, cụ thể: 
1.1. Thị trường tiêu thụ bị thu hẹp
Thị trường tiêu thụ hàng hóa bị thu hẹp là hệ quả tất yếu khi đại dịch bùng phát, người dân trong tỉnh nói riêng, cả nước nói chung và các nước thuộc thị trường xuất khẩu truyền thống của tỉnh như Mỹ, Trung Quốc, EU, Nhật Bản… phải thực hiện giãn cách xã hội, lao động mất việc làm, thu nhập giảm sút nên nhu cầu tiêu thụ giảm mạnh. Có tới 42,15% số DN bị ảnh hưởng cho rằng thị trường tiêu thụ bị giảm mạnh. 
Theo quy mô DN: có 46,77% DN có quy mô lớn và 52,27% DN có quy mô vừa là các nhóm chịu nhiều ảnh hưởng nhất do thị trường tiêu thụ bị thu hẹp vì 2 nhóm DN này có mức độ hội nhập sâu hơn các nhóm DN còn lại. DN không chỉ chịu ảnh hưởng nhiều bởi thị trường tiêu thụ trong nước bị thu hẹp mà còn do hàng hóa sản xuất ra không xuất khẩu được. Trong số các DN có hoạt động xuất khẩu, tỷ lệ DN không xuất khẩu được hàng hóa chiếm 96,77,9% và 90,91% cho nhóm DN có quy mô lớn và quy mô vừa; tỷ lệ này ở nhóm DN quy mô nhỏ và siêu nhỏ thấp hơn với 90,03% và 70,89%.
Theo loại hình DN: có 42,42% dn FDI chịu tác động từ thị trường tiêu thụ và có đến 48,48% DN có hoạt động xuất khẩu không xuất khẩu được hàng hóa.
Theo ngành kinh tế: Một số ngành công nghiệp trọng điểm của tỉnh đang phải đối mặt với những khó khăn khi hầu hết là các DN lớn phụ thuộc nhiều vào thị trường xuất khẩu, trong đó phải kể đến: DN xuất khẩu ngành dệt và sản xuất trang phục, tỷ lệ DN không xuất khẩu được hàng hóa lần lượt là 85,71% và 83,33%. Tiếp theo, ngành sản xuất chế biến gỗ và sản xuất sản phầm từ gỗ cũng gặp khó khăn khi DN không xuất khẩu được hàng hóa chiếm tỷ lệ cao, trên 80%.
1.2. Thị trường cung cấp nguyên liệu đầu vào bị thiếu hụt
Mặc dù DN ở địa phương luôn chủ động nguyên vật liệu để hoạt động sản xuất kinh doanh không bị gián đoạn, tuy nhiên do dịch Covid-19 kéo dài, nguyên vật liệu đầu vào của DN không còn đủ đáp ứng nhu cầu sản xuất. Đặc biệt là những nguyên vật liệu nhập khẩu vì thị trường nhập khẩu nguyên liệu của các doanh nghiêp trên địa bàn tỉnh từ các nước như: Trung Quốc, Đài Loan, Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản,…đều là các nước đang phải hứng chịu hậu quả nặng nề từ dịch. Hơn 62,16% DN có hoạt động nhập khẩu nguyên liệu trả lời thiếu hụt nguồn nguyên liệu từ nhập khẩu.
DN quy mô lớn là đối tượng gặp nhiều khó khăn nhất trong tiếp cận nguồn nguyên liệu đầu vào chủ yếu đến từ nguồn nguyên liệu nhập khẩu, tỷ lệ DN  thiếu hụt lên tới 83,87%. 
Theo loại hình DN, thì tỷ lệ thiếu hụt khu vực DN ngoài NN lớn nhất gần 63,34%, trong đó các DN thuộc ngành sản xuất trang phục tỷ lệ thiếu hụt hầu như hoàn toàn.
1.3. Thiếu hụt nguồn vốn cho sản xuất kinh doanh
Có tới 46,05% số DN khảo sát đang bị thiếu hụt nguồn vốn cho SXKD, đây là một trong những khó khăn hàng đầu của DN  hiện nay và cũng là tình trạng chung của toàn bộ khu vực DN. Theo loại hình DN , khu vực DNFDI có tỷ lệ thiếu hụt nguồn vốn cho SXKD cao nhất với 48,48%. Theo ngành kinh tế, khu vực DN công nghiệp và xây dựng có tỷ lệ thiếu hụt vốn cao nhất với 57,82% số DN. Khu vực DN nông lâm nghiệp và thủy sản có tỷ lệ thiếu hụt vốn là 36,84%, tỷ lệ này ở khu vực dịch vụ là 38,99%.
1.4. Những gánh nặng của doanh nghiệp do tác động của dịch Covid-19
Dịch Covid-19 làm hoạt động SXKD bị gián đoạn, các DN chịu áp lực từ các khoản chi phí rất lớn để duy trì hoạt động của DN như: chi phí thuê mặt bằng, chi trả lãi vay ngân hàng, trả công cho lao động, chi phí thường xuyên khác,…
Theo thang điểm từ 1 đến 5, trong đó: 1 là gánh nặng lớn nhất, 5 là gánh nặng nhỏ nhất, các DN  đánh giá mức độ từng loại chi phí DN đang phải đối mặt như sau:
Xếp hạng theo điểm trung bình của toàn bộ khu vực DN, chi trả công lao động được đánh giá là gánh nặng lớn nhất đối với DN thời điểm hiện nay, với điểm số trung bình là 1,91; chi trả lãi vay ngân hàng 2,38 điểm; chi phí thuê mặt bằng 2,7điểm; chi phí hoạt động thường xuyên khác 2,73 điểm; chi phí 3,85 điểm.
Xếp theo tỷ lệ DN chọn loại chi phí là gánh nặng lớn nhất, thì khoản chi trả công lao động được nhiều DN chọn nhất, chiếm tới 40,52%, chi trả lãi vay ngân hàng và chi thuê mặt bằng, với tỷ lệ lựa chọn lần lượt là 31,54% và 26,44%, chi cho hoạt động thường xuyên khác 14,91% và chi khác là 12,89%.
2. Các giải pháp doanh nghiệp áp dụng để ứng phó với dịch COVID-19 
Để ứng phó với tác động của dịch Covid-19, các DN đã phải áp dụng nhiều giải pháp như: điều chỉnh nguồn nhân lực, cắt giảm chi phí hoạt động SXKD, thay đổi phương thức cũng như chiến lược SXKD,... Nhìn chung, có những giải pháp tác động tích cực đến hoạt động SXKD của DN nhưng bên cạnh đó cũng có những giải pháp tiêu cực nhưng DN buộc phải áp dụng để duy trì sự tồn tại trong thời kỳ dịch bệnh này.
2.1. Những giải pháp doanh nghiệp buộc phải áp dụng 
Về những giải pháp tiêu cực, nhiều DN đã phải áp dụng các giải pháp tạm thời như: Cắt giảm lao động, cho lao động nghỉ việc không lương, giãn việc/nghỉ luân phiên; giảm lương lao động, thu hẹp quy mô SXKD hoặc tạm ngừng hoạt động. Do tác động của dịch Covid, có tới 76,08% số DN phải áp dụng các giải pháp liên quan đến lao động. Giải pháp cho lao động giãn việc/nghỉ luân phiên có 39,62% DN lựa chọn, cao nhất trong các giải pháp về lao động; có 33,3% DN áp dụng giải pháp cắt giảm lao động; 31,51% DN cho lao động nghỉ không lương và 20,86% DN giảm lương lao động. 
Theo quy mô, DN có quy mô nhỏ có tỷ lệ áp dụng các giải pháp về lao động nhiều nhất, lên tới 84,4%, trong khi tỷ lệ này ở nhóm DN quy mô lớn là 73,2%, quy mô vừa 71,43%; quy mô siêu nhỏ là thấp nhất với 71,08%. Cho lao động giãn việc/nghỉ luân phiên là giải pháp được DN ở tất cả các nhóm ưu tiên lựa chọn, trong đó các DN  quy mô vừa và lớn áp dụng giải pháp này lên tới trên 53,0%. Tiếp theo là giải pháp cắt giảm lao động được các DN quy mô nhỏ và siêu nhỏ áp dụng nhiều nhất so với các nhóm DN còn lại, lần lượt là 38,73% và 30,89%. Giải pháp cho lao động nghỉ không lương và giảm lương cũng được một bộ phận DN áp dụng và tỷ lệ áp dụng giữa các nhóm DN chênh lệch không nhiều. 
Theo loại hình DN, khu vực DNNN có tỷ lệ áp dụng nhiều nhất các giải pháp về lao động, chiếm 83,87%, tỷ lệ DN áp dụng các giải pháp về lao động của khu vực DN ngoài NN là 75,76%, khu vực DNFDI là 77,42%. 
Nền kinh tế bị đình trệ kéo theo nhu cầu về lao động của các DN sụt giảm đã dẫn đến tình trạng cắt giảm lao động ở tất cả các khu vực DN. Tỷ lệ DN cho lao động nghỉ việc nhiều nhất là khối DN ngoài NN với tỷ lệ lên tới 33,37%; khu vực DNNN và khu vực DNFDI với 32,26%. 
Theo khu vực kinh tế, khu vực CNXD có tỷ lệ DN áp dụng giải pháp cắt giảm lao động và cho lao động giãn việc/nghỉ luân phiên cao nhất, với tỷ lệ lần lượt là 37,15% và 46,93%; khu vực DV  và  khu vực NLTS có tỷ lệ DN áp dụng hai giải pháp trên lần lượt là 30,77%, 35,49% và 36,84%, 26,32%. 
2.2. Những giải pháp tích cực doanh nghiệp đã áp dụng
Các giải pháp tích cực được DN thực hiện chủ yếu bao gồm: đẩy mạnh hoạt động thương mại điện tử, chuyển đổi mặt hàng sản phẩm chủ lực, tích cực tìm kiếm thị trường mới cho nguyên liệu đầu vào cũng như thị trường tiêu thụ sản phẩm đầu  ra ngoài thị trường truyền thống. Bên cạnh đó, cũng có một bộ phận DN tận dụng thời điểm này để tổ chức đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề cho người lao động.
Giải pháp đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề cho người lao động thời điểm hiện tại được nhiều DN trên địa bàn tỉnh áp dụng, với tỷ lệ cao nhất 40,57%; các giải pháp còn lại tuy được các DN áp dụng nhưng mà tỷ lệ không cao, lần lượt: DN  tìm thị trường tiêu thu sản phẩm đầu ra ngoài thị trường truyền thống 8,54%; tìm thị trường cho nguyên vật liệu đầu vào 4,64%; chuyển đổi sản xuất phẩm chủ lực và giải pháp khác là 3,27%; đẩy mạnh thương mại điện từ 3,06%.
Theo quy mô: Các DN  có quy mô lớn thường có thị trường đa dạng và tiềm lực kinh tế vững chắc hơn so với nhóm DN có quy mô nhỏ, vì vậy tỷ lệ DN lớn áp dụng 5 giải pháp trên đều cao hơn so với nhóm DN có quy mô nhỏ hơn, tỷ lệ này giảm dần theo quy mô của DN. Theo loại hình DN: bình quân khối DNNN và DNFDI áp dụng 5 giải pháp có tỷ lệ cao hơn so với khu vực DN ngoài NN. 
Đối mặt với thách thức và thiệt hại do dịch Covid-19 kéo dài, DN buộc thay đổi từng ngày để thích nghi với tình thế hiện tại, dự kiến trong thời gian tới, DN sẽ triển khai áp dụng nhiều nhất hai giải pháp: Tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm đầu ra ngoài thị trường truyền thống và đẩy mạnh thương mại điện tử. Không chỉ được áp dụng để đối phó với tình thế trước mắt mà thương mại điện tử được đánh giá là xu thế không thể thiếu trong hoạt động của DN trên toàn thế giới trong tương lai. 
3. Tác động của dịch Covid-19 tới kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và nguồn nhân lực
3.1. Tác động của dịch Covid-19 tới kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp  
Theo kết quả khảo sát, trong số những DN chịu tác động tiêu cực bởi dịch Covid-19 nếu dịch kéo dài đến hết quý II, dự kiến có khoảng 36,99% DN phải tạm ngừng hoạt động hoặc phá sản; nếu dịch kéo dài đến hết quý III, số lượng DN phải tạm ngừng hoạt động tăng lên 37,93%; đến hết quý IV tăng lên 43,52%.
Những khó khăn DN phải đối mặt đã ảnh hưởng lớn đến kết quả SXKD của DN. Doanh thu quý I/2020 của toàn bộ khu vực DN giảm mạnh xuống còn 68,08% so với cùng kỳ năm trước và ước tính 4 tháng đầu năm 2020, doanh thu sẽ tiếp tục giảm xuống chỉ bằng 65,67% so với cùng kỳ.
Theo quy mô DN, nhóm DN quy mô siêu nhỏ và DN lớn là hai nhóm có sự sụt giảm doanh thu mạnh nhất. Dự kiến doanh thu quý I/2020 so với cùng kỳ năm trước của hai nhóm DN này chỉ đạt 45,96% và 46,34%.
  Phân theo ngành kinh tế, dự kiến 4 tháng đầu năm 2020 thì doanh thu của DN  hoạt động trong các ngành sau sẽ giảm mạnh, cụ thể: ngành sản xuất da và các sản phẩm liên quan chỉ bằng 16,59% so với cùng kỳ năm trước; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic: 23,93%; đại lý du lịch chỉ bằng 48,13%; tỷ lệ này ở các ngành:giáo dục và đào tạo: 32,84%; lưu trú: 55,02%, ăn uống: 46,44% và nghệ thuật vui chơi và giải trí: 40,59%.
3.2. Tác động của dịch Covid-19 tới nguồn nhân lực trong doanh nghiệp 
Doanh nghiệp rơi vào tình trạng khó khăn, vì thế nhu cầu về lao động của khu vực DN  cũng sụt giảm, ảnh hưởng lớn tới thị trường lao động. Qua số liệu khảo sát, do ảnh hưởng của dịch Covid-19 tính đến hết quý I/2020, có 10,99% lao động phải tạm nghỉ việc không lương; 16,71% lao động bị giảm lương và 33,69% lao động bị giãn việc/nghỉ luân phiên. 
Theo quy mô DN, lao động bình quân quý I/ 2020 so với cùng kỳ năm trước của nhóm DN có quy mô siêu nhỏ, nhỏ và vừa bị tác động bởi dịch chỉ đạt mức 65,48% và 62,53%, do đây là nhóm có tỷ lệ DN tạm ngừng hoạt động và tỷ lệ DN không thể tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh ở mức cao hơn so với nhóm DN có quy mô lớn. Dự báo sẽ tiếp tục giảm trong tháng 4, khi đó tỷ lệ lao động bình quân 4 tháng đầu năm 2020 chỉ bằng 63,1% và 59,8% so với cùng kỳ năm trước. Lao động của nhóm DN quy mô lớn bình quân quý I chỉ bằng 82,21% so với cùng kỳ năm trước, ước tính bình quân 4 tháng đầu năm 2020 lao động sẽ giảm xuống chỉ bằng 81,56% so với 4 tháng đầu năm 2019. Lực lượng lao động của nhóm DN quy mô nhỏ và siêu nhỏ bị ảnh hưởng nhiều nhất, khi có tới 22,82% và 20,11% lao động tạm thời phải nghỉ việc không lương; 14,59% và 13,74% lao động bị giảm lương. Các DN quy mô vừa cũng có 14,73% lao động phải nghỉ không lương và 12,9% giảm lương. Xu hướng này ở các DN quy mô lớn được cải thiện hơn, chỉ có 7,09% lao động phải nghỉ không lương, tuy nhiên lao động bị giảm lương lại có tỷ lệ cao 18,25%. 
Theo loại hình DN: khu vực DN ngoài NN có tỷ lệ lao động nghỉ việc làm không lương nhiều nhất là 11,63%; trong khi đó DNNN chỉ là 3,91% và khu vực DNFDI là 5,12%. Lao động làm việc trong các DNFDI có mức lương ổn định nhất so với các khu vực DN còn lại, chỉ 0,9% DNFDI áp dụng giải pháp giảm lương; trong khi tỷ lệ DN giảm lương ở khu vực DNNN lần lượt là 11,24%; khu vực DN ngoài NN là 17,72%.
II. KỲ VỌNG CỦA DOANH NGHIỆP VỀ CÁC GIẢI PHÁP HỖ TRỢ CỦA CHÍNH PHỦ
1. Giải pháp hỗ trợ của Chính phủ trong Chỉ thị số 11/CT-TTg đáp ứng được kỳ vọng của doanh nghiệp  
Đồng hành với DN nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắt Chính phủ đã đưa ra hàng loạt những giải pháp cấp bách hỗ trợ DN, gần đây nhất là Chỉ thị số 11/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ được ban hành ngày 04/3/2020. 
Kết quả đánh giá của các DN về mức độ phù hợp của 9 nhóm giải pháp được đưa ra trong Chỉ thị 11/CT-TTg như sau: 
Hầu hết các nhóm giải pháp trong Chỉ thị số 11/CT-TTg đều được DN  đánh giá tương đối phù hợp, với điểm trung bình dao động trong khoảng từ 1,5 đến 1,98 điểm (theo thang điểm từ 1 đến 5, trong đó 1 là rất phù hợp và 5 là không phù hợp) với tỷ lệ DN đánh giá là phù hợp ở mức khá cao, từ 68,7% đến 86,09%. Trong đó, giải pháp được cộng đồng DN mong chờ nhất là gia hạn nộp thuế và tiền thuê đất, với 86,09%; trong khi giải pháp “Không điều chỉnh tăng giá trong quý I và quý II năm 2020 đối với các mặt hàng là đầu vào cho sản xuất do nhà nước kiểm soát giá” và giải pháp “Miễn, giãn, giảm lãi suất vay, phí ngân hàng” cũng được nhiều DN ủng hộ, với 83,35% và 84,51% DN đánh giá tích cực. Giải pháp về “Cơ cấu lại thời hạn trả nợ và các khoản nợ” cũng được đánh giá khá cao, với 82,4% DN đánh giá tích cực; Giải pháp “Cải cách thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian xét duyệt hồ sơ vay vốn” và “Tạm dừng đóng BHXH và kinh phí công đoàn” 2 nhóm này đạt hơn 79% DN ủng hộ. Các giải pháp còn lại đạt số điểm và tỷ lệ đánh giá tích cực lần lượt như sau: “Miễn, giảm phí dịch vụ thanh toán điện tử” 77,66%, “Giảm thủ tục hành chính và chi phí logistics” 72,71%, “Đa dạng hóa thị trường xuất nhập khẩu và tìm thị trường mới” 68,7%.
2. Quá trình triển khai thực hiện, các giải pháp tháo gỡ khó khăn của Chỉ thị số 11/CT-TTg tới cộng đồng DN  trên địa bàn tỉnh
Mặc dù các giải pháp hỗ trợ của Chỉ thị số 11/CT-TTg được đánh giá là rất phù hợp với kỳ vọng của cộng đồng DN ở địa phương, tuy nhiên đây chỉ được coi là đánh giá mang tính cảm nhận về chính sách, quy trình triển khai, đưa các giải pháp tới DN vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, hạn chế, cụ thể:
- Chỉ có 3,27% DN đã được tiếp nhận chính sách hỗ trợ;
- Có 18,02% DN đã biết tới Chỉ thị số 11/CT-TTg và đã được hướng dẫn nhưng chưa tiến hành thực hiện;
- Có 66,28% DN đã biết tới Chỉ thị số 11/CT-TTg nhưng chưa biết đầu mối để tiếp cận chính sách;
- Có 12,43% DN chưa biết tới Chỉ thị số 11/CT-TTg.
Theo quy mô DN, DN có quy mô lớn có tỷ lệ đã được tiếp nhận chính sách hỗ trợ theo Chỉ thị số 11/CT-TTg đạt tỷ lệ cao nhất với 14,29%, trong khi DN quy mô mô vừa chưa có DN nào nhận được hỗ trợ; DN nhỏ và siêu nhỏ đạt tỷ lệ lần lượt là 3,76% và 1,98%. 
Tỷ lệ DN dù đã biết tới Chỉ thị số 11/CT-TTg nhưng có tới 66,28% DN trả lời chưa biết đầu mối để tiếp cận chính sách; có 18,02% DN đã biết tới Chỉ thị và đã được hướng dẫn nhưng vẫn chưa tiến hành thực hiện cho thấy việc triển khai trong thực tế của Chỉ thị số 11/CT-TTg còn nhiều tồn tại nhiều bất cập. Chính vì vậy, trong thời gian tới tỉnh cần phải đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền để làm sao chỉ thị này sớm được phổ biến đến tất cả các DN, qua đó giúp DN hiểu và tiếp cận các chính sách hỗ trợ từ Chính phủ một cách thuận tiện và kịp thời.
Qua kết quả khảo sát thấy rằng mức độ kỳ vọng của DN trên địa bàn tỉnh về các giải pháp của Chính phủ là rất lớn, trong đó DN kỳ vọng lớn nhất chính phủ sẽ miễn giảm thuế, tiền thuê đất với tỷ lệ 90,09%; giải pháp miễn, giảm lãi suất đối với các khoản tín dụng trước đây, giải pháp tạm dừng hoạt động thanh tra, kiểm tra và cải cách quy trình, thủ tục để DN tiếp cận các chính sách hỗ trợ đơn giản, thuận tiện tỷ lệ DN kỳ vọng 88,94%, 85,77% và 86,93%; trong khi đó các nhóm giải pháp còn lại cũng được DN kỳ vọng khá cao, lần lượt như sau: cắt giảm một số loại thuế, phí, lệ phí cơ sở hạ tầng: phí lưu thông, phí cầu đường 84,72%, miễn, giảm giá thuê mặt bằng sản xuất 83,88%, thúc đẩy nhanh việc tìm thị trường nguyên liệu/thị trường tiêu thụ mới cho DN 79,56%.
Phần IV. KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP VƯỢT QUA KHÓ KHĂN, ỔN ĐỊNH VÀ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT
Trên cơ sở những ý kiến mà DN đã đóng góp vào cuộc khảo sát, kết hợp với quá trình nắm bắt theo dõi thực trạng của DN trên địa bàn tỉnh, Cục Thống kê Thừa Thiên Huế kiến nghị một số giải pháp như sau:
1. Đề xuất với Chính quyền địa phương
- Bám sát sự chỉ đạo của Chính phủ, các bộ ngành trong việc phòng chống dịch Covid- 19 để có những chủ trương, chính sách ứng phó đối với từng lĩnh vực từng thời điểm cụ thể cho địa phương.
- Tiến hành rà soát và phân loại từng DN, từng lĩnh vực, ngành nghề để từ đó đánh giá được mức độ ảnh hưởng do dịch Covid- 19 gây ra nhằm giúp chính phủ có những chính sách hỗ trợ kịp thời giúp DN sớm vượt qua khó khăn, ổn định sản xuất.
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền  nhằm giúp cộng đồng DN tỉnh biết được các chính sách hỗ trợ của chính phủ, đồng thời cải cách quy trình, thủ tục để DN  tiếp cận các chính sách hỗ trợ đơn giản, thuận tiện, kip thời
- Các cơ quan nhà nước địa phương cần thực hiện nhanh, có hiệu quả việc rà soát, cắt giảm thủ tục hành chính, chi phí cho DN, tạo thuận lợi tối đa cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh và cũng nhằm thúc đẩy hoạt động xuất – nhập khẩu.
2. Đề xuất đối với doanh nghiệp
- Cần phải liên tục cập nhật, nắm bắt các chính sách hỗ trợ của chính phủ, chính quyền địa phương để nhận được sự hỗ trợ kịp thời, sớm ổn định để đưa DN mình đi vào hoạt động trở lại.
- Đối với các DN trên địa bàn tỉnh có nguồn nguyên liệu nhập khẩu và hàng hóa xuất khẩu cần nhanh chóng xác định các mặt hàng nguyên vật liệu bị thiếu hụt từ nhập khẩu và các mặt hàng DN sản xuất ra nhưng không thể tiến hành xuất khẩu. Trên cở sở đó tiếp cận, đánh giá các thị trường xuất nhập hiện có, đề xuất và tận dụng những thị trường truyền thống có thể chuyển hướng đẩy mạnh xuất nhập khẩu; tìm kiếm thông tin về các nhà cung cấp về những mặt hàng thị trường trong nước đang bị thiếu hụt; tiếp cận các thị trường mới, ngoài thị trường xuất, nhập khẩu truyền thống;
- Linh hoạt chuyển đổi mô hình sản xuất kinh doanh hiệu quả trong giai đoạn dịch bệnh như hiện nay. Chủ động đổi mới tư duy kinh doanh, nâng cao năng lực quản trị, năng suất, chất lượng, khả năng cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ; chuẩn hóa sản xuất kinh doanh để đáp ứng các yêu cầu, tiêu chí của các thị trường nội địa và quốc tế.
- Thị trường thương mại điện tử là xu hướng chung của toàn cầu trong tương lai. Hiện tại ở tỉnh thì thị trường này vẫn chưa được DN quan tâm phát triển mạnh, đặc biệt là các DN thuộc nhóm nhỏ và siêu nhỏ. Vì thế trong thời gian tới, các DN cần đầu tư, nghiên cứu nhằm góp phần thúc đẩy tiêu thụ hàng hóa của DN ở thị trường này ngoài các thị trường truyền thống trước đây.


Gửi bởi    

HỆ THỐNG TÊN MIỀN MẠNG GSO
MÁY CHỦ TÊN MIỀN .GSO:
Chính:       10.0.1.1
Dự phòng: 10.0.1.2
  • Góc người dùng
Tên đăng nhập:
Mật khẩu:



Bạn đang dùng -

IP:3.92.74.105

Thống kê

Lượt truy cập  12981
Đang trực tuyến   24