MyLabel

Tình hình kinh tế xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế tháng 11 năm 2015

11/23/2015
                                                                TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI
                                                                      THÁNG 11 NĂM 2015


1. Sản xuất nông lâm nghiệp và thủy sản
1.1. Nông nghiệp
Sản xuất nông nghiệp tháng 11/2015 tập trung cho việc gieo trồng cây hàng năm khác vụ đông và thu hoạch lúa mùa, những ngày đầu tháng này lượng mưa khá nhưng không gây ngập úng, nền nhiệt độ trung bình phù hợp cho việc gieo trồng. Tính đến 15/11/2015, gieo trồng các loại cây hàng năm khác vụ đông đạt 1.507 ha, bằng  104,8% so cùng kỳ năm trước; trong đó ngô 20 ha, bằng 90,9%; khoai lang 760 ha, bằng 97,4%; rau các loại 613 ha, bằng 104%; ớt cay 15 ha, bằng 115,4%; cây lạc 10 ha, bằng 111,1%; cây hoa các loại 56,5 ha, xấp xỉ so với cùng kỳ. 
Thu hoạch lúa vụ mùa đến 15/11/2015 đạt 416 ha, bằng 92,4% so cùng kỳ năm trước, năng suất cả vụ Mùa ước đạt 16 tạ/ha, bằng 100% cùng kỳ; toàn bộ diện tích lúa mùa tập trung ở huyện miền núi A Lưới.
Chăn nuôi: Trên cơ sở kết quả điều tra chăn nuôi 01/10/2015 và thu thập thông tin về tình hình thực tế chăn nuôi của các địa phương trong tỉnh. Tổng đàn trâu thời điểm 01/11/2015 ước đạt 21.574 con, giảm 0,1% so với cùng kỳ năm trước; đàn bò 25.364 con; tăng 13,3%; đàn lợn 202.316 con, tăng 0,5%; đàn gia cầm 2.181,7 nghìn con, bằng xấp xỉ năm trước, trong đó đàn gà 1.504,9 nghìn con, giảm  0,1%.
Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn toàn tỉnh không xảy ra dịch bệnh ở đàn gia súc, gia cầm. Tính đến 15/11/2015, tiêm phòng vắc xin tam liên lợn đạt 102.820 liều, bằng 86% kế hoạch; vắc xin tụ huyết trùng trâu bò 4.640 liều, bằng 87% kế hoạch; vắc xin long mồm lở móng trâu bò 36.435 liều, bằng 87% kế hoạch; vắc xin long mồm lở móng lợn 22.860 liều, bằng 91% kế hoạch; vắc xin dịch tả vịt 371.100 liều, bằng 65% kế hoạch; vắc xin Newcastle gà 404.895 liều, bằng 44% kế hoạch; vắc xin tụ huyết trùng gia cầm 18.000 liều, bằng 47% kế hoạch, vắc xin đậu gà 114.400 liều, bằng 78% kế hoạch; vắc xin VX+KT Gumboro 206.800 liều, bằng 74% kế hoạch; vắc xin cúm gia cầm đạt 379.600 liều, bằng 54% kế hoạch.
1.2. Lâm nghiệp
Sản lượng gỗ khai thác trong tháng 11/2015 ước đạt 7.348 m3 gỗ tròn, tăng 38,2% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng củi khai thác đạt 4.372 ste, tăng 35,3 %. Tính chung mười một tháng đầu năm 2015, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 296.206 m3, tăng 21,5% so cùng kỳ năm trước, trong đó toàn bộ là gỗ khai thác từ rừng trồng. Sản lượng gỗ khai thác từ rừng trồng tăng cao chủ yếu do giá gỗ giữ ổn định và có mức tăng nhẹ, diện tích rừng trồng đến kỳ khai thác tăng khá cao so cùng kỳ, trồng rừng đem lại hiệu quả kinh tế đã khuyến khích người dân chăm sóc rừng và trồng mới rừng. Sản lượng củi khai thác mười một tháng đầu năm ước đạt 178.119 ste, tăng 20% so với cùng kỳ năm trước, sản lượng củi tăng do người dân thu củi từ việc khai thác gỗ rừng trồng. Hiện nay đang trong mùa mưa, thời tiết thuận lợi cho việc thực hiện các khâu lâm sinh, trong đó trồng rừng tập trung trong tháng 11 ước đạt 1.864 ha, tăng 0,8% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế từ đầu năm diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 3.185 ha, tăng 1,7%.
Trong tháng 11/2015 xảy ra 58 vụ vi phạm lâm luật, tăng 27 vụ so với tháng 11/2014; trong đó có 3 vụ phá rừng, 19 vụ vi phạm quy định về khai thác gỗ và lâm sản, 1 vụ vi phạm về quản lý động vật hoang dã, 5 vụ vi phạm quy định về chế biến gỗ và lâm sản, 30 vụ vi phạm khác; tịch thu 72 m3 gỗ tròn. Trong tháng 11/2015 đã xử lý 58 vụ vi phạm, tổng các khoản thu nộp ngân sách 466 triệu đồng. Tính từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 527 vụ vi phạm lâm luật, giảm 34 vụ, giảm 6,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó phá rừng trái phép 41 vụ với diện tích rừng bị phá 9,8 ha, vi phạm quy định về khai thác gỗ và lâm sản 3 vụ, 7 vụ cháy rừng làm thiệt hại 17 ha, vi phạm quy định về quản lý động vật hoang dã 17 vụ, mua bán vận chuyển lâm sản trái phép 125 vụ. Cơ quan chức năng đã tiến hành xử lý 527 vụ, tịch thu 661 m3 gỗ tròn, trong đó có 42 m3 gỗ quý hiếm. Tổng thu nộp ngân sách 3.930 triệu đồng trong đó tiền phạt vi phạm 1.018 triệu đồng, tiền bán tang vật tịch thu 2.912 triệu đồng.
1.3. Thủy sản
Diện tích nuôi trồng thủy sản tháng 11/2015 ước đạt 12 ha, tăng 12 ha so với cùng kỳ năm trước do do tháng 11/2014 không thả nuôi; trong đó toàn bộ diện tích nuôi là tôm thẻ chân trắng ở trên cát 10 ha và nuôi cá nước ngọt 2 ha; các loại thủy sản khác trong tháng không thả nuôi do đến mùa mưa bão. Lũy kế diện tích nuôi trồng thủy sản mười một tháng đầu năm 2015 ước đạt 6.761,1 ha, giảm 1,4% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu giảm diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng, cá nước lợ và nuôi thủy sản khác, tập trung ở các huyện Phong Điền, Phú Vang và Phú Lộc. Diện tích cá tra, ba sa 3 ha, bằng cùng kỳ năm trước; diện tích nuôi tôm sú 2.347 ha, tăng 7,9%; nuôi tôm thẻ chân trắng 503,5 ha, giảm 4,7%; nuôi cua 529,7 ha, giảm 0,2%.
Lượng giống thả nuôi: Sản xuất giống trên địa bàn tỉnh trong tháng 11/2015 đã sản xuất được 4 triệu con, tăng 33,3% so với cùng kỳ năm trước, toàn bộ là cá giống các loại; nâng tổng số giống sản xuất mười một tháng đầu năm 2015 ước đạt 152,7 triệu con, tăng 2,5%, trong đó tôm sú 78 triệu con, cá giống 73,2 triệu con, cua, ếch giống 1,5 triệu con, phục vụ cho nhu cầu nuôi trong tỉnh, số giống còn lại mua ngoại tỉnh. Do vậy việc kiểm dịch tôm giống thiếu chặt chẽ, nguy cơ dịch bệnh có thể xảy ra.
Tháng 11/2015, lượng giống tôm thẻ chân trắng thả nuôi 5,5 triệu con, tăng 5,5 triệu con so với cùng kỳ năm trước, cá giống các loại 0,2 triệu con, tăng 0,2 triệu con do tháng 11/2014 không thả nuôi hai loại thủy sản này; lũy kế mười một tháng đầu năm 2015 lượng tôm sú thả nuôi 145,6 triệu con, tăng 7,9%; tôm thẻ chân trắng thả nuôi 557,1 triệu con, giảm 2,9%; cá giống 100,9 triệu con, tăng 8,4%.
Sản lượng thu hoạch: Tháng 11/2015 sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 1.118 tấn, tăng 12,2% so với cùng kỳ năm trước; trong đó cá các loại 950 tấn, tăng 15%; tôm sú 29 tấn, tăng 31,8%; tôm thẻ chân trắng 65 tấn, giảm 23,5%; thủy sản khác 59 tấn, giảm 1,7%. Nguyên nhân sản lượng tôm thẻ chân trắng trong tháng giảm mạnh là do khâu tiêu thụ gặp nhiều khó khăn do giá tôm giảm, trong khi đó giá thức ăn, con giống nuôi giữ mức cao, mặt khác do tôm bị nhiễm bệnh nên người dân tiến hành thu hoạch sớm ở các tháng trước nhằm tránh thiệt hại.
Lũy kế mười một tháng đầu năm 2015 sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 13.851 tấn, tăng 5,1% so với cùng kỳ năm trước; trong đó cá các loại 8.260 tấn, tăng 11,5%; tôm các loại 4.576 tấn, giảm 3,4%, chủ yếu giảm sản lượng tôm thẻ chân trắng, trong đó tôm sú 1.046 tấn, tăng 8,7%, tôm thẻ chân trắng 3.315 tấn, giảm 7,2%. Các loại thủy sản khác ước đạt 1.015 tấn, giảm 1,9% so cùng kỳ năm trước, trong đó cua 552 tấn, giảm 1,4%.
Tháng 11/2015, sản lượng khai thác thủy sản ước đạt 2.245 tấn, tăng 19,4% so với cùng kỳ năm trước; trong đó khai thác biển 1.894 tấn, tăng 26,9%; khai thác nội địa 351 tấn, giảm 9,5%. Lũy kế sản lượng thủy sản khai thác mười một tháng đầu năm 2015 ước đạt 35.618 tấn, tăng 7,8% so với cùng kỳ năm trước; trong đó khai thác biển 31.984 tấn, tăng 9,3%; khai thác nội địa 3.634 tấn, giảm 3,8%. Sản lượng khai thác nội địa giảm do nguồn lợi thủy sản và ngư trường đánh bắt ngày càng thu hẹp.
Tính chung sản lượng nuôi trồng và khai thác thủy sản mười một tháng đầu năm 2015 ước đạt 49.469 tấn, tăng 7% so cùng kỳ năm trước.
2. Sản xuất công nghiệp
Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 11/2015 giảm 0,39% so với tháng trước và tăng 7,57% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung mười một tháng đầu năm 2015 chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 9,17%, trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,39%; ngành sản xuất, phân phối điện tăng 36,14%; ngành cung cấp nước và xử lý nước thải, rác thải tăng 10,54%; riêng ngành khai khoáng giảm 19,12%.
Một số ngành công nghiệp có chỉ số sản xuất mười một tháng đầu năm tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất sợi tăng 21,47%; may mặc tăng 7,26%; sản xuất xi măng, thạch cao tăng 71,10%; sản xuất ô tô tăng 2,53 lần; sản xuất và phân phối điện tăng 37,66% (trong đó điện sản xuất tăng 42,97%); thu gom rác thải tăng 22,18%.
Một số ngành công nghiệp có chỉ số sản xuất mười một tháng đầu năm giảm so với cùng kỳ năm trước: Khai thác quặng ti tan giảm 38,21%; sản xuất bia giảm 3,17%; chế biến thủy sản giảm 8,05%; chế biến dăm gỗ giảm 2,78%; in ấn giảm 18,22%; sản xuất gạch ngói giảm 0,16%; sản xuất bê tông tươi giảm 14,77%.
Sản xuất bia trong những tháng cuối năm tiếp tục gặp khó khăn trong khâu tiêu thụ do sự cạnh tranh gay gắt của các thương hiệu mạnh trên thị trường trong và ngoài tỉnh.
Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu có mức sản xuất tăng khá trong mười một tháng đầu năm 2015 so cùng kỳ năm trước: Đá vôi nguyên liệu đạt 889,6 nghìn m3, tăng 9,65%; sản xuất kem 955,4 tấn, tăng 21,46%; sợi các loại 58,9 nghìn tấn, tăng 21,47%; quần áo lót 245,4 triệu cái, tăng 7,46%; clanhke 2,1 triệu tấn, tăng 2,07 lần; xi măng 1,5 triệu tấn, tăng 45,52%; men frit 78,7 nghìn tấn, tăng 70,75%; xe ô tô 86 chiếc, tăng 2,53 lần; điện sản xuất 970,1 triệu kwh, tăng 42,97%; rác thải 114 nghìn tấn, tăng 22,18%.
Một số sản phẩm có mức sản xuất giảm trong mười một tháng đầu năm so cùng kỳ: Quặng inmenit đạt 16,3 nghìn tấn, giảm 33,17%; Quặng zircon, rutile 9,4 nghìn tấn, giảm 38,21%; đá xây dựng khác 821,1 nghìn tấn, giảm 3,43%; tôm đông lạnh  2,5 nghìn tấn, giảm 1,45%; mực đông lạnh 669,1 tấn, giảm 25,13%; bia đóng chai 101,3 triệu lít, giảm 5,25%; bia lon 81,5 triệu lít, giảm 1,98%; dăm gỗ 484,4 nghìn tấn, giảm 2,78%; gạch nung 138,3 triệu viên, giảm 0,16%; bê tông trộn sẵn 77,5 nghìn m3, giảm 23,29%.
3. Vốn đầu tư
Tổng vốn đầu tư thực hiện theo giá hiện hành trên địa bàn trong 11 tháng đầu năm 2015 ước đạt 14.681 tỷ đồng, bằng 90,6%  KH năm, tăng 10,3 % so với cùng kỳ năm trước; trong đó vốn Trung ương quản lý 4.285 tỷ đồng, bằng 87,7% KH, tăng 21,4%, chiếm 29,2% tổng vốn; vốn Địa phương quản lý 10.396 tỷ đồng, bằng 91,9% KH, tăng 6,3%, chiếm 70,8%.
Vốn thuộc ngân sách Nhà nước đạt 3.545 tỷ đồng, bằng 93,4% KH, tăng 3% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 24,1% tổng vốn, gồm có: Vốn ngân sách Trung ương quản lý 1.475 tỷ đồng, bằng 89,7% KH, tăng 13,4%; vốn ngân sách Địa phương  quản lý 2.070 tỷ đồng, bằng 96,3% KH, giảm 3,3%. Nguồn vốn tín dụng đạt 5.982 tỷ đồng, bằng 89,6% KH, tăng 19,7% so cùng kỳ, chiếm 40,7% trong tổng vốn; vốn đầu tư của doanh nghiệp 1.833 tỷ đồng, bằng 89,4% KH, tăng 18,5%, chiếm 12,5%; vốn viện trợ 692 tỷ đồng, bằng 52,5% KH, giảm 7,8%, chiếm 4,7%; vốn đầu tư nước ngoài 983 tỷ đồng, bằng 148,9% KH, giảm 9,7%, chiếm 6,7%.
Trong mười một tháng đầu năm 2015, nguồn vốn ngân sách Nhà nước thực hiện đạt cao với kế hoạch đề ra, tuy nhiên nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý giảm so cùng kỳ do kế hoạch bố trí vốn năm nay thấp. So với kế hoạch năm 2015, nguồn vốn ngân sách địa phương cũng đạt tiến độ khá. Nhờ năm nay thời tiết thuận lợi, nhiều công trình đến nay đã thực hiện xong kế hoạch năm: Nâng cấp, mở rộng đường Sóng Hồng, thị xã Hương Thuỷ giai đoạn 3; Trường THPT Hoá Châu giai đoạn 2; Trường THPT Nguyễn Huệ giai đoạn 2; Trường THCS Phạm Văn Đồng; Nâng cấp mở rộng đường nội thị Phú Đa đoạn từ Tỉnh lộ 10B đến đường trung tâm huyện (giai đoạn 1),… Một số dự án trước đây có tiến độ chưa cao do khởi công chậm, đến nay được đẩy nhanh: Trụ sở HĐND và UBND phường Hương Xuân (đạt 892/2.200 triệu đồng); Trụ sở HĐND và UBND xã Lộc An (đạt 2.104/3.000 triệu đồng). Nguồn ngân sách Trung ương trong mười một tháng đầu năm thực hiện nhanh, chủ yếu các dự án bộ ngành, trong đó có những dự án thực hiện những công đoạn cuối để kịp đưa vào sử dụng trong năm: Trung tâm Ung bướu Bệnh viện Trung ương Huế; Cơ sở nghiên cứu Viện nghiên cứu khoa học miền Trung.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài tháng 11/2015 không có dự án đăng ký mới. Tính từ đầu năm đến nay, tổng số dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài có 8 dự án được cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 445,57 triệu USD, thấp hơn 1 dự án và tăng gấp 10,4 lần về số vốn so với cùng kỳ năm 2014. Trong số 8 dự án được cấp phép, đầu tư vào thông tin truyền thông 1 dự án và thương mại 1 dự án của Nhật Bản với tổng số vốn đăng ký 0,37 triệu USD; dịch vụ lữ hành 1 dự án của Lào với số vốn đăng ký 1,93 triệu USD; xuất khẩu thủy sản 1 dự án của Hàn Quốc với số vốn đăng ký 0,1 triệu USD; giáo dục 1 dự án của Pháp với số vốn đăng ký 0,26 triệu USD và 3 dự án của Trung Quốc đầu tư (2 dự án về công nghiệp và 1 dự án về du lịch) với số vốn đăng ký 442,91 triệu USD, chiếm 99,4% tổng số vốn đăng ký.
Trong mười một tháng đầu năm 2015 có 2 dự án bổ sung vốn đầu tư với tổng số vốn bổ sung là 5,08 triệu USD. Trong đó, 1 dự án về khu văn phòng và căn hộ cao cấp với tổng số vốn bổ sung 0,94 triệu USD; 1 dự án về xây dựng siêu thị tổng hợp, trung tâm thương mại với tổng số vốn bổ sung 4,14 triệu USD.
4. Thương mại, giá cả, dịch vụ
a. Bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 11/2015 ước đạt 2.524,1 tỷ đồng, tăng 1,51% so với tháng trước và tăng 7,09% so với cùng kỳ năm trước. Chia theo loại hình kinh tế, kinh tế Nhà nước đạt 209,5 tỷ đồng, chiếm 8,3% tổng số, tăng 1,49% so với tháng trước và giảm 1,51% so với cùng kỳ năm trước; kinh tế ngoài Nhà nước đạt 2.244,7 tỷ đồng, chiếm 88,9%, tương ứng tăng 1,38% và tăng 8,16%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 70 tỷ đồng, chiếm 2,8%, tăng 6,17% và giảm 1,56%.
Xét theo ngành hàng, doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 11/2015 ước đạt 1.987 tỷ đồng, chiếm 78,7% tổng số, tăng 1,31% so với tháng trước và tăng 9,02% so với cùng kỳ năm trước. Một số ngành hàng tăng so với tháng trước: Đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 2,57%; phương tiện đi lại (trừ ô tô, kể cả phụ tùng) tăng 2,29%; hàng may mặc tăng 1,74%; lương thực, thực phẩm tăng 1,58%. Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống tháng 11/2015 ước  đạt 386,5 tỷ đồng, chiếm 15,3%, tăng 2,7% so với tháng trước và giảm 2,07% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ du lịch lữ hành 10,2 tỷ đồng, chiếm 0,4%, tương ứng tăng 1,32% và giảm 1,4%; doanh thu dịch vụ khác 140,5 tỷ đồng, chiếm 5,6%, tăng  1,23% và tăng 8,51%.
Tính chung mười một tháng đầu năm 2015, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trên địa bàn tỉnh ước đạt 27.667 tỷ đồng, tăng 8,49% so với cùng kỳ năm trước. Xét theo loại hình kinh tế: Kinh tế Nhà nước đạt 2.331,4 tỷ đồng, chiếm 8,4% tổng số và tăng 0,44%; kinh tế ngoài Nhà nước 24.549,9 tỷ đồng, chiếm 88,7%, tăng 9,37%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 785,7 tỷ đồng, chiếm 2,8%, tăng 7,1%. Trong tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng mười một tháng đầu năm 2015, kinh doanh bán lẻ hàng hóa đạt 21.437,2 tỷ đồng, chiếm 77,5% tổng số và tăng 9,79% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ lưu trú và ăn uống 4.546 tỷ đồng, chiếm 16,4% và tăng 2,61%; du lịch lữ hành 133,9 tỷ đồng, chiếm 0,5% và giảm 0,26%, dịch vụ khác 1.549,9 tỷ đồng, chiếm 5,6% và tăng 9,81%.
b. Xuất, nhập khẩu hàng hóa
Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 11/2015 ước đạt 62,52 triệu USD, tăng 3,27% so với tháng trước và tăng 5,06% so cùng kỳ năm trước; trong đó khu vực kinh tế Nhà nước đạt 9,85 triệu USD, tương ứng tăng 2,06% và tăng 1,66%; kinh tế tư nhân đạt 14,97 triệu USD, tăng 1,18% và tăng 9,97%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 37,71 triệu USD, tăng 4,45% và tăng 4,12%.
Tính chung mười một tháng đầu năm 2015, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước đạt 595,65 triệu USD, tăng 4% so cùng kỳ năm trước; trong đó khu vực kinh tế Nhà nước đạt 102,43 triệu USD, giảm 4,86%; kinh tế tư nhân 142 triệu USD, tăng 5,95%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 351,22 triệu USD, tăng 6,08%.
Trong mười một tháng đầu năm 2015, các nhóm hàng xuất khẩu chiếm tỉ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu: Hàng dệt may đạt 381,02 triệu USD, chiếm 64%; xơ, sợi dệt các loại 91,43 triệu USD, chiếm 15,4%; sản phẩm gỗ 56,95 triệu USD, chiếm 9,6%; hàng thủy sản 34,8 triệu USD, chiếm 5,8%.
Về thị trường xuất khẩu, Hoa Kỳ là thị trường có kim ngạch lớn nhất ước đạt 276,8 triệu USD, chiếm 46,5%  trong tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu và giảm 2,77% so với cùng kỳ năm trước; Nhật Bản 89,62 triệu USD, chiếm 15,1% và tăng 40,99%; thị trường EU 57,46 triệu USD, chiếm 9,7% và tăng 8,62%; Thổ Nhĩ Kỳ 34,03 triệu USD, chiếm 5,7% và giảm 31,14%; còn lại các nước khác đạt 137,74 triệu USD, chiếm 23,1% và tăng 12,72%.
Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 11/2015 ước đạt 35,42 triệu USD, tăng 2,36% so với tháng trước và giảm 1,67% so cùng kỳ năm trước; trong đó khu vực kinh tế Nhà nước đạt 4,79 triệu USD, tương ứng tăng 15,86% và giảm 24,63%; kinh tế tư nhân 8,98 triệu USD, giảm 2,65% và giảm 30,28%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 21,64 triệu USD, tăng 1,9% và tăng 28,98%.
Tính chung mười một tháng đầu năm 2015, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa ước đạt 358,4 triệu USD, giảm 1,84% so cùng kỳ năm trước; trong đó khu vực kinh tế Nhà nước đạt 60,05 triệu USD, giảm 8,21%; kinh tế tư nhân 94,35 triệu USD, giảm 9,03%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 204 triệu USD, tăng 4,09%.
Trong mười một tháng đầu năm, các nhóm hàng nhập khẩu chiếm tỉ trọng lớn trong tổng kim ngạch nhập khẩu: Vải các loại đạt 207,5 triệu USD, chiếm 57,9%; xơ, sợi dệt các loại 52,09 triệu USD, chiếm 14,5%; nguyên phụ liệu dệt may 25,82 triệu USD, chiếm 7,2%; bông các loại 27,18 triệu USD, chiếm 7,6%.
Đối với thị trường nhập khẩu, Trung Quốc vẫn là thị trường lớn nhất với kim ngạch đạt 191,05 triệu USD, chiếm 53,3% tổng kim ngạch hàng hóa nhập khẩu và giảm 8,7% so cùng kỳ năm trước; Đài Loan 52,02 triệu USD, chiếm 14,5% và tăng 14,05%; thị trường Châu Phi 34,35 triệu USD, chiếm 9,6% và tăng 39,14%; thị trường Asean 17,56 triệu USD, chiếm 4,9% và giảm 28,48%; còn lại các nước khác đạt 63,41 triệu USD, chiếm 17,7% và tăng 3,94%.
Như vậy, hoạt động xuất siêu trên địa bàn tỉnh mười một tháng đầu năm 2015 ước đạt 237,25 triệu USD, bằng 39,83% tổng kim ngạch xuất khẩu và tăng 14,26% so với cùng kỳ năm trước.
c. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI), chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ
Chỉ số giá tiêu dùng chung toàn tỉnh tháng 11/2015 tăng 0,12% so với tháng trước, nguyên nhân chủ yếu do một số mặt hàng gas, thiết bị gia đình, may mặc và lương thực, thực phẩm  tăng nhẹ. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng so với tháng trước: Nhóm lương thực tăng 0,84%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,29%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,27%; thực phẩm tăng 0,24%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,18%; giáo dục tăng 0,08%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,02%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,01%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,01%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm: Nhóm giao thông giảm 0,35%; văn hoá, giải trí và du lịch giảm 0,02%. Các nhóm bưu chính viễn thông; ăn uống ngoài gia đình không tăng, giảm.
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 11/2015 tăng 0,74% so với tháng 12 năm trước và tăng 0,61% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân mười một tháng năm 2015 tăng 0,88% so với bình quân cùng kỳ năm 2014.
Chỉ số giá vàng tháng 11/2015 giảm 0,38% so với tháng trước, giảm 1,59% so với tháng 12 năm trước và giảm 1,62% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 11/2015 giảm 0,32% so với tháng trước, tăng 4,37% so với tháng 12 năm trước và tăng 4,81% so với cùng kỳ năm trước.
d. Vận tải hành khách và hàng hóa  
Vận tải hành khách tháng 11/2015 ước đạt 1.550,5 nghìn lượt khách và 73,6 triệu lượt khách.km, tăng 1,52% về lượt khách và tăng 1,37% về lượt khách.km so với tháng trước; tăng 2,56% về lượt khách và tăng 1,12% về lượt khách.km so cùng kỳ năm trước.
Dự ước mười một tháng đầu năm 2015 vận tải hành khách đạt 17.370,1 nghìn lượt khách, tăng 2,96% và 792,5 triệu lượt khách.km, tăng 1,65% so cùng kỳ năm trước, trong đó vận tải hành khách đường bộ ước đạt 17.159,5 nghìn lượt khách, tăng 6,84% và 792,1 triệu lượt khách.km, tăng 2,07%.
Vận tải hàng hóa tháng 11/2015 ước đạt 638,5 nghìn tấn và 51,8 triệu tấn.km, giảm 2,04% về tấn và giảm 2,27% về tấn.km so với tháng trước; tăng 12,92% về tấn và tăng 15,87% về tấn.km so cùng kỳ năm trước.
Trong mười một tháng đầu năm 2015, vận tải hàng hóa ước đạt 7.004 nghìn tấn, tăng 12,58% và 576,5 triệu tấn.km tăng 13,92% so cùng kỳ năm trước, trong đó vận tải hàng hóa đường bộ ước đạt 6.811,8 nghìn tấn, tăng 13,01% và 484,5 triệu tấn.km tăng 10,2%; đường biển đạt 84,6 nghìn tấn, tăng 16,3% và 91,1 triệu tấn.km, tăng 40,04%.
Doanh thu vận tải, bốc xếp tháng 11/2015 ước đạt 163,3 tỷ đồng, giảm 0,59% so với tháng trước và tăng 14,47% so cùng kỳ năm trước. Tính chung mười một tháng đầu năm 2015, doanh thu vận tải, bốc xếp ước đạt 1.773,3 tỷ đồng, tăng 11,22% so cùng kỳ năm trước, trong đó đường bộ đạt 1.641,3 tỷ đồng, tăng 10,04%; đường biển 125,8 tỷ đồng, tăng 35,39%. Chia theo loại hình dịch vụ thì doanh thu vận tải hành khách đạt 494,1 tỷ đồng, tăng 2,73% so cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa đạt 1.153 tỷ đồng, tăng 13,54%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 126,2 tỷ đồng, tăng 28,87%.
e. Lượt khách các cơ sở lưu trú phục vụ và du lịch lữ hành
Tháng 11 năm 2015, ước tính lượt khách phục vụ đạt 137,9 nghìn lượt khách, tăng 12,46% so với tháng trước và giảm 2,46% so với cùng kỳ năm trước khách, trong đó khách quốc tế đạt 68,7 nghìn lượt khách, tăng 24,56% so với tháng trước và tăng 0,73% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung mười một tháng đầu năm 2015, lượt khách phục vụ ước đạt 1.642,5 nghìn lượt khách, giảm 3,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách quốc tế đạt 683,3 nghìn lượt khách, giảm 2,09%.
Tổng ngày khách phục vụ mười một tháng đầu năm 2015 đạt 3.122,6 nghìn ngày khách, giảm 4,22% so với cùng kỳ năm trước; trong đó ngày khách quốc tế 1.524 nghìn ngày khách, giảm 2,52%.
Doanh thu các cơ sở lưu trú tháng 11/2015 ước đạt 105,5 tỷ đồng, tăng 9,93% so với tháng trước và giảm 5,94% so cùng kỳ năm trước. Đưa doanh thu các cơ sở lưu trú mười một tháng đầu năm 2015 ước đạt 1.354,8 tỷ đồng, giảm 1,13% so cùng kỳ năm trước.
Hoạt động du lịch lữ hành: Tháng 11/2015 ước tính lượt khách du lịch theo tour đạt 6,5 nghìn lượt, tăng 1,47% so với tháng trước và giảm 0,88% so cùng kỳ năm trước. Đưa tổng lượt khách theo tour thực hiện mười một tháng đầu năm 2015 ước đạt 81,9 nghìn lượt, giảm 2,97% so cùng kỳ năm trước. Dự ước ngày khách theo tour mười một tháng đầu năm 2015 đạt 170,2 nghìn ngày, giảm 3,79% so cùng kỳ năm trước.
5. Tài chính, ngân hàng
Tổng thu ngân sách mười một tháng đầu năm 2015 ước đạt 4.509,3 tỷ đồng, bằng 92,4% dự toán năm, tăng 8,28% so cùng kỳ năm trước; trong đó thu nội địa 3.891,4 tỷ đồng, bằng 94,5% DT, tăng 14,86%; thu thuế xuất nhập khẩu 250,9 tỷ đồng, bằng 64,3%DT, giảm 23,96%.
Trong thu nội địa: Thu doanh nghiệp Nhà nước đạt 408,8 tỷ đồng, bằng 90,8%DT, tăng 8,76% so cùng kỳ năm trước; thu DN có vốn đầu tư nước ngoài 1.332,4 tỷ đồng, bằng 84,1%DT, giảm 0,85%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 776,1 tỷ đồng, bằng 88%DT, tăng 12,89%; thu thuế thu nhập cá nhân đạt 153,3 tỷ đồng, bằng 102,2%DT, tăng 19,42%; thu thuế bảo vệ môi trường 255,5 tỷ đồng, bằng 175%DT, tăng 99,07%.
Tổng chi ngân sách địa phương mười một tháng đầu năm 2015 ước đạt 6.368 tỷ đồng, bằng 89,9%DT; trong đó chi đầu tư phát triển 1.212,8 tỷ đồng, bằng 82,7%DT; chi sự nghiệp kinh tế 492,4 tỷ đồng, bằng 89,5%DT; chi sự nghiệp giáo dục đào tạo 2.095 tỷ đồng, bằng 92,2%DT; chi sự nghiệp y tế 409,4 tỷ đồng, bằng 90,2%DT; chi quản lý Nhà nước 910,8 tỷ đồng, bằng 94,1%DT.
Ngân hàng: Tổng nguồn vốn huy động đến cuối tháng 10/2015 đạt 27.540 tỷ đồng, tăng 13,3% so với đầu năm.
Tổng dư nợ cho vay toàn địa bàn đến cuối tháng 10/2015 đạt 25.100 tỷ đồng tăng 5,3% so với đầu năm; trong đó dư nợ cho vay ngắn hạn đạt 9.036 tỷ đồng, chiếm 36% trong tổng dư nợ; dư nợ cho vay bằng VND đạt 23.067 tỷ đồng, chiếm 91,9%.
Trong tháng 10 năm 2015, lãi suất huy động bằng VNĐ không có kỳ hạn hoặc có kỳ hạn dưới 1 tháng tiếp tục duy trì ổn định và không có sự thay đổi so với đầu năm, đối với lãi suất không có kỳ hạn hoặc có kỳ hạn dưới 1 tháng phổ biến ở mức 0,8 - 1%/năm; kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng ở mức 4,0% - 5,4%/năm;  kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng dao động ở mức 5,4% - 6,4%/năm; kỳ hạn từ 12 tháng trở lên phổ biến ở mức 6,4% - 7,2%/năm. Nhằm ngăn chặn tình trạng găm giữ ngoại tệ, góp phần thực hiện có hiệu quả các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ, ngày 25/9/2015, NHNN đã ban hành quyết định số 1938/QĐ-NHNN điều chỉnh lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng USD. Theo đó, đối với tiền gửi bằng USD của cá nhân lãi suất từ 0,75%/năm giảm xuống còn 0,25%/năm; của tổ chức từ 0,25%/năm xuống còn 0%/năm .
Lãi suất cho vay các lĩnh vực ưu tiên phổ biến ở mức 6 - 7%/ năm đối với ngắn hạn, trung và dài hạn ở mức 8% - 10%/ năm. Lãi suất cho vay các lĩnh vực SXKD thông thường phổ biến ở mức 6,8% - 9%/ năm đối với vay ngắn hạn; tuy nhiên so với đầu năm lãi suất cho vay trung, dài hạn được điều chỉnh giảm 0,2%/năm, phổ biến ở mức 9% - 11%/ năm. Lãi suất cho vay USD phổ biến ở mức 3 - 6,7%/ năm; trong đó lãi suất cho vay ngắn hạn 3% - 5,5%/ năm; cho vay trung, dài hạn 5,5% - 6,7%/năm.
6. Một số vấn đề xã hội
a. Giáo dục, đào tạo
Năm học 2015-2016, tại Đại học Huế đã có 11.717 sinh viên nhập học, giảm 2,2% so với năm học trước, trong đó một số trường có số lượng sinh viên nhập học tăng so với năm trước như: Đại học Nông Lâm 2.235 sinh viên, tăng 3,4%; Đại học Kinh tế 1.764 sinh viên, tăng 7,8%; Đại học Luật 820 sinh viên, tăng 13,3%; một số trường có số lượng sinh viên giảm so với năm trước như: Đại học Khoa học 1.737 sinh viên, giảm 4,6%; Khoa Du lịch 529 sinh viên, giảm 14,7%; Đại học ngoại ngữ 1.174 sinh viên, giảm 1,4%; Đại học Y dược 1.523 sinh viên, giảm 10,2%; Đại học Sư phạm 1.614 sinh viên, giảm 4,6% so năm học trước.
b. Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm
Tháng 10/2015, trên địa bàn tỉnh đã có 3 ca mắc sốt rét, giảm 7 ca so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu là sốt rét thường; 62 ca mắc sốt xuất huyết, tăng 16 ca, trong đó có 18 ca dương tính; 40 ca mắc viêm gan siêu trùng, tăng 28 ca;  3 ca mắc bệnh Tay-Chân-Miệng, giảm 25 ca. Không có trường hợp nào tử vong. Tính chung từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã có 62 ca mắc sốt rét, giảm 31 ca so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu là sốt rét thường; 274 ca mắc sốt xuất huyết, tăng 107 ca; 237 ca mắc viêm gan siêu trùng, tăng 132 ca; 41 ca mắc bệnh Tay-Chân-Miệng, giảm 86 ca. Không có trường hợp nào tử vong. Không có ca mắc bệnh viêm não vi rút, giảm 13 ca so cùng kỳ; không có ca mắc thương hàn, bằng cùng kỳ.
Tháng 10/2015, qua kiểm tra đã phát hiện 4 ca nhiễm HIV, không có ca nào chuyển qua AIDS và cũng không có ca tử vong do AIDS. Từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 61 ca nhiễm HIV, có 12 ca chuyển qua AIDS và đã có 7 ca tử vong. Như vậy tính đến thời điểm hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 1.406 ca nhiễm HIV, 518 ca chuyển qua AIDS và đã có 330 ca tử vong.
Từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh không có trường hợp ngộ độc thực phẩm xảy ra.
c. Hoạt động văn hóa - thể thao
Trong tháng 11/2015 một số sự kiện văn hóa, thể thao được tổ chức trên địa bàn tỉnh để chào mừng thành công Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11.
Sáng 14/11, tại Trung tâm Thể dục Thể thao tỉnh đã diễn ra Lễ khai mạc Hội khỏe Phù Đổng tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2015. Hội khỏe Phù Đổng tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2015 quy tụ gần 2.000 vận động viên đến từ 9 đơn vị Phòng giáo dục các huyện, thị xã, thành phố, 40 trường THPT và 03 trường THCS  trực thuộc Sở Giáo dục - Đào tạo. Với 07 môn thi đấu gồm: bóng đá, bơi, điền kinh, bóng bàn, cầu lông, cờ vua, đá cầu.
d. Tai nạn giao thông
Trong tháng 10/2015, trên địa bàn tỉnh xảy ra 50 vụ tai nạn và va chạm giao thông đường bộ, giảm 35 vụ; làm chết 12 người, giảm 6 người; bị thương 53 người, giảm 23 người so với cùng kỳ năm trước. Tai nạn giao thông đường sắt và đường thủy không xảy ra. Tính chung mười tháng đầu năm 2015, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 441 vụ tai nạn giao thông, giảm 263 vụ so với cùng kỳ năm trước; làm chết 131 người, giảm 9 người; bị thương 417 người, giảm 282 người. Trong đó tai nạn giao thông đường bộ xảy ra 435 vụ, giảm 265 vụ; làm chết 125 người, giảm 12 người; bị thương 416 người, giảm 281 người; tai nạn giao thông đường sắt xảy ra 6 vụ, tăng 2 vụ; làm chết 6 người, tăng 3 người; làm 1 người bị thương, giảm 1 người; tai nạn đường thủy không xảy ra.
e. Tình hình cháy, nổ, vi phạm môi trường
Từ đầu tháng 11/2015 đến nay, trên địa bàn tỉnh  xảy ra 1 vụ cháy tại Thành phố Huế, tăng 1 vụ so cùng kỳ năm trước, không có người chết và bị thương, ước tổng thiệt hại 10 triệu đồng. Tính chung từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 25 vụ cháy, giảm 4 vụ so cùng kỳ năm trước; làm chết 1 người, không tăng giảm; không có người bị thương, giảm 2 người; tổng giá trị thiệt hại 15.912 triệu đồng. Không xảy ra vụ nổ, bằng cùng kỳ năm trước.
Từ đầu tháng 11/2015 đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 20 vụ vi phạm môi trường, tăng 12 vụ so với cùng kỳ năm trước, đã tiến hành xử lý 20 vụ với số tiền phạt 72 triệu đồng. Tính chung từ đầu năm đến nay, đã xảy ra 166 vụ vi phạm môi trường, tăng 17 vụ so với cùng kỳ năm trước, đã tiến hành xử lý 166 vụ với số tiền phạt 2.115 triệu đồng. Các hành vi vi phạm chủ yếu là thải nước thải ra môi trường không qua xử lý; khai thác và vận chuyển cát sạn trái phép; vận chuyển đất đá, cát sạn rơi vãi; khai thác rừng trái phép./.
   NGUYỄN TRUNG TIẾN

Gửi bởi    

HỆ THỐNG TÊN MIỀN MẠNG GSO
MÁY CHỦ TÊN MIỀN .GSO:
Chính:       10.0.1.1
Dự phòng: 10.0.1.2
  • Góc người dùng
Tên đăng nhập:
Mật khẩu:



Bạn đang dùng -

IP:54.236.59.154

Thống kê

Lượt truy cập  2162
Đang trực tuyến   29