MyLabel

Tình hình kinh tế xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế Tháng 10 năm 2015

10/23/2015
                                                                            TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI
                                                                                   THÁNG 10 NĂM 2015


1. Sản xuất nông lâm nghiệp và thủy sản
1.1. Nông nghiệp
Tháng 10/2015, sản xuất nông nghiệp vụ đông thực hiện trong điều kiện thời tiết mưa kéo dài nhiều ngày, nên tiến độ gieo trồng một số cây hàng năm chậm. Tính đến 15/10/2015, gieo trồng các loại cây hàng năm khác vụ đông đạt 318 ha, bằng 80,5% so cùng kỳ năm trước; trong đó ngô 3 ha, bằng 60%; khoai lang 125 ha, bằng 83,3%; rau các loại 188 ha, bằng 88,3%; ớt cay 2 ha, bằng 100%. 
Trong tháng 10 tiếp tục thực hiện chăm sóc cây lúa vụ mùa trên diện tích 623 ha, bằng 96,4% so cùng kỳ năm trước; toàn bộ diện tích lúa mùa tập trung ở huyện miền núi A Lưới; nguyên nhân lúa mùa giảm là do một số diện tích đầu vụ không đảm bảo nguồn nước nên không thể gieo cấy. Hiện nay lúa mùa đang trong giai đoạn sinh trưởng và phát triển tương đối tốt, sâu bệnh gây hại với mức độ và tỷ lệ thấp không ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây.
Chăn nuôi:
Trong 10 tháng đầu năm 2015, chăn nuôi gia súc, gia cầm tương đối ổn định và có bước phát triển, trên địa bàn toàn tỉnh không xảy ra dịch bệnh ở đàn gia súc và gia cầm. Tổng đàn trâu thời điểm 01/10/2015 đạt 21.263 con, giảm 1,5% so với cùng kỳ năm trước; đàn bò 22.816 con; tăng 2%; đàn lợn 202.324 con, tăng 0,3 %; đàn gia cầm 2.189 nghìn con, tăng 1%, trong đó đàn gà 1.502 nghìn con, tăng 0,4%; đàn vịt, ngan, ngỗng 687 nghìn con, tăng 2,2%.
Trong tháng 10/2015 tiếp tục triển khai công tác tiêm phòng gia súc, gia cầm vụ thu, tính đến 15/10/2015, tiêm phòng vắc xin tam liên lợn đạt 99.210 liều, bằng 83% kế hoạch; vắc xin tụ huyết trùng trâu bò 4.510 liều, bằng 85% kế hoạch; vắc xin dịch tả vịt 349.350 liều, bằng 62% kế hoạch; vắc xin Newcastle gà 352.585 liều, bằng 39% kế hoạch; vắc xin tụ huyết trùng gia cầm 15.020 liều, bằng 40% kế hoạch, vắc xin đậu gà 91.400 liều, bằng 62% kế hoạch; vắc xin VX+KT Gumboro 155.900 liều, bằng 56% kế hoạch; người chăn nuôi chủ động mua 353.600 liều vắc xin cúm gia cầm tại các cơ sở thú y để tiêm phòng.
1.2. Lâm nghiệp
Sản lượng gỗ khai thác trong tháng 10/2015 ước đạt 22.816 m3 gỗ tròn, tăng 32,2% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng củi khai thác đạt 13.455 ste, tăng 30,8 %. Tính chung 10 tháng đầu năm 2015, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 288.858 m3, tăng 21,2% so cùng kỳ năm trước, trong đó toàn bộ là gỗ khai thác từ rừng trồng. Sản lượng gỗ khai thác từ rừng trồng tăng cao chủ yếu do giá gỗ giữ ổn định và có mức tăng nhẹ, diện tích rừng trồng đến kỳ khai thác tăng khá cao so cùng kỳ, trồng rừng đem lại hiệu quả kinh tế đã khuyến khích người dân chăm sóc rừng và trồng mới rừng. Sản lượng củi khai thác 10 tháng đầu năm ước đạt 173.747 ste, tăng 19,7% so với cùng kỳ năm trước, sản lượng củi tăng do người dân thu củi từ việc khai thác gỗ rừng trồng. Hiện nay đang trong mùa mưa, thời tiết thuận lợi cho việc thực hiện các khâu lâm sinh, trong đó trồng rừng tập trung trong tháng 10 ước đạt 431 ha, tăng 4,9% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế từ đầu năm diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 1.321 ha, tăng 2,9%.
Trong tháng 10/2015 xảy ra 39 vụ vi phạm lâm luật, giảm 37 vụ so với tháng 10/2014; trong đó có 1 vụ phá rừng, 1 vụ vi phạm về phòng cháy chữa cháy rừng, 1 vụ vi phạm quy định về khai thác gỗ và lâm sản, 2 vụ vi phạm về quản lý động vật hoang dã, 8 vụ vi phạm về mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép, 26 vụ vi phạm khác; tịch thu 64 m3 gỗ tròn. Trong tháng 10/2015 đã xử lý 38 vụ vi phạm, tổng các khoản thu nộp ngân sách 100 triệu đồng. Tính từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 469 vụ vi phạm lâm luật, giảm 57 vụ, giảm 10,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vi phạm quy định về khai thác gỗ và lâm sản 1 vụ, vi phạm quy định về quản lý động vật hoang dã 15 vụ, mua bán vận chuyển lâm sản trái phép 106 vụ, vi phạm về quy định chế biến gỗ và lâm sản 1 vụ, vi phạm thủ tục vận chuyển 2 vụ, đưa công cụ, phương tiện vào rừng trái phép 4 vụ, vi phạm khác 295 vụ. Từ đầu năm đến nay xảy ra 7 vụ cháy rừng với diện tích rừng thiệt hại 17 ha, giảm 10 vụ, diện tích rừng thiệt hại giảm 6 ha so với cùng kỳ năm trước. Tình trạng chặt phá rừng làm nương rẫy vẫn còn xảy ra, nhất là đối với các huyện miền núi, vùng sâu, vùng xa. Từ đầu năm đến nay xảy ra 38 vụ phá rừng trái phép với diện tích rừng bị phá 9,4 ha; diện tích thiệt hại do phá rừng bằng với cùng kỳ nhưng số vụ phá rừng tăng 6 vụ. Cơ quan chức năng đã tiến hành xử lý 469 vụ vi phạm, tịch thu 628 m3 gỗ tròn, trong đó có 10 m3 gỗ quý hiếm. Tổng thu nộp ngân sách 2.874 triệu đồng, trong đó tiền phạt vi phạm 666 triệu đồng, tiền bán tang vật tịch thu 2.208 triệu đồng.
1.3. Thủy sản
Diện tích nuôi trồng thủy sản tháng 10/2015 ước đạt 33 ha, giảm 86,5% so với cùng kỳ năm trước; trong đó toàn bộ diện tích nuôi là tôm thẻ chân trắng ở trên cát 33 ha, tăng 65% so cùng kỳ; các loại thủy sản khác trong tháng không thả nuôi do đến mùa mưa bão. Lũy kế diện tích nuôi trồng thủy sản 10 tháng đầu năm 2015 ước đạt 6.749,1 ha, giảm 1,6% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu giảm diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng, cá nước lợ và nuôi thủy sản khác, tập trung ở huyện Phú Vang và huyện Phú Lộc. Diện tích cá tra, ba sa 3 ha, bằng cùng kỳ năm trước; diện tích nuôi tôm sú 2.347 ha, tăng 7,9%; nuôi tôm thẻ chân trắng 493,5 ha, giảm 6,6%; nuôi cua 529,7 ha, giảm 0,2%.
Lượng giống thả nuôi: Sản xuất giống trên địa bàn tỉnh trong tháng 10/2015 đã sản xuất được 4,7 triệu con, tăng 56,7% so với cùng kỳ năm trước, toàn bộ là cá giống các loại; nâng tổng số giống sản xuất 10 tháng đầu năm 2015 ước đạt 148,7 triệu con, tăng 1,8%, trong đó tôm sú 78 triệu con, cá giống 69,2 triệu con, cua, ếch giống 1,5 triệu con, phục vụ cho nhu cầu nuôi trong tỉnh, số giống còn lại mua ngoại tỉnh. Do vậy việc kiểm dịch tôm giống thiếu chặt chẽ, nguy cơ dịch bệnh có thể xảy ra.
Tháng 10/2015 lượng giống tôm thẻ chân trắng thả nuôi 37,6 triệu con, tăng 56,7% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 10 tháng đầu năm 2015 lượng tôm sú thả nuôi 145,6 triệu con, tăng 7,9%; tôm thẻ chân trắng thả nuôi 551,6 triệu con, giảm 3,9%; cá giống 100,9 triệu con, tăng 8,1%.
Sản lượng thu hoạch: Tháng 10/2015 sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 1.312 tấn, tăng 2,9% so với cùng kỳ năm trước; trong đó cá các loại 990 tấn, tăng 15,9%; tôm sú 67 tấn, tăng 4,79 lần; tôm thẻ chân trắng 80 tấn, giảm 61,9%; thủy sản khác 160 tấn, giảm 3%. Nguyên nhân sản lượng tôm thẻ chân trắng trong tháng giảm mạnh là do khâu tiêu thụ gặp nhiều khó khăn do giá tôm giảm, trong khi đó giá thức ăn, con giống nuôi giữ mức cao, mặt khác do tôm bị nhiễm bệnh nên người dân tiến hành thu hoạch sớm ở các tháng trước nhằm tránh thiệt hại.    
Lũy kế 10 tháng đầu năm 2015 sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 12.733 tấn, tăng 4,5% so với cùng kỳ năm trước; trong đó cá các loại 7.310 tấn, tăng 11,1%; tôm các loại 4.467 tấn, giảm 3,5%, chủ yếu giảm sản lượng tôm thẻ chân trắng, trong đó tôm sú 1.017 tấn, tăng 8,2%, tôm thẻ chân trắng 3.250 tấn, giảm 6,8%. Các loại thủy sản khác ước đạt 956 tấn, giảm 1,9% so cùng kỳ năm trước, trong đó cua 526 tấn, giảm 1,7%.
Tháng 10/2015 sản lượng khai thác thủy sản ước đạt 3.128 tấn, tăng 16,7% so với cùng kỳ năm trước; trong đó khai thác biển 2.750 tấn, tăng 20,1%; khai thác nội địa 378 tấn, giảm 3,3%. Lũy kế sản lượng thủy sản khai thác 10 tháng đầu năm 2015 ước đạt 33.373 tấn, tăng 7,1% so với cùng kỳ năm trước; trong đó khai thác biển 30.090 tấn, tăng 8,3%; khai thác nội địa 3.283 tấn, giảm 3,1%. Sản lượng khai thác nội địa giảm do nguồn lợi thủy sản và ngư trường đánh bắt ngày càng thu hẹp.
Tính chung sản lượng nuôi trồng và khai thác thủy sản 10 tháng đầu năm 2015 ước đạt 46.106 tấn, tăng 6,4% so cùng kỳ năm trước.
2. Sản xuất công nghiệp
Tháng 10 năm 2015, sản xuất công nghiệp trên địa bàn tiếp tục duy trì đà tăng trưởng, chỉ số sản xuất tăng 1,99% so với tháng trước và tăng 8,31% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng đầu năm 2015 chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 9,3%, bằng mức tăng của cùng kỳ năm 2014; trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,26%; ngành sản xuất, phân phối điện tăng 39,2%; ngành cung cấp nước và xử lý nước thải, rác thải tăng 10,9%; riêng ngành khai khoáng giảm 16,49%.
Một số ngành công nghiệp có chỉ số sản xuất 10 tháng đầu năm tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất sợi tăng 22,48%; may mặc tăng 6,53%; sản xuất xi măng, thạch cao tăng 70,78%; sản xuất ô tô tăng 2,45 lần; sản xuất và phân phối điện tăng 41% (trong đó điện sản xuất tăng 47,23%); thu gom rác thải tăng 22,73%.
Một số ngành công nghiệp có chỉ số sản xuất 10 tháng đầu năm giảm so với cùng kỳ năm trước: Khai thác quặng ti tan giảm 33,87%; sản xuất bia giảm 3,18%; chế biến thủy sản giảm 10,26%; chế biến dăm gỗ giảm 3,5%; in ấn giảm 18,28%; sản xuất gạch ngói giảm 1,19%.
Sản xuất bia hiện đang gặp phải sự cạnh tranh gay gắt với các thương hiệu mạnh nên khả năng phát triển và mở rộng thị trường gặp nhiều khó khăn, một số thị trường truyền thống cũng đang có xu hướng giảm dần doanh số tiêu thụ. Chỉ số sản xuất ngành bia 10 tháng đầu năm 2015 giảm 3,18%, cách biệt khá lớn so với con số tăng 13,39% của cùng kỳ năm 2014.
Chỉ số sản xuất ngành chế biến thủy sản giảm khá mạnh do thị trường Nhật Bản kể từ đầu năm đến nay gặp khó khăn cùng với việc đồng đô la tăng giá và đồng yên Nhật giảm giá.
Các sản phẩm công nghiệp chủ yếu có mức sản xuất tăng khá trong 10 tháng đầu năm 2015 so cùng kỳ năm trước: Đá vôi nguyên liệu đạt 833,5 nghìn m3, tăng 14,09%; sợi các loại 53 nghìn tấn, tăng 22,48%; quần áo lót 221,4 triệu cái, tăng 5,91%; clanhke 1.805,9 nghìn tấn, tăng 2,1 lần; xi măng 1.318,7 nghìn tấn, tăng 42,27%; men frit 70 nghìn tấn, tăng 74,43%; xe ô tô 76 chiếc, tăng 2,45 lần; điện sản xuất 810,7 triệu kwh, tăng 47,23%; rác thải 104,4 nghìn tấn, tăng 22,73%.
Các sản phẩm có mức sản xuất giảm  trong 10 tháng đầu năm so cùng kỳ: Quặng inmenit đạt 15,2 nghìn tấn, giảm 29,22%; Quặng zircon, rutile 9 nghìn tấn, giảm 33,87%; đá xây dựng khác 759,8 nghìn tấn, giảm 5,04%; mực đông lạnh 636,3 tấn, giảm 28,29%; bia đóng chai 94,4 triệu lít, giảm 6,42%; bia lon 72,7 triệu lít, giảm 1,22%; dăm gỗ 445,2 nghìn tấn, giảm 3,5%; gạch nung 125,8 triệu viên, giảm 1,19%; bê tông trộn sẵn 71,5 nghìn m3, giảm 24,68%.
3. Đầu tư
Tổng vốn đầu tư thực hiện theo giá hiện hành trên địa bàn trong 10 tháng đầu năm 2015 ước đạt 13.295 tỷ đồng,  bằng 82,1%  KH năm, tăng 9,8% so với cùng kỳ năm trước; trong đó vốn Trung ương quản lý 3.963 tỷ đồng, bằng 81,1% KH, tăng 19,9%, chiếm 29,8% tổng vốn; vốn Địa phương quản lý 9.332 tỷ đồng, bằng 82,5% KH, tăng 6,1%, chiếm 70,2%.
Vốn thuộc ngân sách Nhà nước đạt 3.209 tỷ đồng, bằng 84,6% KH, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 24,1% tổng vốn, gồm có: Vốn ngân sách Trung ương quản lý 1.345 tỷ đồng, bằng 81,8% KH, tăng 12,3%; vốn ngân sách Địa phương  quản lý 1.864 tỷ đồng, bằng 86,7% KH, giảm 0,9%. Nguồn vốn tín dụng đạt 5.515 tỷ đồng, bằng 82,6% KH, tăng 21,7% so cùng kỳ, chiếm 41,5% trong tổng vốn; vốn đầu tư của doanh nghiệp 1.668 tỷ đồng, bằng 81,4% KH, tăng 18,2%, chiếm 12,5%; vốn viện trợ 610 tỷ đồng, bằng 46,3% KH, giảm 16,7%, chiếm 4,6%; vốn đầu tư nước ngoài 798 tỷ đồng, bằng 120,9% KH, giảm 19,9%, chiếm 6%.
Tính từ đầu năm đến nay, tổng số dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài có 8 dự án được cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 445,57 triệu USD, bằng về số dự án và tăng gấp 10,5 lần về số vốn so với cùng kỳ năm 2014. Trong số 8 dự án được cấp phép, đầu tư vào thông tin truyền thông 1 dự án và thương mại 1 dự án của Nhật Bản với tổng số vốn đăng ký 0,37 triệu USD; dịch vụ lữ hành 1 dự án của Lào với số vốn đăng ký 1,93 triệu USD; xuất khẩu thủy sản 1 dự án của Hàn Quốc với số vốn đăng ký 0,1 triệu USD; giáo dục 1 dự án của Pháp với số vốn đăng ký 0,26 triệu USD và 3 dự án của Trung Quốc đầu tư (2 dự án về công nghiệp và 1 dự án về du lịch) với số vốn đăng ký 442,91 triệu USD, chiếm 99,4% tổng số vốn đăng ký của các dự án nước ngoài trên địa bàn tỉnh.
Trong 10 tháng đầu năm 2015 có 2 dự án bổ sung vốn đầu tư với tổng số vốn bổ sung là 5,08 triệu USD. Trong đó, 1 dự án về khu văn phòng và căn hộ cao cấp với tổng số vốn bổ sung 0,94 triệu USD; 1 dự án về xây dựng siêu thị tổng hợp, trung tâm thương mại với tổng số vốn bổ sung 4,14 triệu USD.
4. Thương mại, giá cả, dịch vụ
a. Bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 10/2015 ước đạt 2.495,1 tỷ đồng, giảm 0,47% so với tháng trước và tăng 7,81% so với cùng kỳ năm trước. Chia theo loại hình kinh tế, kinh tế Nhà nước đạt 206,5 tỷ đồng, chiếm 8,3% tổng số, giảm 1,44% so với tháng trước và giảm 1,51% so với cùng kỳ năm trước; kinh tế ngoài Nhà nước đạt 2.226,3 tỷ đồng, chiếm 89,2%, tương ứng giảm 0,48% và tăng 9,12%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 62,3 tỷ đồng, chiếm 2,5%, tăng 3,58% và giảm 3,55%.
Xét theo ngành hàng, doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 10/2015 ước đạt 1.974 tỷ đồng, chiếm 79,1% tổng số, giảm 0,47% so với tháng trước và tăng 9,81% so với cùng kỳ năm trước. Một số ngành hàng giảm so với tháng trước: Gỗ và vật liệu xây dựng giảm 3,24%, xăng dầu các loại giảm 2,4%; vật phẩm văn hóa, giáo dục giảm 0,29%. Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống tháng 10/2015 ước  đạt 372,6 tỷ đồng, chiếm 14,9%, giảm 0,22% so với tháng trước và giảm 1,89% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ du lịch lữ hành 9,6 tỷ đồng, chiếm 0,4%, tương ứng giảm 3,06% và giảm 8,19%; doanh thu dịch vụ khác 138,9 tỷ đồng, chiếm 5,6%, giảm 0,89% và tăng 7,79%.
Tính chung 10 tháng đầu năm 2015, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trên địa bàn tỉnh ước đạt 25.151,5 tỷ đồng, tăng 8,67% so với cùng kỳ năm trước. Xét theo loại hình kinh tế: Kinh tế Nhà nước đạt 2.122 tỷ đồng, chiếm 8,4% tổng số và tăng 0,64%; kinh tế ngoài Nhà nước 22.317,3 tỷ đồng, chiếm 88,7%, tăng 9,55%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 712,2 tỷ đồng, chiếm 2,8%, tăng 7,14%. Trong tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 10 tháng đầu năm 2015, kinh doanh bán lẻ hàng hóa đạt 19.463 tỷ đồng, chiếm 77,4% tổng số và tăng 9,94% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ lưu trú và ăn uống 4.155,8 tỷ đồng, chiếm 16,5% và tăng 2,96%; du lịch lữ hành 123,2 tỷ đồng, chiếm 0,5% và giảm 0,01%, dịch vụ khác 1.409,5 tỷ đồng, chiếm 5,6% và tăng 9,95%.
 b. Xuất, nhập khẩu hàng hóa
 Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 10/2015 ước đạt 58,79 triệu USD, tăng 2,07% so với tháng trước và tăng 0,55% so cùng kỳ năm trước; trong đó khu vực kinh tế Nhà nước đạt 9,62 triệu USD, tương ứng giảm 3,8% và tăng 3,62%; kinh tế tư nhân đạt 13,07 triệu USD, tăng 5,14% và giảm 4,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 36,09 triệu USD, tăng 2,66% và tăng 1,82%.
Tính chung 10 tháng đầu năm 2015, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước đạt 531,37 triệu USD, tăng 3,53% so cùng kỳ năm trước; trong đó khu vực kinh tế Nhà nước đạt 92,55 triệu USD, giảm 5,53%; kinh tế tư nhân 125,31 triệu USD, tăng 4,07%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 313,5 triệu USD, tăng 6,32%.
Trong 10 tháng đầu năm 2015, các nhóm hàng xuất khẩu chiếm tỉ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu: Hàng dệt may đạt 337,87 triệu USD, chiếm 63,6%; xơ, sợi dệt các loại 82,33 triệu USD, chiếm 15,5%; sản phẩm gỗ 51,81 triệu USD, chiếm 9,8%; hàng thủy sản 31,17 triệu USD, chiếm 5,9%.
Về thị trường xuất khẩu, Hoa Kỳ là thị trường có kim ngạch lớn nhất ước đạt 243,51 triệu USD, chiếm 45,8%  trong tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu và giảm 4,93% so với cùng kỳ năm trước; Nhật Bản 79,18 triệu USD, chiếm 14,9% và tăng 50,7%; thị trường EU 49,56 triệu USD, chiếm 9,3% và tăng 19,44%; Thổ Nhĩ Kỳ 30,36 triệu USD, chiếm 5,7% và giảm 35,69%; còn lại các nước khác đạt 128,76 triệu USD, chiếm 24,2% và tăng 11,11%.
Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 10/2015 ước đạt 35,83 triệu USD, tăng 1,04% so với tháng trước và tăng 1,2% so cùng kỳ năm trước; trong đó khu vực kinh tế Nhà nước đạt 4,59 triệu USD, tương ứng giảm 4,34% và giảm 24,45%; kinh tế tư nhân 9,52 triệu USD, tăng 2,81% và giảm 24,07%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 21,72 triệu USD, tăng 1,48% và tăng 29,37%.
Tính chung 10 tháng đầu năm 2015, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa ước đạt 324,21 triệu USD, giảm 1,49% so cùng kỳ năm trước; trong đó khu vực kinh tế Nhà nước đạt 55,71 triệu USD, giảm 5,66%; kinh tế tư nhân 85,66 triệu USD, giảm 5,69%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 182,83 triệu USD, tăng 2,02%.
Trong 10 tháng đầu năm, các nhóm hàng nhập khẩu chiếm tỉ trọng lớn trong tổng kim ngạch nhập khẩu: Vải các loại đạt 184,12 triệu USD, chiếm 56,8%; xơ, sợi dệt các loại 47,21 triệu USD, chiếm 14,6%; nguyên phụ liệu dệt may 23,63 triệu USD, chiếm 7,3%; bông các loại 25,86 triệu USD, chiếm 8%.
Đối với thị trường nhập khẩu, Trung Quốc vẫn là thị trường lớn nhất với kim ngạch đạt 171,03 triệu USD, chiếm 52,8% tổng kim ngạch hàng hóa nhập khẩu và giảm 0,27% so cùng kỳ năm trước; Đài Loan 48,48 triệu USD, chiếm 15% và tăng 19,5%; thị trường Châu Phi 31,07 triệu USD, chiếm 9,6% và tăng 32,24%; thị trường Asean 14,78 triệu USD, chiếm 4,6% và giảm 38,32%; còn lại các nước khác đạt 58,85 triệu USD, chiếm 18,2% và giảm 15,43%.
Như vậy hoạt động xuất siêu trên địa bàn tỉnh 10 tháng đầu năm 2015 ước đạt 207,16 triệu USD, bằng 38,99% tổng kim ngạch xuất khẩu và tăng 12,49% so với cùng kỳ năm trước.
c. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI), chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ
Chỉ số giá tiêu dùng chung toàn tỉnh tháng 10/2015 tăng 0,12% so với tháng trước, nguyên nhân chủ yếu do học phí trường đại học dân lập tăng, đồng thời một số mặt hàng may mặc và lương thực, thực phẩm tháng này cũng tăng nhẹ. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tháng 10/2015 tăng so với tháng trước: Nhóm giáo dục tăng 0,88%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,27%; thực phẩm tăng 0,22%; lương thực tăng 0,18%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,1%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,1%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm: Nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,52%; đồ uống và thuốc lá giảm 0,03%; giao thông giảm 0,01%. Các nhóm bưu chính viễn thông; văn hoá, giải trí và du lịch; ăn uống ngoài gia đình không tăng, giảm.
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 10/2015 tăng 0,62% so với tháng 12 năm trước và tăng 0,17% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 10 tháng năm 2015 tăng 0,9% so với bình quân cùng kỳ năm 2014.
Chỉ số giá vàng tháng 10/2015 tăng 0,06% so với tháng trước, giảm 1,21% so với tháng 12 năm trước và giảm 2,69% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 10/2015 tăng 0,03% so với tháng trước, tăng 4,71% so với tháng 12 năm trước và tăng 5,4% so với cùng kỳ năm trước.
d. Vận tải hành khách và hàng hóa  
Vận tải hành khách tháng 10/2015 ước đạt 1.523,8 nghìn lượt khách và 72,2 triệu lượt khách.km, giảm 1,84% về lượt khách và giảm 0,1% về lượt khách.km so với tháng trước; tăng 0,91% về lượt  khách và tăng 0,02% về lượt khách.km so cùng kỳ năm trước.
Dự ước 10 tháng đầu năm 2015 vận tải hành khách đạt 15.816 nghìn lượt khách, tăng 2,97% và 718,6 triệu lượt khách.km, tăng 1,66% so cùng kỳ năm trước; trong đó vận tải hành khách đường bộ ước đạt 15.627,1 nghìn lượt khách, tăng 6,84% và 718,2 triệu lượt khách.km, tăng 2,07%.
Vận tải hàng hóa tháng 10/2015 ước đạt 653,9 nghìn tấn và 51,8 triệu tấn.km, giảm 2,02% về tấn và giảm 0,17% về tấn.km so với tháng trước; tăng 13,22% về tấn và tăng 13,23% về tấn.km so cùng kỳ năm trước.
Trong 10 tháng đầu năm 2015, vận tải hàng hóa ước đạt 6.367,7 nghìn tấn, tăng 12,59% và 523,5 triệu tấn.km tăng 13,48% so cùng kỳ năm trước; trong đó vận tải hàng hóa đường bộ ước đạt 6.193,7 nghìn tấn, tăng 13,02% và 439,9 triệu tấn.km tăng 9,94%; đường biển đạt 75,36 nghìn tấn, tăng 15,64% và 82,8 triệu tấn.km, tăng 37,97%.
Doanh thu vận tải, bốc xếp tháng 10/2015 ước đạt 160,3 tỷ đồng, giảm 2,01% so với tháng trước và tăng 11,39% so cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng đầu năm 2015, doanh thu vận tải, bốc xếp ước đạt 1.605,9 tỷ đồng, tăng 10,62% so cùng kỳ năm trước; trong đó đường bộ đạt 1.490 tỷ đồng, tăng 9,72%; đường biển 110,3 tỷ đồng, tăng 30,33%. Chia theo loại hình dịch vụ thì doanh thu vận tải hành khách đạt 449,3 tỷ đồng, tăng 2,72%; doanh thu vận tải hàng hóa đạt 1.046,3 tỷ đồng, tăng 13,13%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 110,3 tỷ đồng, tăng 23,34%.
e. Lượt khách các cơ sở lưu trú phục vụ và du lịch lữ hành
Tháng 10 năm 2015, ước tính lượt khách phục vụ đạt 114,7 nghìn lượt khách, giảm 5,49% so với tháng trước và giảm 7,8% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: lượt khách ngủ qua đêm đạt 102,3 nghìn lượt khách, tương ứng giảm 4,28% và giảm 8,09%; lượt khách trong ngày đạt 12,4 nghìn lượt khách, giảm  14,38% và giảm 5,3%. Tính chung 10 tháng đầu năm 2015, lượt khách phục vụ ước đạt 1.496,7 nghìn lượt khách, giảm 4,32% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: lượt khách ngủ qua đêm đạt 1.340,1 nghìn lượt khách, giảm 4,4%; lượt khách trong ngày đạt 156,6 nghìn lượt khách, giảm 3,63%.
Trong lượt khách ngủ qua đêm tháng 10/2015, khách quốc tế đạt 55,9 nghìn lượt khách, tăng 16,91% so với tháng trước và giảm 0,65% so với cùng kỳ năm trước; khách trong nước đạt 46,4 nghìn lượt khách, tương ứng giảm 21,44% và giảm 15,71%. Trong tổng lượt khách ngủ qua đêm 10 tháng đầu năm 2015, khách quốc tế đạt 615,4 nghìn lượt khách, giảm 2,28% so với cùng kỳ năm trước; khách trong nước đạt 724,7 nghìn lượt khách, giảm 6,13%. Tổng ngày khách phục vụ 10 tháng đầu năm 2015 đạt 2.850,3 nghìn ngày khách, giảm 4,82% so với cùng kỳ năm trước; trong đó ngày khách quốc tế 1.377,1 nghìn ngày khách, giảm 2,77%; ngày khách trong nước 1.473,2 nghìn ngày khách, giảm 6,67%.
Doanh thu các cơ sở lưu trú tháng 10/2015 ước đạt 91,7 tỷ đồng, giảm 4,02% so với tháng trước và giảm 9,2% so cùng kỳ năm trước. Đưa doanh thu các cơ sở lưu trú 10 tháng đầu năm 2015 ước đạt 1.245,1 tỷ đồng, giảm 1,05% so cùng kỳ năm trước.
Hoạt động du lịch lữ hành: Tháng 10/2015 ước tính lượt khách du lịch theo tour đạt 6,2 nghìn lượt, giảm 3,2% so với tháng trước và giảm 6,33% so cùng kỳ năm trước. Đưa tổng lượt khách theo tour thực hiện 10 tháng đầu năm 2015 ước đạt 75,2 nghìn lượt, giảm 3,38% so cùng kỳ năm trước. Dự ước ngày khách theo tour 10 tháng đầu năm 2015 đạt 155,9 nghìn ngày, giảm 4,18% so cùng kỳ năm trước.
5. Tài chính, ngân hàng
Tổng thu ngân sách 10 tháng đầu năm 2015 ước đạt 4.183,7 tỷ đồng, bằng 85,7% dự toán năm, tăng 9,15% so cùng kỳ năm trước; trong đó thu nội địa 3.594,9 tỷ đồng, bằng 87,3% DT, tăng 15,58%; thu thuế xuất nhập khẩu 259,9 tỷ đồng, bằng 66,7%DT, giảm 15,2%.
Trong thu nội địa: Thu doanh nghiệp Nhà nước đạt 370,5 tỷ đồng, bằng 82,3%DT, tăng 14,3% so cùng kỳ năm trước; thu DN có vốn đầu tư nước ngoài 1.259,7 tỷ đồng, bằng 79,5%DT, tăng 6,69%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 694 tỷ đồng, bằng 78,7%DT, tăng 11,82%; thu thuế thu nhập cá nhân đạt 151,5 tỷ đồng, bằng 101%DT, tăng 18,5%; thu thuế bảo vệ môi trường 205 tỷ đồng, bằng 140,4%DT, tăng 91,29%.
Tổng chi ngân sách địa phương 10 tháng đầu năm 2015 ước đạt 5.437,4 tỷ đồng, bằng 76,8%DT; trong đó chi đầu tư phát triển 882,8 tỷ đồng, bằng 60,2%DT; chi sự nghiệp kinh tế đạt 415,9 tỷ đồng, bằng 75,6%DT; chi sự nghiệp giáo dục đào tạo 1.884,1 tỷ đồng, bằng 82,9%DT; chi sự nghiệp y tế 355,1 tỷ đồng, bằng 78,2%DT; chi quản lý Nhà nước 831,7 tỷ đồng, bằng 85,9%DT.
Ngân hàng: Tổng nguồn vốn huy động đến cuối tháng 9/2015 đạt 27.458 tỷ đồng, tăng 13% so với đầu năm.
Tổng dư nợ cho vay toàn địa bàn đến cuối tháng 9/2015 đạt 24.886 tỷ đồng tăng 4,4% so với đầu năm; trong đó dư nợ cho vay ngắn hạn đạt 8.461 tỷ đồng, chiếm 34% trong tổng dư nợ; dư nợ cho vay bằng VND đạt 23.343 tỷ đồng, chiếm 93,8%.
Trong tháng 9 năm 2015, lãi suất huy động bằng VNĐ không có kỳ hạn hoặc có kỳ hạn dưới 1 tháng tiếp tục duy trì ổn định và không có sự thay đổi so với đầu năm, đối với lãi suất không có kỳ hạn hoặc có kỳ hạn dưới 1 tháng phổ biến ở mức 0,8 - 1%/năm; kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng ở mức 4,0% - 5,4%/năm;  kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng dao động ở mức 5,4% - 6,2%/năm; kỳ hạn từ 12 tháng trở lên phổ biến ở mức 6,2% - 7,0%/năm. Lãi suất huy động USD tiếp tục duy trì ổn định và không có sự thay đổi so với đầu năm, đối với cá nhân ở mức 0,75%/năm, đối với tổ chức 0,25%/ năm.
Lãi suất cho vay các lĩnh vực ưu tiên phổ biến ở mức 6 - 7%/ năm đối với ngắn hạn, trung và dài hạn ở mức 8% - 10%/ năm. Lãi suất cho vay các lĩnh vực SXKD thông thường phổ biến ở mức 6,8% - 9%/ năm đối với vay ngắn hạn; tuy nhiên so với đầu năm lãi suất cho vay trung, dài hạn được điều chỉnh giảm 0,2%/năm, phổ biến ở mức 9% - 11%/ năm. Lãi suất cho vay USD phổ biến ở mức 3 - 6,7%/ năm; trong đó lãi suất cho vay ngắn hạn 3% - 5,5%/ năm; cho vay trung, dài hạn 5,5% - 6,7%/năm.
6. Một số vấn đề xã hội
a. Giáo dục
Ngày 14/10/2015, Bộ Giáo dục - Đào tạo đã trao quyết định công nhận tỉnh Thừa Thiên Huế đạt chuẩn Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi giai đoạn 2010-2015.
Năm năm qua, ngành học Mầm non của tỉnh đã phát triển nhanh về quy mô trường lớp, tỷ lệ trẻ em ra lớp ngày càng tăng, cụ thể: Tổng số trẻ ra lớp độ tuổi từ 0 đến 2 tuổi đạt 21,2% vào năm 2010, đến năm 2015 đạt 27,1 % (tăng 5,9%); Độ tuổi từ 3 đến 5 tuổi ra lớp đạt 76,1 % vào năm 2010, đến năm 2015 đạt 84,6% (tăng 8,5 %); trong đó, trẻ 5 tuổi ra lớp đạt  92,7% vào năm 2010, đến năm 2015 đạt 99,15% (tăng 6,45%). Có 585/585 lớp 5 tuổi trên địa bàn tỉnh đủ phòng học đạt chuẩn. Từ năm 2010 cho đến nay, toàn tỉnh đã tuyển thêm 3.260 giáo viên và nhân viên cho ngành học Mầm non, nâng tổng số cán bộ, giáo viên của ngành hiện nay là 4.378 người. Trong 5 năm qua, đã tạo điều kiện cho 3.627 cán bộ, giáo viên đi học để nâng cao trình độ, trong đó có 918  giáo viên dạy lớp 5 tuổi, tổng số giáo viên dạy lớp 5 tuổi đạt trình độ trên chuẩn chiếm 90,3%. Công tác đầu tư xây dựng cơ sở vật chất thiết bị thực hiện chương trình giáo dục mầm non cũng được quan tâm, 5 năm qua, đã đầu tư xây mới 396 phòng học và mua sắm 585 bộ thiết bị đồ chơi tối thiểu và 548 thiết bị đồ chơi ngoài trời, với tổng kinh phí gần 654 tỷ đồng. Đến nay, toàn tỉnh có 1.867 phòng học cho tất cả các độ tuổi.
b. Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm
Tháng 9/2015, trên địa bàn tỉnh đã có 4 ca mắc sốt rét, giảm 5 ca so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu là sốt rét thường;  90 ca mắc sốt xuất huyết, tăng 62 ca, trong đó có 36 ca dương tính; 31 ca mắc viêm gan siêu trùng, tăng 11 ca;  21 ca mắc bệnh Tay-Chân-Miệng, giảm 27 ca. Không có trường hợp nào tử vong. Tính chung từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã có 59 ca mắc sốt rét, giảm 24 ca so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu là sốt rét thường; 212 ca mắc sốt xuất huyết, tăng 91 ca; 197 ca mắc viêm gan siêu trùng, tăng 104 ca; 38 ca mắc bệnh Tay-Chân-Miệng, giảm 61 ca. Không có trường hợp nào tử vong. Không có ca mắc bệnh viêm não vi rút, giảm 1 ca so cùng kỳ; không có ca mắc thương hàn, bằng cùng kỳ.
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế đang có nguy cơ xảy ra dịch sốt xuất huyết. Năm nay, dịch sốt xuất huyết do loài muỗi vằn gây ra xuất hiện khá sớm. Để ứng phó, ngành Y tế tỉnh đã phối hợp với các đơn vị liên quan triển khai kiểm tra thực địa tại một số xã, tích cực xử lý các ổ có nguy cơ gây dịch và tiến hành nhiều biện pháp phòng dịch ở khắp các xã, phường, thị trấn. Ngành Y tế cũng đã chuẩn bị cơ số thuốc, trang thiết bị, giường bệnh để kịp thời điều trị cho tất cả các bệnh nhân khi bị mắc bệnh.
Tháng 9/2015, qua kiểm tra đã phát hiện 3 ca nhiễm HIV, có 1 ca chuyển qua AIDS, không có ca tử vong do AIDS. Từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 57 ca nhiễm HIV, có 12 ca chuyển qua AIDS và đã có 7 ca tử vong. Như vậy tính đến thời điểm hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 1.402 ca nhiễm HIV, 518 ca chuyển qua AIDS và đã có 330 ca tử vong.
Từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh không có trường hợp ngộ độc thực phẩm xảy ra.
c. Hoạt động văn hóa - thể thao
Trong tháng 10/2015 một số sự kiện văn hóa thể thao sẽ được tổ chức trên địa bàn tỉnh như: Tổ chức các hoạt động chào mừng Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên Huế lần thứ XV; tổ chức Giải Việt dã truyền thống "Cùng Sacombank chạy vì sức khỏe cộng đồng" lần thứ IX, Giải lần này thu hút hơn 500 VĐV nam, nữ đến từ các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp, Trung học phổ thông, Trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Huế.
d. Tai nạn giao thông
Trong tháng 9/2015, trên địa bàn tỉnh xảy ra 51 vụ tai nạn và va chạm giao thông đường bộ, giảm 21 vụ; làm chết 15 người, tăng 7 người; bị thương 52 người, giảm 13 người so với cùng kỳ năm trước. Tai nạn giao thông đường sắt và đường thủy không xảy ra. Tính chung 9 tháng đầu năm 2015, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 391 vụ tai nạn giao thông, giảm 228 vụ so với cùng kỳ năm trước; làm chết 119 người, giảm 3 người; bị thương 364 người, giảm 259 người. Trong đó tai nạn giao thông đường bộ xảy ra 385 vụ, giảm 230 vụ; làm chết 113 người, giảm 6 người; bị thương 363 người, giảm 258 người; tai nạn giao thông đường sắt xảy ra 6 vụ, tăng 2 vụ; làm chết 6 người, tăng 3 người; làm 1 người bị thương, giảm 1 người; tai nạn đường thủy không xảy ra.
e. Tình hình cháy, nổ, vi phạm môi trường
Từ đầu tháng 10/2015 đến nay, trên địa bàn tỉnh  xảy ra 5 vụ cháy, tăng 5 vụ so cùng kỳ năm trước, không có người chết và bị thương, ước tổng thiệt hại 5.027 triệu đồng. Trong đó lớn nhất là 01 vụ cháy chợ Tứ Hạ thuộc Thị xã Hương Trà thiệt hại khoảng 5.000 triệu đồng, UBND tỉnh đã trích ngân sách tỉnh số tiền 447 triệu đồng để hỗ trợ cho các hộ có thiệt hại lớn từ vụ cháy. Tính chung từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 24 vụ cháy, giảm 5 vụ so cùng kỳ năm trước; làm chết 1 người, không tăng giảm; không có người bị thương, giảm 2 người; tổng giá trị thiệt hại gần 15.902 triệu đồng. Không xảy ra vụ nổ, bằng cùng kỳ năm trước.
Từ đầu tháng 10/2015 đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 6 vụ vi phạm môi trường, giảm 16 vụ so với cùng kỳ năm trước, đã tiến hành xử lý 6 vụ với số tiền phạt 29 triệu đồng. Tính chung từ đầu năm đến nay, đã xảy ra 146 vụ vi phạm môi trường, tăng 5 vụ so với cùng kỳ năm trước, đã tiến hành xử lý 146 vụ với số tiền phạt 2.043 triệu đồng.
Các hành vi vi phạm gồm: thải nước thải ra môi trường không qua xử lý 24 vụ; khai thác và vận chuyển cát sạn trái phép 37 vụ; vận chuyển đất đá, cát sạn rơi vãi 61 vụ; khai thác đất trái phép để san lấp mặt bằng 2 vụ; khai thác rừng trái phép 19 vụ; vận chuyển hàng nhập lậu không rõ nguồn gốc 3 vụ./.

Gửi bởi    

HỆ THỐNG TÊN MIỀN MẠNG GSO
MÁY CHỦ TÊN MIỀN .GSO:
Chính:       10.0.1.1
Dự phòng: 10.0.1.2
  • Góc người dùng
Tên đăng nhập:
Mật khẩu:



Bạn đang dùng -

IP:54.236.59.154

Thống kê

Lượt truy cập  2165
Đang trực tuyến   3