MyLabel

Tình hình kinh tế xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế Tháng 8 năm 2020

8/29/2020
                                                           TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI 
                                                                  THÁNG 8 NĂM 2020

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
Sản xuất nông nghiệp 8 tháng đầu năm khá thuận lợi, tình hình sâu bệnh gây hại trên cây lúa xảy ra nhưng mức độ thấp; lúa hè thu được mùa, dự ước năng suất đạt 59,3 tạ/ha, tăng 2,3 tạ/ha so vụ hè thu năm trước; sản lượng đạt 150.167 tấn, tăng 3,4%. Dịch bệnh ở đàn gia súc, gia cầm không xảy ra; dịch tả lợn Châu Phi được kiểm soát tốt, đàn lợn đã dần phục hồi, tổng đàn lợn đến nay ước đạt 117.465 con, tăng 1,6% so cùng kỳ năm trước. Sản xuất lâm nghiệp trong tháng ổn định, công tác phòng cháy rừng được tăng cường do đang trong mùa cao điểm nắng nóng. Sản xuất thủy sản tiếp tục phát triển, sản lượng nuôi trồng và đánh bắt tăng 4,4% so 8 tháng đầu năm 2019.
a. Sản xuất nông nghiệp
Diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ hè thu năm 2020 đạt 31.561 ha, giảm 2,7% so cùng kỳ năm trước, giảm chủ yếu diện tích cây sắn do dịch bệnh khảm lá sắn. Riêng cây lúa ước đạt 25.315 ha, giảm 0,7% so cùng kỳ. Các địa phương tập trung các giống lúa có ưu thế về thời gian sinh trưởng ngắn như PC6, TH5,... được bố trí gieo trên các diện tích gieo cấy muộn, vùng đất thấp trũng để thu hoạch sớm trước ngày 02/9/2020. Các địa phương tiếp tục mở rộng diện tích gieo cấy giống lúa chất lượng cao, ước đạt 6.125 ha, chiếm 24,2% tổng diện tích lúa hè thu 2020.
Đối với cây hàng năm chủ yếu khác vụ hè thu năm 2020 như cây ngô đạt 410 ha, bằng 85,3% so vụ hè thu năm trước; cây khoai lang 698 ha, bằng 91,4%; cây sắn 2.554 ha, bằng 80,3%; cây chất bột khác 44 ha, bằng cùng kỳ; cây lạc 279 ha, bằng 118,1%; rau các loại 1.315 ha, bằng 100,2%; đậu các loại 540 ha,  bằng 99,3%; cây ớt cay 26 ha, bằng 96,3%. 
Tình hình sâu bệnh cây lúa vụ hè thu năm 2020 trên diện tích khoảng 3.750 ha, các đối tượng gây bệnh chủ yếu gồm bệnh khô vằn 1.500 ha; sâu cuốn lá nhỏ 1.300 ha; chuột 450 ha; nhện gié 300 ha; rầy nâu 200 ha;… tuy nhiên mức độ gây hại nhỏ, tỷ lệ thấp. Ngành chức năng phối hợp với chính quyền địa phương tăng cường kiểm tra, theo dõi diễn biến của sâu bệnh, tùy vào từng vùng, địa phương cụ thể để có biện pháp xử lý kịp thời, giảm thiểu thiệt hại do sâu bệnh gây ra. 
Sản xuất nông nghiệp vụ hè thu năm nay điều kiện thời tiết khá thuận lợi, đó là do lượng mưa đạt khá, trên diện rộng, các hồ chứa nước tích đủ nước tưới cho cây lúa sinh trưởng và phát triển tốt. Kết quả thăm đồng ước tính  năng suất lúa hè thu năm 2020 đạt khá cao, ước đạt 59,3 tạ/ha, tăng 2,3 tạ/ha, tăng 4,1% so  vụ hè thu năm trước; sản lượng đạt 150.167 tấn, tăng 3,4%, đây là năm lúa hè thu dự kiến được mùa, hầu hết các địa phương trong tỉnh năng suất đều tăng so với cùng kỳ. Năng suất lúa hè thu ước năm 2020 so với chính thức vụ hè thu năm 2019 của các địa phương như sau: Huyện Phong Điền đạt 58,1 tạ/ha, tăng 1,7 tạ/ha, tăng 3%; huyện Quảng Điền 65 tạ/ha, tăng 3,6 tạ/ha, tăng 5,8%; huyện Phú Vang 60,4 tạ/ha, tăng 0,9 tạ/ha, tăng 1,5%; thị xã Hương Trà 56,6 tạ/ha, tăng 1,3 tạ/ha, tăng 2,3%; thị xã Hương Thủy 58,5 tạ/ha, tăng 1,8 tạ/ha, tăng 3,1%; huyện Phú Lộc 60,4 tạ/ha, tăng 2,2 tạ/ha, tăng 3,8%; thành phố Huế 61,7 tạ/ha, tăng 0,2 tạ/ha, tăng 0,3%; huyện Nam Đông 50 tạ/ha, tăng 1,9 tạ/ha, tăng 3,9%; huyện A lưới 40 tạ/ha, bằng cùng kỳ năm trước. 
Ước tính năng suất, sản lượng một số cây hàng năm chủ yếu khác vụ hè thu năm 2020: cây ngô đạt 38,7 tạ/ha, tăng 0,4 tạ/ha, sản lượng đạt 1.613 tấn,  giảm 12,2% so vụ hè thu năm trước; khoai lang đạt 59,3 tạ/ha, tăng 0,4 tạ/ha, sản lượng 4.136 tấn, giảm 8%; sắn 192,1 tạ/ha, giảm 4,8 tạ/ha, sản lượng 49.058 tấn, giảm 21,7%; lạc 22,4 tạ/ha, tăng 0,4 tạ/ha, sản lượng 624 tấn, tăng 20,1%; vừng 5,3 tạ/ha, tăng 0,2 tạ/ha, sản lượng 74 tấn, tăng 12,7%; rau các loại 104 tạ/ha, tăng 0,9 tạ/ha, sản lượng 13.670 tấn, tăng 1%; đậu các loại 7,5 tạ/ha, tăng 0,1 tạ/ha, sản lượng 401 tấn, tăng 0,1%.
Chăn nuôi: Từ đầu năm đến nay, công tác phòng chống dịch bệnh, kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y trên địa bàn được tăng cường nhằm đảm bảo an toàn thực phẩm và góp phần ngăn chặn dịch bệnh. Trong tháng 8/2020 không xảy ra dịch bệnh ở đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh.
Chăn nuôi nuôi lợn tuy vẫn còn khó khăn do nguồn lợn giống khan hiếm nhưng tổng đàn đã dần phục hồi. Hiện nay các ngành chức năng phối hợp chính quyền địa phương tăng cường chỉ đạo các đơn vị chăn nuôi quy mô lớn tiếp tục tái đàn đồng thời thực hiện các giải pháp an toàn sinh học và chất lượng nguồn gốc con giống nhằm hạn chế nguy cơ dịch tái phát. Tổng đàn lợn thời điểm 01/8/2020 đạt 117.465 con, tăng 1.897 con, tăng 1,6% so cùng kỳ năm trước; so với thời điểm đầu năm tăng 28.852 con, tăng 32,6%.
Trong 8 tháng đầu năm chăn nuôi gia cầm có nhiều thuận lợi, dịch bệnh không xảy ra, công tác tiêm phòng thú y, vệ sinh môi trường chăn nuôi được chú trọng. Tổng đàn gia cầm thời điểm 01/8/2020 đạt 4.070,8 nghìn con, tăng 3,3% so cùng kỳ năm trước, trong đó đàn gà 3.260,4 nghìn con, tăng 3,7%; đàn vịt, ngan, ngỗng 810,4 nghìn con, tăng 1,7%. Tổng đàn trâu thời điểm 01/8/2020 có 16.377 con, giảm 3,1% so cùng kỳ năm trước; đàn bò 29.951 con, giảm 1,8%. Nguyên nhân đàn trâu, bò giảm là do hiện nay ở khu vực nông thôn nhiều ngành nghề có thu nhập khá đã thu hút lao động nông thôn tham gia nên người chăn nuôi trâu bò ngày càng giảm, bên cạnh đó đồng cỏ chăn nuôi ngày càng thu hẹp.
Các địa phương trong tỉnh tiếp tục tiến hành tiêm phòng vụ thu, tính đến 15/8/2020 đã tiêm 1.205 liều vắc xin tụ huyết trùng trâu bò đạt 10% kế hoạch; 5.266 liều vắc xin tam liên lợn đạt 21% kế hoạch; 1.020 liều vắc xin VX + KT E.coli đạt 12% kế hoạch; 67.300 liều vắc xin cúm gia cầm, đạt 11% kế hoạch; 130.300 liều vắc xin dịch tả vịt, đạt 25% kế hoạch; 24.065 liều vắc xin Newcastle đạt 34% kế hoạch; 700 liều vắc xin tụ huyết trùng gia cầm đạt 6% kế hoạch; 12.750 liều vắc xin đậu gà, đạt 25% kế hoạch; 32.350 liều vắc xin VX+KT Gumboro đạt 22% kế hoạch; 34.400 liều vắc xin Lasota+New, đạt 25% kế hoạch. 
b. Lâm nghiệp
Tháng 8/2020 sản xuất lâm nghiệp tập trung chủ yếu khai thác gỗ rừng trồng. Ước tính sản lượng gỗ khai thác rừng trồng trong tháng đạt 75.260 m3, tăng 2,3% so tháng 8/2019. Tính chung tổng sản lượng gỗ khai thác rừng trồng 8 tháng đầu năm 2020 ước đạt 481.220 m3, tăng 1,6% so cùng kỳ năm trước. Khai thác gỗ rừng trồng tăng nhờ thời tiết thuận lợi, giá thu mua gỗ của các nhà máy chế biến dăm gỗ xuất khẩu trên địa bàn tỉnh tăng, nhiều diện tích rừng trồng của các địa phương đã đến kỳ khai thác. Thu hoạch gỗ rừng trồng đạt giá trị sản lượng cao đã khuyến khích người dân tập trung chăm sóc và trồng mới rừng. Trồng rừng tập trung trong tháng không thực hiện do thời tiết đang trong mùa nắng nóng. Tính chung 8 tháng đầu năm 2020, trồng rừng tập trung ước đạt 3.786 ha, tăng 6,1% so cùng kỳ năm trước. 
c. Thủy sản
Tình hình nuôi trồng thủy sản: Diện tích nuôi trồng thủy sản tháng 8/2020 ước đạt 1.010 ha, tăng 0,5% so cùng kỳ năm trước, bao gồm nuôi nước lợ 730 ha, tăng 1,8%; nuôi nước ngọt 280 ha, giảm 2,6%. Trong diện tích nuôi nước lợ chia ra nuôi cá 249 ha, tăng 2%; nuôi tôm 251 ha, tăng 2%, riêng nuôi tôm sú 136 ha, tăng 3%, tôm thẻ chân trắng 68 ha, tăng 1,5%; diện tích nuôi các loại thủy sản khác 230 ha, tăng 1,3%. Lũy kế diện tích nuôi trồng thủy sản 8 tháng đầu năm 2020 ước đạt 5.245 ha, tăng 2,3% so cùng kỳ năm trước, trong đó nuôi nước lợ 3.735 ha, tăng 2,7%; nuôi nước ngọt 1.510 ha, tăng 1,5%. Trong nuôi nước lợ bao gồm nuôi cá 1.333,5 ha, tăng 1,9%; nuôi tôm 1.565 ha, tăng 3,8%, riêng nuôi tôm sú 949 ha, tăng 1,8%, tôm thẻ chân trắng 436 ha, tăng 9,3%; nuôi các loại thủy sản khác 830 ha, tăng 1,8%; ươm, nuôi giống thủy sản 6,5 ha, bằng so cùng kỳ. 
Về sản xuất giống thủy sản, trong tháng 8/2020 sản xuất giống trên địa bàn tỉnh ước đạt 10 triệu con, tăng 3,1% so cùng kỳ năm trước, trong đó tôm sú giống 3,2 triệu con, tăng 3,2%; cá giống các loại 6,8 triệu con, tăng 3%, số giống sản xuất chủ yếu cung cấp cho các cơ sở nuôi trên địa bàn tỉnh. Lũy kế số giống sản xuất được 8 tháng đầu năm 2020 ước đạt 158,5 triệu con, tăng 3% so cùng kỳ năm trước, trong đó tôm sú giống 91,2 triệu con, tăng 2,7%; cá giống các loại 65,3 triệu con, tăng 3,5%; cua, ếch giống 2 triệu con, bằng so cùng kỳ.
Sản lượng thu hoạch tháng 8/2020 ước đạt 2.221 tấn,  tăng 1,8% so với tháng 8/2019, trong đó cá các loại 1.238 tấn, tăng 2,1%; tôm các loại 755 tấn, tăng 1,6%, chia ra tôm sú 129 tấn, tăng 3,2%; tôm chân trắng 603 tấn, tăng 1,3%, tôm khác 23 tấn, bằng so cùng kỳ; thủy sản khác 228 tấn, tăng 1,3%, trong đó cua 192 tấn, tăng 0,5%. Tính chung sản lượng thủy sản nuôi trồng 8 tháng đầu năm 2020 ước đạt 12.222 tấn, tăng 6,7% so cùng kỳ năm trước, trong đó cá các loại 6.713 tấn, tăng 4,8%; tôm các loại 4.660 tấn, tăng 10,4%, chia ra tôm sú 841 tấn, tăng 3,3%, tôm thẻ chân trắng 3.575 tấn, tăng 12,8%, tôm khác 244 tấn, tăng 3,4%; thủy sản khác 849 tấn, tăng 2,9%, trong đó sản lượng cua 512 tấn, tăng 2,2%.  
Tình hình khai thác hải sản: Tháng 8/2020 thời tiết thuận lợi cho việc khai thác hải sản biển. Sản lượng  thủy sản khai thác tháng 8/2020 ước đạt 4.037 tấn, tăng 2,9% so cùng kỳ năm trước, trong đó khai thác biển 3.678 tấn, tăng 3,2%; khai thác nội địa 359 tấn, giảm 0,3%. Lũy kế sản lượng thủy sản khai thác 8 tháng đầu năm 2020 ước đạt 30.120 tấn, tăng 3,5% so cùng kỳ năm trước, trong đó khai thác biển 27.555 tấn, tăng 3,9%; khai thác nội địa 2.565 tấn, giảm 0,6%.
Tính chung sản lượng thủy sản nuôi trồng và khai thác 8 tháng đầu năm 2020 ước đạt 42.342 tấn, tăng 4,4% so cùng kỳ năm trước.
2. Sản xuất công nghiệp
Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 8/2020 giảm so tháng trước và tăng chậm so cùng kỳ năm trước do dịch bệnh Covid-19 tái bùng phát đã ảnh hưởng đến thị trường trường tiêu thụ hàng hoá nội địa, thêm vào đó, ngành sản xuất phân phối điện đến nay vẫn tiếp tục giảm sâu do lượng mưa từ đầu năm đến nay đạt thấp. Tính chung 8 tháng đầu năm chỉ số sản xuất công nghiệp chỉ tăng 3,05% so cùng kỳ năm trước.
 Kinh tế thế giới tháng 8 và 8 tháng đầu năm tiếp tục đà suy thoái với làn sóng dịch bệnh Covid-19 lần 2 tái bùng phát chỉ sau một thời ngắn các nền kinh tế lớn bắt đầu tái khởi động, đã làm tình trạng cung cầu hàng hoá trên toàn cầu tiếp tục đình trệ.  Trong nước, sau hơn 100 ngày không có dịch, nền kinh tế bắt đầu có dấu hiệu phục hồi với kích cầu tiêu dùng nội địa tăng cao thì cuối tháng 7 đến nay dịch Covid tái bùng phát với mức độ nghiêm trọng hơn lần trước, đã tác động mạnh tới khả năng phục hồi và phát triển kinh tế của cả nước. Mặc dù trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế chưa có ca dịch bệnh Covid-19 lây lan trong cộng đồng, nhưng nền kinh tế cũng bị ảnh hưởng không nhỏ, nhất là hoạt động du lịch hầu như tê liệt, một số ngành sản xuất công nghiệp cũng đứng trước nguy cơ thiếu việc làm.  Trước tình hình đó, Chính phủ và lãnh đạo địa phương khẩn trương chỉ đạo quyết liệt các giải pháp vừa phòng chống dịch bệnh, bảo đảm sức khỏe người dân, vừa chống suy giảm kinh tế và giữ vững ổn định xã hội, nỗ lực phấn đấu cao nhất thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2020. 
Sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh trong 8 tháng tiếp tục tăng trưởng chậm, nhiều nhóm hàng chủ lực không thể xuất khẩu, nhiều đơn hàng bị cắt giảm, trong đó ngành sản xuất sợi đang tăng trưởng âm; ngành sản xuất dăm gỗ đến nay không thể xuất khẩu được nên một số doanh nghiệp buộc phải giảm khối lượng sản xuất trong tháng 7 và tháng 8; ngành sản xuất điện tiếp tục gặp khó khăn do những tháng đầu năm không có đủ nước để các nhà máy chạy theo đúng công suất thiết kế; các sản phẩm chủ lực chưa có năng lực tăng thêm nên khối lượng sản xuất sản phẩm đang duy trì ở mức thấp, ảnh hưởng không đến tăng trưởng ngành công nghiệp của tỉnh
Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 8/2020 giảm 0,37% so với tháng trước và tăng 6,26% so với tháng cùng kỳ năm trước. Tính chung 8 tháng năm 2020 chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 3,05% so với cùng kỳ năm 2019, trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 4,42%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,20%; sản xuất và phân phối điện giảm 9,38%; cấp nước và thu gom rác thải tăng 2,95%.
Trong 8 tháng, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng chủ yếu dựa vào tăng trưởng của ngành may mặc, do các doanh nghiệp hoạt động trong ngành này đã chủ động chuyển đổi sang may khẩu trang để đáp ứng nhu cầu cấp thiết cho thị trường thế giới, ngoài ra một số sản phẩm truyền thống của tỉnh vẫn duy trì tăng trưởng trong hoàn cảnh khó khăn của đại dịch: sản xuất bia, sản xuất vỏ lon nhôm, sản xuất bao bì. Bên cạnh đó nhờ năng lực bổ sung thêm từ các nhà mới  đưa vào hoạt động từ giữa năm 2019 và đầu năm 2020: Nhà máy sản xuất khoáng Cristobalite của công ty Phenikaa; Nhà máy sợi Phú Quang; Công ty men Frit Phú Sơn; Công ty men frit Hương Giang; mở rộng nhà máy sợi Phú An; Nhà máy sản xuất đồ chơi của công ty Billion Max. Tuy nhiên năng lực các nhà máy này ở qui mô nhỏ nên chưa đóng góp nhiều cho tăng trưởng ngành công nghiệp chế biến chế tạo cũng như toàn ngành công nghiệp của tỉnh. 
Một số ngành công nghiệp trong 8 tháng có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất bia và mạch nha ủ men bia tăng 4,57%; sản xuất trang phục tăng 13,13%; sản xuất túi sách và sản phẩm tương tự tăng 5,12%; sản xuất thuốc hóa và dược liệu tăng 14,87%; sản xuất các sản phẩm từ plastic tăng 13,61%; sản xuất vỏ lon nhôm tăng 10,11%;...
Trong 8 tháng năm 2020, tuy chịu ảnh hưởng kép bởi việc kiểm tra nghiêm ngặt nồng độ cồn khi tham gia giao thông và dịch Covid-19 nhưng ngành sản xuất bia vẫn tăng trưởng khá, có được kết quả này là do công ty đã mở rộng thị trường xuất khẩu sang Úc và Malaysia, trong nước thị trường tiêu thụ tiếp tục mở rộng ra các tỉnh phía bắc nhằm bù đắp lượng tiêu thụ sụt giảm trong tỉnh. 
Một số ngành công nghiệp có chỉ số sản xuất trong 8 tháng giảm so với cùng kỳ: Sản xuất sợi giảm 2,0%; sản xuất giày dép giảm 16,11%; sản xuất dăm gỗ giảm 1,37%; in ấn giảm 11,58%; sản xuất vật liệu từ đất sét giảm 9,38%; xi măng giảm 2,43%; đúc kim loại màu giảm 44,96%; sản xuất xe có động cơ giảm 30,0%; đóng tàu và cấu kiện nổi giảm 46,61%; sản xuất giường tủ bàn ghế giảm 2,62%; sản xuất và phân phối điện giảm 9,38%;...
Các sản phẩm công nghiệp ước 8 tháng đầu năm 2020 tăng so với cùng kỳ năm trước: Đá xây dựng đạt 537,5 ngàn m3, tăng 5,55%; tôm đông lạnh 4.059 tấn, tăng 1,40%; sản xuất bia lon 98,4 triệu lít, tăng 8,0%; túi xách 1.772 ngàn cái, tăng 31,36%; phân vi sinh 9.655 tấn, tăng 4,89%; thuốc kháng sinh dạng viên 45,6 triệu viên, tăng 14,57%; bao và túi bằng plastic 8.804 tấn, tăng 15,04%; vỏ lon nhôm 9.704 tấn, tăng 10,11%;...
Các sản phẩm công nghiệp ước 8 tháng năm 2020 giảm so với cùng kỳ: bia chai đạt 64,7 triệu lít, giảm 4,63%; sản xuất giày dép có đế hoặc mũ bằng da 71,7 ngàn đôi, giảm 16,11%; phân khoáng hoặc phân hóa học 14,3 ngàn tấn, giảm 3,82%; cửa ra vào bằng plastic 180,9 tấn, giảm 10,11%; sản xuất gạch men 8.823,6 ngàn m2, giảm 9,38%; xi măng portland đen 1.453,2 ngàn tấn, giảm 4,20%; khuôn đúc kim loại màu 58,4 tấn, giảm 44,96%; điện sản xuất 498,3 triệu kwh, giảm 15,13%;...
3. Vốn đầu tư
Tình hình thực hiện nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước trên địa bàn trong tháng 8/2020 tăng rất cao so với cùng kỳ năm trước nhờ các biện pháp thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công. Một số dự án có tổng mức đầu tư lớn đã được triển khai. Đã làm tổng vốn đầu tư 8 tháng đầu năm tăng 14,4% so cùng kỳ năm trước. Dự án đầu tư nước ngoài đăng ký mới trong 8 tháng có 5 dự án với tổng số vốn đăng ký 18,41 triệu USD. 
Tổng vốn đầu tư thực hiện theo giá hiện hành trên địa bàn trong 8 tháng đầu năm 2020 ước đạt 16.113,6 tỷ đồng, bằng 59,68/% KH năm, tăng 14,4% so với cùng kỳ năm trước; trong đó vốn do Trung ương quản lý 3.978,4 tỷ đồng, bằng 59,59% KH, tăng 5,9%, chiếm 24,7% tổng vốn; vốn do Địa phương quản lý 12.135,2 tỷ đồng, bằng 59,71% KH, tăng 17,5%, chiếm 75,3%.
Vốn thuộc ngân sách Nhà nước 8 tháng đầu năm 2020 đạt 4.048,2 tỷ đồng, bằng 70,4% KH, tăng 52,6% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 25,12% tổng vốn, gồm có: Vốn ngân sách Trung ương quản lý 915,0 tỷ đồng, bằng 89,71% KH, tăng 58,00%; vốn ngân sách Địa phương quản lý 3.133,2 tỷ đồng, bằng 66,23%, tăng 51,1%. Nguồn vốn tín dụng đạt 6.478 tỷ đồng, bằng 58,82% KH, tăng 0,2% so cùng kỳ, chiếm 40,2% tổng vốn; vốn đầu tư của doanh nghiệp 1.900 tỷ đồng, bằng 55,56% KH, tăng 0,7%, chiếm 11,79%; vốn viện trợ 1.027,4 tỷ đồng, bằng 61,67% KH, tăng 42,0%, chiếm 6,38%; vốn đầu tư nước ngoài 730 tỷ đồng, bằng 29,2% KH, giảm 11,5%, chiếm 4,53%.
Vốn đầu tư trong tháng 8 tăng rất cao so cùng kỳ  là do sự chỉ đạo quyết liệt của Trung ương và tỉnh trong giải ngân vốn đầu tư công, xem đây giải pháp cấp bách và cần thiết để thúc đẩy tăng trường kinh tế trong tình hình đại dịch Covd 19. Một số dự án mới có tổng mức đầu tư lớn đã được triển khai trong thời gian qua: Dự án bảo tồn, tu bổ và tôn tạo hệ thống Kinh thành Huế giai đoạn 1 (Đề án di dời dân cư, giải phóng mặt bằng khu vực I di tích Kinh thành Huế); Kè chống sạt lở khẩn cấp đoạn Thuận An-Tư Hiền; Đường cứu hộ cứu nạn thị trấn Phong Điền-Điền Lộc; Dự án hạ tầng kỹ thuật Khu định cư Bàu Vá giai đoạn 4; hạ tầng kỹ thuật Khu tái định cư Thủy Thanh giai đoạn 3; hạ tầng kỹ thuật Khu tái định cư Thủy Dương giai đoạn 3; hạ tầng kỹ thuật Khu tái định cư TĐC2 - Đô thị mới An Vân Dương. Các dự án được bổ sung vốn theo quyết định số 961/QĐ-UBND ngày 13 tháng 4 năm 2020 được đẩy nhanh tiến độ thực  hiện: Hạ tầng kỹ thuật Khu dân cư phía Bắc Hương Sơ (khu vực 3,4,5,6,7,8); Trường Mầm non Hương Sơ (giai đoạn 1); Đường vào nhà máy chế biến cát, bột thạch anh ít sắt chất lượng cao huyện Phong Điền; Kè chống sạt lở các đoạn xung yếu thuộc hệ thống sông Hương, tỉnh Thừa Thiên Huế… 
Trong 8 tháng đầu năm nguồn vốn ngân sách nhà nước địa phương quản lý bên cạnh việc thực hiện khởi công các công trình mới trong năm, một số công trình chuyển tiếp được đẩy nhanh tiến độ: Bảo tồn, tu bổ và tôn tạo di tích cầu ngói Thanh Toàn; Đầu tư hệ thống cảm biến phục vụ phát triển dịch vụ Đô thị thông minh; Trường THPT Bình Điền (giai đoạn 2); Nâng cấp sửa chữa các công trình trạm bơm chống hạn Tây Nam Hương Trà; Hệ thống thoát nước, xử lý nước thải Khu công nghiệp và khu phi thuế quan; Đường cứu hộ cứu nạn Thủy phù - Vinh Thanh; Đường Chợ Mai - Tân Mỹ; Đường Phú Mỹ - Thuận An, huyện Phú Vang; Đường phía Đông đầm Lập An; xử lý khẩn cấp khắc phục xói lở bờ biển Hải Dương và chỉnh trị luồng cảng Thuận An; Bảo tồn, tu bổ và phục hồi lăng Dục Đức; Hệ thống hạ tầng kỹ thuật khu vực Hoàng Thành; Bảo tồn, tu bổ và phát huy giá trị tổng thể di tích lăng vua Thiệu Trị (giai đoạn 2); Công trình bảo tồn, tu bổ, phục hồi điện Thọ Ninh (giai đoạn 2); Tu bổ  và phát huy giá trị tổng thể di tích lăng vua Gia Long (phần còn lại); Phục hồi Điện Kiến Trung-Tử Cấm Thành; Dự án "Chương trình phát triển các đô thị loại II (các đô thị xanh)-tiểu dự án Thừa Thiên Huế; Văn phòng làm việc một số cơ quan đơn vị thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế… 
Từ ngày 16/7/2020 đến ngày 15/8/2020, trên địa bàn không có dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký mới. Tính từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh có 05 dự án đầu tư nước ngoài đăng ký mới với tổng số vốn đăng ký 18,41 triệu USD. Trong đó, Pháp 01 dự án với số vốn đăng ký 3 triệu USD vào lĩnh vực may mặc; Vương quốc Anh 01 dự án với số vốn 0,06 triệu USD đầu tư vào lĩnh vực công nghệ thông tin; Hoa Kỳ 01 dự án với số vốn 6 triệu USD vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo; Nhật Bản 02 dự án với số vốn 9,35 triệu USD vào lĩnh vực kiến trúc 1 dự án và công nghiệp chế biến chế tạo 1 dự án.
4. Thương mại, dịch vụ và giá cả 
Bắt đầu từ cuối tháng 7, dịch bệnh Covid-19 bùng phát lần 2 ở một số địa phương trong cả nước, nhất là các địa phương lân cận tỉnh Thừa Thiên Huế như Đà Nẵng là tâm dịch, Quảng Nam, Quảng Trị với mức độ nguy hiểm hơn. Mặc dù đến nay tỉnh Thừa Thiên Huế chưa phát hiện ca lây nhiễm trong cộng đồng, nhưng để chủ động phòng chống dịch, ngày 02/8/2020, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Công điện số 07/CĐ-UBND. Theo đó, UBND tỉnh chỉ đạo tiếp tục nghiêm túc triển khai các nội dung của Công điện số 05/CĐ-UBND ngày 29/7/2020, Công điện 06/CĐ-UBND ngày 31/7/2020 của UBND tỉnh và các văn bản chỉ đạo Ủy ban nhân dân tỉnh, Ban Chỉ đạo Covid-19 tỉnh, các thông báo của Bộ Y tế về triển khai công tác phòng, chống dịch Covid-19. Trong đó yêu cầu hạn chế tập trung đông người; tạm dừng các hoạt động kinh doanh dịch vụ karaoke, quán bar, vũ trường, massage, rạp chiếu phim, các cơ sở kinh doanh game, trò chơi điện tử; không tổ chức tiệc cưới, liên hoan, tiệc mừng tại các khách sạn, trung tâm tổ chức sự kiện; dừng tổ chức Festival Huế năm 2020 và các hoạt động lễ hội văn hóa, thể thao tập trung đông người, các hội nghị, hội thảo chưa cấp thiết; thông báo cho các doanh nghiệp lữ hành không tổ chức các tour đưa khách du lịch từ vùng có dịch đến Thừa Thiên Huế. 
Chủ tịch UBND tỉnh ban hành Công văn số 6883/UBND-CT ngày 03/8/2020 chỉ đạo tăng cường các biện pháp đảm bảo cung cầu thị trường, hàng hóa thiết yếu phục vụ người tiêu dùng, xử lý nghiêm các hành vi găm hàng, bán cao hơn giá niêm yết đối với các mặt hàng liên quan đến phòng, chống dịch Covid-19, yêu cầu Ban Chỉ đạo 389/TTH tỉnh phối hợp giữa các lực lượng trong Ban Chỉ đạo để kiểm tra, kiểm soát thị trường nhằm kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý các đối tượng vận chuyển, buôn bán hàng nhập lậu; đặc biệt là kiểm soát chặt các mặt hàng ảnh hưởng đến an toàn xã hội, hàng tiêu dùng thiết yếu. 
Các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh có lượng hàng dự trữ đảm bảo cung ứng thị trường, phục vụ nhu cầu mua sắm, tiêu dùng của người dân. Sức mua hàng hoá tại các chợ, siêu thị trên địa bàn diễn ra bình thường, không xảy ra hiện tượng người dân đổ xô mua tích trữ hàng hoá; giá cả các mặt hàng thiết yếu nhìn chung ổn định. Một số doanh nghiệp có lượng hàng dự trữ lớn như Công ty Lương thực Thừa Thiên Huế dự trữ trên 100 tấn gạo; Công ty CP Tân Long - Chi nhánh Huế khoảng 100 tấn gạo; Công ty TNHH TM Hoàng Đạt khoảng 50 tấn mỳ ăn liền; Công ty TNHH TM Thái Đông Anh khoảng trên 60 tấn mỳ ăn liền, trên 200.000 lít dầu ăn các loại; Siêu thị Co-op mart Huế tổ chức dự trữ lượng hàng hoá nhiều hơn 50% so với bình thường; Siêu thị Big C dự trữ hơn 30% so với bình thường, gồm 15 tấn gạo, 22 tấn mỳ ăn liền, 25.000 lon đồ hộp các loại, 35.000 lít dầu ăn…; Công ty CP Thương mại Đông Ba dự trữ 57.000 lon đồ hộp các loại và có kế hoạch cung ứng ra thị trường khoảng 10.000 lon mỗi ngày; Công ty Dệt may Huế có khoảng 100.000 cái khẩu trang vải kháng khuẩn,…Ngoài ra tại các đại lý, cửa hàng bán lẻ, chợ truyền thống trên địa bàn đều có kế hoạch tổ chức dự trữ hàng hoá nhằm bảo đảm nguồn cung phục vụ nhu cầu mua sắm, tiêu dùng của người dân.
Kết quả hoạt động thương mại, dịch vụ và vận tải trên địa bàn tỉnh tháng 8 năm 2020:
a. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Hoạt động thương mại dịch vụ trong tháng 7 đã có dấu hiệu khởi sắc nhưng đến tháng 8 đã chững lại do dịch bệnh Covid-19 tái bùng phát lần 2 trong một số tỉnh, thành cả nước với mức độ lây lan cao trong cộng đồng. Đã làm tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trong 8 tháng giảm 3,92% so cùng kỳ năm trước. 
Tháng 8 năm 2020, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 3.528,2 tỷ đồng, giảm 13,49% so với tháng trước và giảm 4,76% so với cùng kỳ năm 2019. 
Chia theo ngành kinh tế: Bán lẻ hàng hóa ước đạt 2.824,2 tỷ đồng, chiếm 80,05% trong tổng số, giảm 6,33% so với tháng trước và giảm 0,49% so với cùng kỳ năm trước, nguyên nhân giảm là do ảnh hưởng của dịch Covid-19 quay trở lại, các hoạt động văn hóa, thể thao, tập trung đông người bị hạn chế; đặc biệt là dừng tổ chức các sự kiện, lễ hội. Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống ước đạt 454 tỷ đồng, chiếm 12,87%, giảm 23,88% so với tháng trước và giảm 23,38% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ du lịch lữ hành đạt 4,1 tỷ đồng, chiếm 0,12%, tương ứng giảm 50,59% và giảm 74,49%; doanh thu dịch vụ khác đạt 245,9 tỷ đồng, chiếm 6,97%, giảm 11,55% và giảm 4,58%, cụ thể: dịch vụ kinh doanh bất động sản giảm 11,29% so tháng trước; dịch vụ hành chính hỗ trợ giảm 12,82% (do nhu cầu cho thuê đồ dùng, thuê xe du lịch, xe máy giảm ...); dịch vụ giáo dục giảm 18,04% (do các cơ sở dạy thêm đóng cửa); dịch vụ vui chơi giải trí giảm 13,43% và dịch vụ phục vụ cá nhân khác giảm 11,58% (các dịch vụ spa, chăm sóc sắc đẹp đóng cửa)
Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 8 tháng đầu năm 2020 đạt 27.582,9 tỷ đồng, giảm 3,92% so với cùng kỳ năm trước, trong đó kinh doanh bán lẻ hàng hóa đạt 22.208,7 tỷ đồng, chiếm 80,52% tổng số và tăng 1,87%; dịch vụ lưu trú và ăn uống đạt 3.492,1 tỷ đồng, chiếm 12,66% và giảm 26,08%; du lịch lữ hành đạt 51,7 tỷ đồng, chiếm 0,19% và giảm 60,38%; dịch vụ khác đạt 1.830,4 tỷ đồng, chiếm 6,64% và giảm 9,45%.
b. Vận tải hành khách và hàng hóa
Dịch bệnh Covid-19 tái bùng phát lần 2 vào cuối tháng 7 với Đà Nẵng là tâm dịch nên thành phố bị cách ly hoàn toàn, làm ngưng trệ toàn bộ tuyến giao thông Đà Nẵng-Huế và ngược lại, đã ảnh hưởng không nhỏ đến lượng hành khách và hành hóa vận chuyển trong tháng 8/2020. Dự ước tháng 8/2020 hành khách vận chuyển giảm 11,44%, hàng hóa vận chuyển giảm 2,72%  so với tháng trước. Tính chung 8 tháng đầu năm, hành khách vận chuyển giảm 29,49% và hàng hóa vận chuyển tăng 2,67% so cùng kỳ năm trước.
Dự ước tháng 8 năm 2020 hành khách vận chuyển đạt 1.324,8 nghìn hành khách, giảm 11,44% so với tháng trước và giảm 36,51% so với cùng kỳ năm trước; hành khách luân chuyển đạt 64.053,6 nghìn hành khách.km, giảm 12,46% so với tháng trước và giảm 39,47% so với cùng kỳ năm trước. Đưa hành khách vận chuyển 8 tháng đầu năm 2020 ước đạt 11.582,3 nghìn hành khách và 585.643,0 nghìn hành khách.km, giảm 29,49% về hành khách và 29,02% về hành khách.km so cùng kỳ năm trước, bao gồm: vận tải hành khách đường bộ ước đạt 11.170,6 nghìn hành khách, giảm 29,61% và 583.807,8 nghìn hành khách.km, giảm 29,03%; đường sông đạt 411,7 nghìn hành khách, giảm 26,10% và 1.835,2 nghìn hành khách.km, giảm 25,98%.
¬Dự ước hàng hóa vận chuyển tháng 8 năm 2020 đạt 1.301,3 nghìn tấn, giảm 2,72% so với tháng trước và tăng 11,95% so với cùng kỳ năm trước; hàng hóa luân chuyển đạt 118.339,2 nghìn tấn.km, giảm 6,01% so với tháng trước và tăng 16,58% so với cùng kỳ năm trước. Đưa hàng hóa vận chuyển 8 tháng đầu năm 2020 ước đạt 9.027,9 nghìn tấn và 823.695,5 nghìn tấn.km, tăng 2,67% về tấn và tăng 2,86% về tấn.km so cùng kỳ năm trước, bao gồm: vận tải hàng hóa đường bộ đạt 8.932,4 nghìn tấn, tăng 2,73% và 708.121,5 nghìn tấn.km, tăng 2,04%; đường biển đạt 95,4 nghìn tấn, tăng 6,30% và 115.574,0 nghìn tấn.km, tăng 8,31%. 
Dự ước doanh thu vận tải, bốc xếp tháng 8 năm 2020 đạt 264,9 tỷ đồng, giảm 3,80% so với tháng trước và giảm 1,74% so với cùng kỳ năm trước. Đưa  doanh thu vận tải, bốc xếp 8 tháng đầu năm 2020 ước đạt 1.927,4 tỷ đồng, giảm 5,75% so cùng kỳ năm trước, chia heo ngành đường: đường bộ đạt 1.814,6 tỷ đồng, giảm 5,53%; đường sông đạt 2,4 tỷ đồng, giảm 28,80%; đường biển đạt 110,4 tỷ đồng, giảm 8,61%; chia theo loại hình dịch vụ: vận tải hành khách đạt 342,1 tỷ đồng, giảm 30,24%; vận tải hàng hóa đạt 1.437,1 tỷ đồng, tăng 2,88%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 137,1 tỷ đồng, giảm 7,53%; bưu chính chuyển phát đạt 11,1 tỷ đồng, tăng 16,42%.
c. Lượt khách các cơ sở lưu trú phục vụ và du lịch lữ hành
Trong tháng 7 hoạt động du lịch đã có bước phục hồi trở lại, lượt khách do các cơ sở lưu trú tăng cao so với tháng trước, tuy nhiên sang tháng 8 hoạt động du lịch trên địa bàn gần như ngưng trệ hoàn toàn do bùng phát đại dịch Covid-19 lần 2 với mức độ nguy hiểm hơn và lây lan cao trong cộng đồng, nhất là đối với các du khách trở về từ tâm dịch Đà Nẵng và các vùng có dịch, đã gây tâm lý rất hoang mang đối với người đi du lịch. Dự ước lượt khách do cơ sở lưu trú phục vụ tháng 8/2020 giảm 40,33% so với tháng trước. Tính chung 8 tháng đầu năm lượt khách phục vụ tại các cơ sở lưu trú giảm 51,43% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách quốc tế giảm 65,43. 
Dự ước lượt khách do cơ sở lưu trú phục vụ tháng 8 năm 2020 đạt 69,9 nghìn lượt khách, giảm 40,33% so với tháng trước và giảm 62,83% so với cùng kỳ năm trước, chia ra lượt khách ngủ qua đêm đạt 55,4 nghìn lượt khách, tương ứng giảm 43,41% và giảm 66,06%, trong đó khách quốc tế đạt 3,9 nghìn lượt khách giảm 32,93% và giảm 95,65%; lượt khách trong ngày đạt 14,5 nghìn lượt khách, giảm 24,68% và giảm 41,59%. 
Ước tính ngày khách do các cơ sở lưu trú phục vụ tháng 8 năm 2020 đạt 105,6 nghìn ngày khách, giảm 42,94% so với tháng trước và giảm 68,29% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngày khách quốc tế đạt 6,7 nghìn ngày khách, tương ứng giảm 36,92% và giảm 96,44%; ngày khách trong nước đạt 98,9 nghìn ngày khách, giảm 43,31% và giảm 31,43%. 
Tám tháng đầu năm 2020 lượt khách do các cơ sở lưu trú phục vụ ước đạt 747,6 nghìn lượt khách, giảm 51,43% so cùng kỳ năm trước, trong đó lượt khách quốc tế ngủ qua đêm đạt 250,3 nghìn lượt khách, giảm 65,43%. Tổng ngày khách ước thực hiện tám tháng năm 2020 đạt 1.242,3 nghìn ngày, giảm 53,99% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngày khách quốc tế đạt 501 nghìn ngày, giảm 66,87%; ngày khách trong nước đạt 741,3 nghìn ngày, giảm 37,57%.
Doanh thu của cơ sở lưu trú ước thực hiện tháng 8/2020 đạt 51,9 tỷ đồng, giảm 42,66% so với tháng trước và giảm 63,89% so cùng kỳ năm trước. Dự ước doanh thu 8 tháng năm 2020 đạt 570,5 tỷ đồng, giảm 51,48% so cùng kỳ năm trước.
Dự ước lượt khách theo tour tháng 8 đạt 2,9 nghìn lượt giảm 49,19% so với tháng trước và giảm 70,06% cùng kỳ năm trước; ngày khách theo tour đạt 5,0 nghìn ngày, tương ứng giảm 47,70% và giảm 75,54%.
 Dự ước lượt khách theo tour 8 tháng năm 2020 đạt 32,2 nghìn lượt giảm 58,71% so với cùng kỳ năm trước; tổng ngày khách theo tour đạt 63,2 nghìn ngày, giảm 61,23%.
d. Giá cả
- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
Chỉ số giá tiêu dùng chung toàn tỉnh tháng 8/2020 giảm 0,10% so với tháng trước. Nguyên nhân giảm do giá điện, gas giảm, một số mặt hàng thực phẩm giảm nhẹ do nguồn cung dồi dào; các nhóm mặt hàng còn lại ổn định. Các nhóm hàng hóa dịch vụ có chỉ số giá tăng so với tháng trước: Nhóm lương thực tăng cao nhất ở mức 1,0%, chủ yếu giá gạo tăng; giao thông tăng 0,17%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,08%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,06%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,11%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,02%; giáo dục tăng 0,02%. Các nhóm thuốc và dịch vụ y tế, ăn uống ngoài gia đình có chỉ số giá không tăng giảm so với tháng trước. Các nhóm có chỉ số giá giảm so với tháng trước: Nhóm thực phẩm giảm 0,45%, trong đó thịt gia súc tươi sống giảm 0,89%, riêng thịt lợn giảm 1,21% do nguồn cung bắt đầu tăng; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,27%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,42%; bưu chính viễn thông giảm 0,01%.  
Chỉ số giá tiêu dùng chung toàn tỉnh tháng 8/2020 giảm 1,12% so với tháng 12 năm trước và tăng 2,67% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân tám tháng đầu năm 2020 tăng 4,13% so với bình quân cùng kỳ năm 2019, trong đó một số nhóm hàng hóa và dịch vụ tăng cao gồm: Thực phẩm tăng 12,65% do giá thịt lợn tăng cao từ đầu năm, đến tháng này mới có dấu hiệu giảm; nhóm giáo dục tăng 12,41%, do học phí tăng; lương thực tăng 4,54%; ăn uống ngoài gia đình tăng 3,53%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 3,31%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 2,69%; hàng hóa và dịch vụ khác (chủ yếu chăm sóc, phục vụ cá nhân) tăng 3,84%. Nhóm giao thông giảm 10,62%.
- Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ 
Chỉ số giá vàng tháng 8/2020 tăng 7,96% so với tháng trước, tăng 28,97% so với tháng 12 năm trước và tăng 32,1% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 8/2020 giảm 0,07% so với tháng trước, tăng 0,1% so với tháng 12 năm trước và giảm 0,03% so với cùng kỳ năm trước. 
5. Tài chính, ngân hàng
Tài chính : 
Tổng thu ngân sách trên địa bàn ước tính đến 31/8/2020 ước đạt 5.559,9 tỷ đồng, bằng 73,09% dự toán năm. Trong đó: Thu nội địa ước đạt 5.292,5 tỷ đồng, bằng 74,7% dự toán; thu thuế từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 260 tỷ đồng, bằng 52,85% dự toán. Trong thu nội địa, thu doanh nghiệp Nhà nước ước đạt 228,2 tỷ đồng, bằng 51,26% dự toán; thu doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 1.617,9 tỷ đồng, bằng 70,35% dự toán; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 657,9 tỷ đồng, bằng 54,38% dự toán; thuế thu nhập cá nhân 268,3 tỷ đồng, bằng 69,69% dự toán; thuế bảo vệ môi trường 431,6 tỷ đồng, bằng 59,12% dự toán. 
Tổng chi ngân sách địa phương tính đến 31/8/2020 ước đạt 6.368,8 tỷ đồng, bằng 57,01% dự toán, trong đó chi đầu tư phát triển 1.470,6 tỷ đồng, bằng 42,53% dự toán; chi sự nghiệp kinh tế 338,4 tỷ đồng, bằng 46,42% dự toán; chi sự nghiệp giáo dục đào tạo 1.917,0 tỷ đồng, bằng 64,68% dự toán; chi sự nghiệp y tế 477,2 tỷ đồng, bằng 72,22% dự toán; chi quản lý Nhà nước 960,6 tỷ đồng, bằng 71,62% dự toán.
Ngân hàng( ):
Tổng nguồn vốn huy động đến cuối tháng 8/2020 ước đạt 51,1 nghìn tỷ đồng, tăng 5,8% so với đầu năm; tổng dư nợ tín dụng ước đạt 48,7 nghìn tỷ đồng, tăng 2,4%.
Đến cuối tháng 7 năm 2020 cho vay một số lĩnh vực ưu tiên theo chính sách của Chính phủ: Cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn giảm 0,62% so với đầu năm; cho vay hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa giảm 7,28%; cho vay phát triển sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu giảm 2,17%; cho vay ngành công nghiệp hỗ trợ giảm 2,1%.
Về lãi suất, các tổ chức tín dụng trên địa bàn duy trì mức lãi suất huy động và cho vay ổn định, cụ thể:
Lãi suất huy động bằng VND phổ biến ở mức 0,2%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn hoặc có kỳ hạn dưới 1 tháng, kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng ở mức 3,75-4,25%/năm, kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng từ 4,5-5,0%/năm, kỳ hạn từ 12 tháng trở lên ở mức 5,0-6,0%/năm. Lãi suất cho vay bằng VND đối với các lĩnh vực ưu tiên ở mức 5,0%/năm đối với ngắn hạn, Lãi suất cho vay các lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường ở mức 5,5-8,0%/năm đối với ngắn hạn; 7,5-9,0%/năm đối với trung và dài hạn.
Lãi suất huy động USD phổ biến bằng mức trần do NHNN quy định là 0,0%/năm đối với tiền gửi của tổ chức và cá nhân. Lãi suất cho vay USD ở mức 2,8-5%/năm.
6. Các vấn đề xã hội
a. Chính sách xã hội
Nhân kỷ niệm 73 năm Ngày Thương binh-Liệt sĩ, Tỉnh ủy, HĐND, UBND và UBMTTQ Việt Nam tỉnh dã long trọng tổ chức lễ truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” cho 12 mẹ và trao Huân chương Độc lập cho 4 gia đình có công với cách mạng. Như vậy, tính đến nay, toàn tỉnh Thừa Thiên Huế có 2.378 mẹ được nhận danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”. 
Nhân dịp này, Tỉnh đã tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho người có công, gia đình người có công, gia đình chính sách 33.206 suất quà với tổng số tiền 6.540 triệu đồng.
b. Giáo dục và đào tạo 
Tỉnh đã tổ chức Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2020 bảo đảm đúng qui chế thi và thực hiện các biện pháp an toàn về phòng chống dịch bệnh Covid-19 theo đúng quy định của Bộ GD&ĐT, không có sự cố đáng tiếc nào xảy ra.
c. Tình hình y tế, dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm
Về dịch bệnh Covid-19: 
Sau 99 ngày trong cả nước không có ca nhiễm COVID-19 trong cộng đồng, từ ngày 23/7/2020 đến nay ở một số tỉnh đã phát hiện nhiều ca bệnh COVID-19 mới, trong đó có nhân viên y tế. Trước diễn biến rất phức tạp, nguy hiểm của dịch, đặc biệt tại Thành phố Đà Nẵng là tâm dịch, Chính phủ và UBND tỉnh đã ban hành nhiều quyết định, chỉ thị, công văn, công điện về phòng chống dịch.
Đến nay trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế chưa xuất hiện ca dương tính Covid-19, tuy vậy, trước tình hình dịch bệnh đang diễn biến phức tạp, cần phải tiếp tục triển khai thực hiện nghiêm túc, đồng bộ, quyết liệt, có hiệu quả các chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và UBND tỉnh về việc phòng, chống dịch Covid-19 đi đôi với đẩy mạnh công tác tuyên truyền, công khai, minh bạch thông tin trên các phương tiện truyền thông đến tình hình, các biện pháp phòng, chống dịch bệnh và các chính sách hỗ trợ của Chính phủ đối với các nhóm đối tượng bị ảnh hưởng, tạo môi trường ổn định phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh song song với việc thực hiện mục tiêu "kép" là phòng, chống dịch bệnh và phát triển kinh tế - xã hội. Các cấp, ngành tiếp tục tập trung triển khai thực hiện Nghị quyết 54-NQ/TW của Bộ Chính trị gắn với xây dựng các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn tới.
Tính đến ngày 24/8/2020, Thừa Thiên Huế có 5 trường hợp dương tính COVID-19 từ Đà Nẵng, Quảng Nam chuyển đến đang được điều trị tại BV TW Huế CS2. Đã hoàn thành cách ly y tế tập trung cho 3.166 trường hợp. Đang cách ly y tế tập trung 1.625 trường hợp. Đã lấy 37.536 mẫu xét nghiệm. Tổng số người từ vùng dịch đến và trở về địa phương từ ngày 10/7 đến nay là 35.661 người. Tất cả các đối tượng cách ly tập trung đều được theo dõi sức khỏe theo quy định.
Về các bệnh khác:
Tháng 7/2020 toàn tỉnh có 216 ca mắc sốt xuất huyết, tăng 2 ca so với cùng kỳ năm trước; 3 ca mắc viêm gan siêu trùng, tăng 2 ca; 33 ca mắc bệnh Tay-Chân-Miệng, tăng 21 ca; 1ca mắc liên cầu lợn, tăng 1 ca. Không có trường hợp tử vong. Không có ca mắc sốt rét, thương hàn và viêm não vi rút, không tăng giảm so với cùng kỳ năm trước. 
Tính chung từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh có 1.155 ca mắc sốt xuất huyết, tăng 623 ca; 43 ca mắc viêm gan siêu trùng, tăng 26 ca; 53 ca mắc bệnh Tay-Chân-Miệng, tăng 13 ca; 1 ca mắc liên cầu lợn, tăng 1 ca; không có ca mắc sốt rét, giảm 1 ca. Không có trường hợp tử vong. Không có ca mắc thương hàn, viêm não vi rút, bằng cùng kỳ năm trước.
Tháng 7/2020, qua kiểm tra sàng lọc trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 14 ca nhiễm mới HIV, tăng 1 ca; có 1 ca chuyển qua AIDS, tăng 1 ca so với cùng kỳ năm 2019; không có ca tử vong, giảm 3 ca. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 72 ca nhiễm mới HIV, không tăng giảm so với cùng kỳ năm 2019; có 1 ca chuyển qua AIDS, giảm 1 ca; có 1 ca tử vong, giảm 5 ca. Hiện tại, trên địa bàn tỉnh có 426 bệnh nhân AIDS đang được quản lý và điều trị tại các cơ sở y tế, trong đó có 420 bệnh nhân điều trị ARV.
Tình hình ngộ độc thực phẩm: Trong tháng 7/2020 không xảy ra ngộ độc thực phẩm, giảm 1 vụ so với cùng kỳ năm 2019. Từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh xảy ra 1 vụ ngộ độc thực phẩm, giảm 1 vụ, làm 25 người bị ngộ độc, giảm 60 người, không có trường hợp tử vong, không tăng không giảm so với cùng kỳ năm 2019. 
d. Hoạt động văn hóa, thể thao
Do tình hình diễn biến phức tạp của dịch bệnh Covid-19, một số giải thi đấu tạm hoãn: Các trận đấu còn lại trong khuôn khổ lượt về vòng loại bảng B giải bóng đá vô địch U17 quốc gia 2020; Giải cầu lông các CLB tỉnh mở rộng lần thứ IV; Giải vô địch trẻ Karate các CLB tỉnh; Lễ hội Festival Huế 2020 lần thứ XI.
Các hoạt động trong tháng 8/2020: Tham gia Giải vô địch trẻ các lứa tuổi vật cổ điển, vật tự do quốc gia 2020 tại Thanh Hóa với hơn 600 VĐV đến từ 22 tỉnh, thành, ngành trên cả nước. Kết thúc giải đấu, với 6 HCV đoàn Thừa Thiên Huế đứng thứ 2 toàn đoàn ở nội dung vật tự do nữ. Tổ chức Giải vô địch đá cầu bãi biển toàn quốc 2020 quy tụ 140 VĐV đến từ 10 đoàn trên cả nước. Sau 4 ngày tranh tài đoàn chủ nhà Thừa Thiên Huế giành được 1 HCV, 1 HCB, 4 HCĐ đứng thứ 4 toàn đoàn.
Nhân dịp kỷ niệm 73 năm ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2020), Tỉnh tổ chức dâng hương, dâng hoa tại nghĩa trang liệt sĩ thành phố Huế.
e. Tai nạn giao thông( )
Từ 15/7/2020 đến 14/8/2020, trên địa bàn tỉnh xảy ra 26 vụ tai nạn và va chạm giao thông, giảm 30 vụ so với cùng kỳ năm trước; làm chết 13 người, giảm 10 người; bị thương 21 người, giảm 28 người. Trong đó, tai nạn đường bộ xảy ra 25 vụ, giảm 28 vụ; làm chết 13 người, giảm 8 người; bị thương 20 người, giảm 28 người. Tai nạn đường sắt xảy ra 1 vụ, giảm 2 vụ, làm bị thương 1 người, không tăng giảm. Tai nạn đường thủy không xảy ra, không tăng giảm so với cùng kỳ.
Tính từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 184 vụ tai nạn và va chạm giao thông, giảm 83 vụ so với cùng kỳ năm trước; làm chết 91 người, giảm 52 người; bị thương 133 người, giảm 87 người. Trong đó, tai nạn đường bộ xảy ra 180 vụ, giảm 75 vụ so với cùng kỳ; làm chết 89 người, giảm 47 người; bị thương 131 người, giảm 86 người. Tai nạn đường sắt xảy ra 4 vụ, giảm 8 vụ; làm chết 2 người, giảm 5 người; bị thương 2 người, giảm 1 người. Tai nạn đường thủy không xảy ra, không tăng giảm so cùng kỳ.
f. Tình hình cháy nổ và bảo vệ môi trường
Từ 16/7/2020 đến ngày 15/8/2020 trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 14 vụ cháy, giảm 10 vụ so với cùng kỳ năm 2019, không gây thiệt hại về người, giá trị thiệt hại 1.040 triệu đồng. Các vụ cháy xảy ra tại thành phố Huế 11 vụ; thị xã Hương Thủy 2 vụ; thị xã Hương Trà 1 vụ. Trong đó 2 vụ cháy nhà do chập điện, 12 vụ cháy rừng. Từ đầu năm đến  nay trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 49 vụ cháy, giảm 22 vụ so với cùng kỳ năm 2019, làm chết 5 người, giá trị thiệt hại 3.116,9 triệu đồng. Các vụ cháy chủ yếu là sự cố điện và cháy rừng.
Từ 16/7/2020 đến ngày 15/8/2020 qua kiểm tra các ngành chức năng đã phát hiện 12 vụ vi phạm môi trường, không tăng giảm so cùng kỳ năm 2019, trong đó thành phố Huế 5 vụ; thị xã Hương Trà 4 vụ; huyện Phong Điền 1 vụ; huyện Quảng Điền 1 vụ; huyện A Lưới 1 vụ. Các hình thức vi phạm:  Khai thác cát và khoáng sản trái phép 6 vụ; đỗ chất thải gây ô nhiễm 1 vụ; chặt phá rừng 1 vụ;  phát tờ rơi quảng cáo 2 vụ; sử dụng công cụ kích điện đánh bắt thủy sản trái phép 2 vụ. Các ngành chức năng đã tiến hành xử lý 11 vụ với số tiền xử phạt 599,5 triệu đồng. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 117 vụ vi phạm môi trường, giảm 74 vụ so với cùng kỳ năm trước, đã tiến hành xử lý 95 vụ với số tiền xử phạt 1.065,2 triệu đồng. Hình thức vi phạm chủ yếu như trên./.

CỤC TRƯỞNG






Gửi bởi    

HỆ THỐNG TÊN MIỀN MẠNG GSO
MÁY CHỦ TÊN MIỀN .GSO:
Chính:       10.0.1.1
Dự phòng: 10.0.1.2
  • Góc người dùng
Tên đăng nhập:
Mật khẩu:



Bạn đang dùng -

IP:3.92.74.105

Thống kê

Lượt truy cập  12987
Đang trực tuyến   30