MyLabel

Tình hình kinh tế xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2015

12/23/2015
                                                            TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI

                                                                              NĂM 2015
Tình hình kinh tế xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2015 có những chuyển biến đáng ghi nhận, sản xuất công nghiệp đạt mức tăng trưởng khá; sản xuất nông lâm, thủy sản duy trì ổn định và phát triển, chăn nuôi tiếp tục chuyển biến theo hướng qui mô sản xuất hàng hóa; một số ngành dịch vụ đang trên đà phục hồi. Các lĩnh vực xã hội đạt kết quả tốt, công tác bảo đảm an sinh xã hội thường xuyên được chú trọng. Tuy nhiên, nền kinh tế cũng đứng trước những khó khăn như: hoạt động xuất khẩu tăng trưởng thấp và thu thuế hải quan giảm; lượng khách du lịch lưu trú giảm;  mặt hàng chủ lực bia, xi măng phải đối đầu với cạnh tranh gay gắt trên thị trường trong và ngoài tỉnh, nguồn thu ngân sách còn hạn chế.
Thực hiện các Nghị quyết và Kế hoạch của: Chính phủ, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, UBND tỉnh về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế xã hội và dự toán NSNN năm 2015, ngay từ đầu năm UBND tỉnh đã có Công văn số 7375/UBND-TH về triển khai kế hoạch năm 2015, thực hiện quyết liệt các giải pháp, biện pháp để tổ chức thực hiện đạt và vượt các chỉ tiêu được giao.
Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế xã hội chủ yếu năm 2015 theo Nghị quyết của HĐND tỉnh:

Chỉ tiêu                                                                 Thực hiện            Ước thực hiện         Chỉ tiêu Nghị quyết
                                                                             năm 2014              năm  2015                   năm 2015
Chỉ tiêu kinh tế           
1. Tốc độ tăng Tổng sản phẩm GRDP (%)              8,27                       9,03                             9,0
 Tr.đó:  - Nông Lâm Ngư nghiệp                               6,41                       4,22                             2,5
             - Công nghiệp-Xây dựng                              8,15                       9,20                             9,0
             - Dịch vụ                                                        8,76                       9,97                             10,5
2. Giá trị xuất khẩu hàng hoá (Triệu USD)               635                       667,2                           680
3. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội (Tỷ đồng)            14.700                    16.320                        16.200
4. Tổng thu ngân sách nhà nước (Tỷ đồng)             4.757                      5.010                         4.882
Chỉ tiêu xã hội            
1. Tỷ suất sinh (%o)                                               giảm 0,2                 giảm 0,2                     giảm 0,2
    Tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên (%)                      1,1                          1,1                                1,1
2. Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn

(theo chuẩn hiện hành) (%)                                        5,3                          4,5                                4,7
3. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng (%        13,1                        12,5                              12,5
4. Tỷ lệ lao động được đào tạo nghề đạt  (%)           54                          56                                  56
5. Tạo việc làm mới (người)                                    16.310                   16.500                         16.000
Chỉ tiêu môi trường           
1.Tỷ lệ hộ nông thôn sử dụng nước sạch ( %)          68                           75                                   75
2. Trồng mới diện tích rừng (ha)                             4.350                      4.197                             4.000
    Độ che phủ rừng (%)                                            56,9                          57                                   57
3.Tỷ lệ chất thải rắn ở đô thị được thu gom (%).     95                           97                                   97


I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ

1. Tăng trưởng kinh tế (GRDP).
Dự ước năm 2015 tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) tăng 9,03% so với năm 2014, đạt mục tiêu kế hoạch đề ra và cao hơn mức tăng 8,27% của năm 2014.  Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,22%, đóng góp 0,5 điểm phần trăm vào mức tăng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,2%, đóng góp 3,08 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 9,97%, đóng góp 5,45 điểm phần trăm. 
Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong tỉnh
                                                                                           
                                                                                                                                               ĐVT:  %

                                                                      Tốc độ tăng so với                   Đóng góp vào
                                                                              năm trước                         tăng trưởng năm
                                                                Năm 2014    Ước năm 2015                  2015    
Tổng số                                                         8,27                 9,03                           9,03
Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản                      6,41                 4,22                           0,5
Công nghiệp và xây dựng                             8,15                 9,20                           3,08
Dịch vụ                                                          8,76                 9,97                           5,45

  Trong năm 2015, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt mức tăng ổn định so với mức tăng bình quân thời kỳ 2011-2015, sản xuất nông nghiệp sản lượng tiếp tục tăng, chăn nuôi phát triển dần theo hướng hàng hóa, sản lượng đánh bắt thủy sản tăng cao, tuy nhiên sản lượng nuôi trồng tăng chậm lại do nuôi tôm thẻ chân trắng giảm sút. Khu vực công nghiệp tiếp tục duy trì tăng trưởng, nhất là ngành công nghiệp chế biến chế tạo chuyển biến rõ nét qua các quý, cùng với đó chi phí nhiên liệu đầu vào giảm làm cho sản xuất doanh nghiệp hiệu quả hơn. Hoạt động xây dựng đã có những chuyển biến tích cực sau nhiều năm sản xuất ngừng trệ. Khu vực dịch vụ duy trì ổn định, một số ngành tăng trưởng khá như vận tải, thương mại bán buôn, bán lẻ nhờ hình thành thêm mạng lưới phân phối hàng hóa; thị trường bất động sản, hoạt động tài chính ngân hàng đã có dấu hiệu phục hồi;... Tuy nhiên năm nay do lượng khách du lịch đến Huế giảm đã làm cho ngành lưu trú ăn uống đạt mức tăng trưởng thấp.
Về cơ cấu kinh tế năm 2015, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 10,8%, giảm 0,5% so với năm 2014; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 33,3%, tăng 0,6%; khu vực dịch vụ chiếm 55,9%, giảm 0,1%.
2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ tiếp tục đạt mức tăng trưởng ổn định, giá trị sản xuất năm 2015 theo giá so sánh năm gốc 2010 ước đạt 6.437,2 tỷ đồng, tăng 4,29% so với năm trước, trong đó: Nông nghiệp ước đạt 4.076,4 tỷ đồng, tăng 3,17%, chia ra: trồng trọt 2.903,4 tỷ đồng, tăng 3,19%; chăn nuôi 957,5 tỷ đồng, tăng 2,87%; dịch vụ nông nghiệp 215,6 tỷ đồng, tăng 4,26%. Lâm nghiệp đạt 421,7 tỷ đồng, tăng 9,42%, chia ra: trồng và nuôi rừng đạt 47,2 tỷ đồng, giảm 10,95%; khai thác gỗ và lâm sản 326,7 tỷ đồng, tăng 14,62%; thu nhặt sản phẩm từ rừng 11,3 tỷ đồng, giảm 5,53%; dịch vụ lâm nghiệp 36,5 tỷ đồng, tăng 3,07%. Thủy sản đạt 1.939,1 tỷ đồng, tăng 5,61%, chia ra: khai thác thủy sản 1.114,7 tỷ đồng, tăng 9,72%; nuôi trồng thủy sản 824,3 tỷ đồng, tăng 0,51%. 
a. Sản xuất nông nghiệp
Sản xuất nông nghiệp năm 2015 nhìn chung khá thuận lợi, tuy nhiên vụ đông xuân năm nay do ảnh hưởng đợt mưa lớn bất thường xảy ra cuối tháng 3, kết hợp với việc điều tiết mực nước hồ thủy điện Hương Điền nên một số diện tích lúa và rau màu trên địa bàn bị ngập úng với diện tích 2.185 ha, sâu bệnh gây hại trên cây lúa, có khoảng 2.500 ha lúa bị nhiễm bệnh, chiếm 9% diện tích, phổ biến là sâu cuốn lá; bệnh khô vằn; rầy và đạo ôn, hầu hết diện tích nhiễm bệnh với tỷ lệ và mật độ gây hại thấp đã ảnh hưởng đến năng suất lúa Đông xuân. Vụ hè thu thời tiết khá thuận lợi cho quá trình sinh trưởng và phát triển cây lúa, chỉ có trà lúa đầu gieo sạ sớm khoảng 4.000 ha, chiếm 15% diện tích, khi lúa trổ gặp thời tiết không thuận lợi, có 3.600 ha lúa bị nhiễm bệnh, chiếm 13,9% diện tích, nhưng mức độ nhẹ. Ngành chức năng đã phối hợp các địa phương xử lý kịp thời, giảm thiểu thiệt hại do sâu bệnh gây ra.
Tổng diện tích cây hàng năm cả năm 2015 đạt 78.069 ha, tăng 0,7% so với năm 2014; riêng cây lúa đạt 54.451 ha, tăng 1,4%, trong đó lúa đông xuân đạt 27.933 ha, tăng 1%, hè thu 25.895 ha, tăng 1,9%. Diện tích lúa tăng nhờ  khắc phục tình trạng thiếu nước cuối vụ, nên một số nơi trước đây ruộng làm 1 vụ nay làm 2 vụ, một số diện tích trồng hoa màu chuyển sang trồng lúa, một số diện tích vụ hè thu bỏ hoang đã được đưa vào sản xuất.
Sản lượng lúa cả năm đạt 319.323 tấn, tăng 0,7% so năm trước, bao gồm vụ đông xuân 167.583 tấn, tăng 0,1%; vụ hè thu 150.742 tấn, tăng 1,4%, vụ mùa 998 tấn, giảm 3,4% (Sản lượng tăng do tăng diện tích gieo trồng).
Năng suất lúa năm 2015 đạt 58,6 tạ/ha, giảm 0,4 tạ/ha, giảm 0,6% so với năm 2014; chia ra lúa vụ  đông xuân đạt 60 tạ/ha, giảm 0,5 tạ/ha, giảm 0,83%;  hè thu đạt 58,2 tạ/ha, giảm 0,3 tạ/ha, giảm 0,7%; vụ mùa  đạt 16 tạ/ha, bằng cùng kỳ năm trước.
Diện tích cây hàng năm khác năm 2015 đạt 23.618 ha, giảm 0,9% so với năm trước, giảm chủ yếu do không chủ động nguồn nước tưới và tác động của nắng hạn từ đầu vụ hè thu, ngoài ra một số diện tích chuyển sang trồng lúa. Trong đó, cây ngô đạt 1.612 ha, tăng 1,7% so năm trước; cây lấy củ có chất bột 11.056 ha, giảm 0,3%; cây mía 178 ha, tăng 1,7%; cây có hạt chứa dầu 3.560 ha, giảm 2,2%; cây rau các loại 4.401 ha, giảm 1,2%, cây đậu các loại 1.822 ha, giảm 3,8%; hoa, cây cảnh 394 ha, tăng 1,6%.
Đối với các loại cây hàng năm chủ yếu khác ước thực hiện năm 2015 như sau: Cây ngô sản lượng đạt 6.336 tấn, tăng 2,7% so năm trước; khoai lang  15.353 tấn, giảm 2,2%; cây sắn 131.347 tấn, tăng 2,4%; cây lạc 7.650 tấn, tăng 21,2%; cây rau các loại 45.813 tấn, tăng 0,3%; cây đậu các loại 1.157 tấn, tăng 3,6%.
Tổng diện tích cây lâu năm hiện có 13.562 ha, giảm 1% so với năm 2014. Diện tích trồng mới trong năm 165,5 ha, giảm 43,8% do diện tích trồng mới trong những năm trước đây chủ yếu là cây cao su, nhưng những năm gần đây giá mủ cao su giảm mạnh, giá bán bình quân mủ cao su sơ chế năm 2015 là 8.927 đồng/kg, giảm 27% so với năm 2014, khâu tiêu thụ gặp nhiều khó khăn nên người dân ít đầu tư trồng mới. Diện tích trồng mới cây cao su năm 2015 đạt 22,4 ha, giảm 86,1% so với cùng kỳ. Tổng diện tích cây lâu năm cho sản phẩm đạt 10.074 ha, chiếm 74,3% tổng diện tích hiện có, tăng 4,7% so với cùng kỳ. Ước tính diện tích cho sản phẩm và sản lượng một số cây lâu năm chủ yếu năm 2015: Diện tích cho sản phẩm cây cao su đạt 6.471 ha, tăng 8,1% so năm trước, sản lượng đạt 5.695 tấn, giảm 10,2%; tương tự cà phê đạt 152 ha, giảm 55,8% và  đạt 47 tấn, giảm 78,6%, cà phê giảm mạnh nguyên nhân chủ yếu là do toàn bộ diện tích cà phê trong những năm qua trồng trên địa bàn huyện miền núi A Lưới thực tế không hợp với điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng nên năng suất thấp, không có hiệu quả kinh tế; hồ tiêu đạt 233 ha, tăng 3,6% và đạt 189 tấn, tăng 3,6%; bưởi, bòng đạt 868 ha, tăng 9,2% và đạt 10.535 tấn, tăng 39%, bưởi bòng tăng cao là do thời tiết năm nay thuận lợi, sâu bệnh gây hại trên cây bưởi Thanh trà giảm nên năng suất đạt khá; dứa đạt 251 ha, giảm 13,7% và đạt 2.171 tấn, giảm 15,4%; chuối đạt 749 ha, tăng 17,5% và đạt 14.869 tấn, tăng 17,8%, cây chuối tăng khá là nhờ trong những năm gần đây sản phẩm chuối tiêu thụ ổn định trên thị trường, đồng thời được sự hỗ trợ của nhà nước về cây giống để trồng chuối hàng hóa; xoài đạt 84 ha, tăng 2,9% và 358 tấn, tăng 4,7%; cam đạt 209 ha, giảm 3,7% và đạt 1.410 tấn, giảm 4%.
Chăn nuôi: Trong năm 2015, chăn nuôi gia súc, gia cầm tương đối ổn định và có bước phát triển. Trên địa bàn toàn tỉnh không xảy ra dịch bệnh ở đàn gia súc và gia cầm. Hiện nay chăn nuôi lợn trong khu vực nông thôn theo mô hình nhỏ lẻ, kém hiệu quả đang có xu hướng giảm, chuyển dần sang chăn nuôi tập trung với quy mô lớn của các doanh nghiệp, hình thức trang trại và gia trại, nên đàn lợn phát triển khá.
Tại thời điểm 01/10/2015, đàn trâu đạt 21.569 con, giảm 0,1% so với cùng kỳ năm trước; đàn bò 25.333 con, tăng 13,2%. Nguyên nhân đàn trâu giảm do chăn nuôi trâu hiện nay chủ yếu để lấy thịt nhưng hiệu quả kinh tế không cao. Đàn bò tăng khá cao là do nhận được sự hỗ trợ của chính quyền địa phương về vốn vay cho các hộ chính sách, hộ nghèo, cận nghèo, dân tộc thiểu số để nuôi bò xóa đói giảm nghèo khu vực nông thôn. Đàn lợn thời điểm 01/10/2015 đạt 202.167 con, tăng 0,2 % so cùng kỳ năm trước; đàn gia cầm 2.173,3 nghìn con, tăng 0,3%, trong đó đàn gà 1.498,5 nghìn con, tăng 0,2%; đàn vịt, ngan, ngỗng 674,8 nghìn con, tăng 0,4%.
Sản lượng thịt trâu xuất chuồng năm 2015 đạt 890,4 tấn, tăng 0,7% so với năm 2014; sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng 1.054,2 tấn, tăng 6,6%; sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng 20.208 tấn, tăng 1,8%; sản lượng thịt gà hơi xuất chuồng 2.412 tấn, tăng 0,3%; sản lượng trứng gà 22.063 nghìn quả, tăng 7,8%; sản lượng thịt vịt, ngan, ngỗng 1.725 tấn, tăng 10,9%; sản lượng trứng vịt, ngan, ngỗng 12.349 nghìn quả, tăng 15,9%.
b. Lâm nghiệp
Diện tích trồng rừng tập trung năm 2015 ước đạt 4.197 ha, bằng 96,5% so với năm trước; diện tích rừng trồng được chăm sóc 13.640 ha, tăng 6,1%; diện tích rừng được khoanh nuôi tái sinh 3.846 ha, giảm 47,3%, nguyên nhân giảm do trong năm 2015 rừng tự nhiên không còn khai thác nên diện tích đưa vào khoanh nuôi giảm, chủ yếu tiếp tục thực hiện diện tích khoanh nuôi rừng của những năm trước; diện tích rừng được giao khoán bảo vệ 22.514 ha, giảm 7,1%; giảm chủ yếu do nguồn vốn ngân sách dành cho việc bảo vệ rừng giảm; số cây lâm nghiệp trồng phân tán 2.162 nghìn cây, giảm 42,3%, nguyên nhân giảm chủ yếu là do diện tích đất trồng cây lâm nghiệp phân tán ngày càng thu hẹp, diện tích vùng gò đồi trước đây trồng cây lâm nghiệp phân tán đã chuyển sang trồng sắn nguyên liệu, măng tươi,...; Ươm giống cây lâm nghiệp 12.680 nghìn cây, giảm 3,5% so năm trước.
Sản lượng gỗ khai thác năm 2015 ước đạt 308.050 m3, tăng 20,3% so năm trước, toàn bộ là gỗ khai thác từ rừng trồng, trong đó gỗ nguyên liệu giấy đạt 272.818 m3, tăng 26%, khai thác gỗ rừng trồng tăng cao là do giá gỗ giữ ổn định, diện tích rừng trồng đến kỳ đưa vào khai thác đạt cao, trồng rừng đem lại hiệu quả kinh tế; sản lượng củi khai thác ước đạt 236.878 ste, tăng 17,1%, sản lượng củi tăng khá là do người dân thu củi từ việc khai thác gỗ rừng trồng.
Năm 2015, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 7 vụ cháy rừng, giảm 11 vụ so với năm 2014; diện tích rừng bị cháy 16,6 ha, giảm 31,8 ha. Giá trị thiệt hại 239 triệu đồng. Nguyên nhân chủ yếu các vụ cháy được xác định là do thời tiết trong mùa nắng nóng với nền nhiệt độ cao kéo dài trong nhiều ngày, sét đánh, bom đạn sót lại sau chiến tranh phát nổ, người dân thắp hương đốt vàng mã, đốt thực bì. Tình trạng chặt phá rừng làm nương rẫy vẫn còn xảy ra, nhất là đối với các huyện miền núi, vùng sâu, vùng xa. Năm 2015, đã phát hiện 41 vụ chặt phá rừng, tăng 5 vụ so với cùng kỳ; diện tích rừng bị chặt phá 10 ha với giá trị thiệt hại 62 triệu đồng.
c. Thủy sản
Từ đầu năm đến nay dịch bệnh nuôi trồng thủy sản không xảy ra trên địa bàn tỉnh, chỉ có một số diện tích nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng bị nhiễm bệnh thông thường với diện tích 67 ha nhưng đã xử lý kịp thời, không để bệnh lây lan.
Diện tích nuôi trồng thủy sản năm 2015 ước đạt 7.235 ha, giảm 3,7% so với năm trước; trong đó diện tích cá tra, ba sa 5 ha, giảm 2%; diện tích nuôi tôm sú 2.347 ha, tăng 6,9%; nuôi tôm thẻ chân trắng 540 ha, giảm 5,4%; nuôi cua 714 ha, giảm 4,9%. Số lồng, bè nuôi thủy sản 4.904 cái, tăng 5,7% so năm trước; thể tích lồng, bè nuôi 93.884 m3, tăng 21,9%.
Diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng giảm, tập trung ở huyện Phong Điền do Công ty cổ phần Trường Sơn bán lại diện tích cho Công ty cổ phần chăn nuôi Việt Nam tại Huế, số diện tích này trong 10 tháng đầu năm 2015 chưa thả nuôi; mặt khác năm nay giá tôm thẻ chân trắng giảm mạnh nên người dân chủ động giảm diện tích nuôi.
Sản lượng nuôi trồng năm 2015 ước đạt 15.251 tấn, tăng 2,3% so với năm 2014, trong đó cá các loại 8.460 tấn, tăng 5,3%; tôm các loại 5.776 tấn, giảm 3,1%, chia ra tôm sú 1.140 tấn, tăng 2,8%, tôm thẻ chân trắng 4.421 tấn, giảm 4,8%; tôm khác 215 tấn, tăng 3,9%; thủy sản khác 1.015 tấn, tăng 11,1%.
Năm 2015, sản lượng thủy sản khai thác ước đạt 38.515 tấn, chiếm tỷ trọng 71,6% tổng sản lượng thủy sản, tăng 7,3% so với năm trước; trong đó sản lượng khai thác biển ước đạt 34.686 tấn, chiếm 90% sản lượng khai thác, tăng 8,7%; khai thác nội địa 3.829 tấn, chiếm 10%, giảm 3,7%, sản lượng khai thác nội địa giảm do nguồn lợi thủy sản và ngư trường đánh bắt ngày càng thu hẹp. Sản lượng khai thác thủy sản biển năm 2015 tăng khá là nhờ thời tiết thuận lợi, năng lực khai thác tăng, nhất là tàu đánh bắt xa bờ tăng, tàu thuyền làm dịch vụ thủy sản đảm bảo khâu cung ứng, tiêu thụ và tăng thời gian bám biển. 
Tính chung năm 2015, sản lượng thủy sản ước đạt 53.766 tấn, tăng 5,8% so với năm trước.
Sản xuất giống thủy sản: Sản xuất giống thủy sản trên địa bàn gặp nhiều khó khăn nhất là tôm sú giống do không cạnh tranh được với giống ngoại tỉnh. Năm 2015, trên địa bàn tỉnh sản xuất được 163,2 triệu con giống các loại, tăng 2,6%, so năm trước; trong đó tôm sú 88,5 triệu con, tăng 0,6%; cá giống 73,2 triệu con, tăng 6,1%, cua, ếch giống 1,5 triệu con, giảm 25%.
3. Sản xuất công nghiệp
Sản xuất  công nghiệp trên địa bàn tiếp tục duy trì đà tăng trưởng. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 12/2015 ước tính tăng 1,5% so với tháng trước và tăng 6,66% so với cùng kỳ năm trước. Trong các ngành công nghiệp, chỉ số sản xuất ngành ngành chế biến, chế tạo tháng 12 tăng 9,09% so với cùng kỳ năm trước; cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 4,08%; khai khoáng giảm 3,91%; sản xuất và phân phối điện giảm 34,74%.
Tính chung cả năm 2015 chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) ước tăng 9,5% so với năm trước, thấp hơn mức tăng 9,7% của năm 2014; trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,35%, đóng góp 8,94 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, hơi nước, nước đá... tăng 22,01%, đóng góp 0,72 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý nước thải, rác thải tăng 9,67%, đóng góp 0,04 điểm phần trăm; riêng ngành khai khoáng giảm 18,02%, đóng góp âm.
Một số ngành công nghiệp có chỉ số sản xuất năm 2015 tăng cao so với năm trước: Sản xuất sợi tăng 20,38%; sản xuất xi măng, thạch cao tăng 69,36%; sản xuất ô tô tăng gấp 2,6 lần; sản xuất và phân phối điện tăng 22,61% (trong đó điện sản xuất tăng 24,53%); thu gom rác thải tăng 20,05%. Một số ngành có mức tăng khá hoặc tăng thấp: May mặc tăng 4,64%; cấp nước tăng 2,45%; sản xuất bia tăng 1,75%; sản xuất gạch ngói tăng 1,91%.
Chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2015 tăng khá chủ yếu nhờ đóng góp của các ngành dệt may, điện năng, thu gom, xử lý rác thải, sản xuất xi măng (do năng lực tăng thêm trong năm 2015).
Một số ngành công nghiệp có chỉ số sản xuất năm 2015 giảm so với năm trước: Khai thác quặng ti tan giảm 36,98%; in ấn giảm 18,34%; chế biến thủy sản giảm 11,36%; sản xuất bê tông và các sản phẩm từ xi măng giảm 15,33%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 13,39%; chế biến dăm gỗ giảm 0,17%.
Chỉ số sản xuất ngành khai thác quặng giảm mạnh do trên địa bàn cấm xuất quặng thô, nên một số nhà máy sản xuất phải ngừng hoạt động. Chế biến  thủy sản giảm do thị trường tiêu thụ chính là Nhật Bản gặp khó khăn. Sản xuất bia trong năm qua gặp phải sự cạnh tranh gay gắt, nên khó phát triển thị trường mới, một số thị trường truyền thống cũng đang có xu hướng bị thu hẹp. Chỉ số sản xuất ngành bia năm 2015 chỉ tăng nhẹ 1,75%, cách biệt khá lớn so với con số tăng 14,22% của năm 2014. Ngành chế biến dăm gỗ năm 2015 đã phát triển thêm năng lực sản xuất mới là Công ty TNHH Hào Hưng Huế đi vào hoạt động, tuy nhiên do nguồn nguyên liệu đầu vào cung cấp cho các nhà máy chưa đáp ứng đủ nên chỉ số sản xuất giảm nhẹ so năm trước.
Các sản phẩm công nghiệp chủ yếu có mức sản xuất tăng cao trong năm 2015 so năm trước: Kem cây đạt 926,8 tấn, tăng 16,13%; sợi các loại 64,6 nghìn tấn, tăng 20,38%; clanhke 2.212,7 nghìn tấn, tăng gấp 2,1 lần; xi măng 1.624,8 nghìn tấn, tăng 49,36%; men frit 84,4 nghìn tấn, tăng 61,42%; xe ô tô 100 chiếc, tăng gấp 2,63 lần; điện sản xuất 1.111,6 triệu kwh, tăng 24,53%; rác thải 123 nghìn tấn, tăng 20,05%. Một số sản phẩm tăng khá hoặc tăng thấp: Đá vôi nguyên liệu đạt 937,5 nghìn m3, tăng 7,78%; bia lon 101,5 triệu lít, tăng 4,77%; quần áo lót 263,6 triệu cái, tăng 4,22%; nước máy 44,2 triệu m3, tăng 2,45%.
Các sản phẩm có mức sản xuất giảm  trong năm 2015 so năm trước: Quặng inmenit đạt 17,6 nghìn tấn, giảm 35,37%; Quặng zircon, rutile 10,6 nghìn tấn, giảm 36,98%; tôm đông lạnh  2734,3 tấn, giảm 7,05%; mực đông lạnh 722,4 tấn, giảm 23,45%; tinh bột sắn 20,2 nghìn tấn, giảm 2,42%; bia đóng chai 108,4 triệu lít, giảm 4,08%;  in ấn 2.201,4 triệu trang, giảm 22,73%; bê tông trộn sẵn 83,5 nghìn m3, giảm 23,15%.
Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 11/2015 tăng 10,8% so với tháng trước và tăng 24,76% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng đầu năm, chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 17,18% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 3,19% so cùng kỳ của năm 2013 và mức tăng 5,6% so cùng kỳ của năm 2014. Các ngành có chỉ số tiêu thụ 11 tháng tăng cao so với cùng kỳ: Sản xuất kem cây tăng 16,65%; tinh bột sắn tăng 46,8%; sản xuất sợi tăng 22,92%; sản xuất clanhke tăng gấp 2,25 lần; sản xuất xi măng tăng 46,39%; sản xuất menfrit tăng 81,91%; sản xuất xe có động cơ tăng gấp 2,68 lần. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng thấp hoặc giảm: May mặc tăng 1,49%; chế biến mực đông lạnh giảm 19,36%; sản xuất bia giảm 3,91%; chế biến dăm gỗ giảm 27,44%; sản xuất gạch ngói giảm 5,36%; sản xuất bê tông và các sản phẩm từ xi măng giảm 15,6%.
Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến chế tạo tại thời điểm 01/12/2015 tăng 2,64% so với tháng trước và tăng 48,63% so với cùng kỳ năm trước (cùng thời điểm năm 2013 tăng 44,99% so cùng kỳ và năm 2014 là 72,35%). Một số ngành có chỉ số tồn tăng thấp hơn mức tăng chung hoặc giảm: Sản xuất bia tăng 20,29% so với cùng kỳ năm trước; sản xuất xi măng tăng 10,95%; sản xuất gạch ngói tăng 43,87%; sản xuất men Frit tăng 25,88%; sản xuất tinh bột sắn giảm 54,8%; chế biến mực đông lạnh giảm 67,2%; sản xuất sợi giảm 14,01%; sản xuất thuốc và dược liệu giảm 4,42%; sản xuất clanhke giảm 43,31%; sản xuất bê tông và các sản phẩm từ xi măng giảm 11,22%; xe có động cơ giảm 25%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao hơn mức tăng chung: Sản xuất trang phục tăng gấp 2,39 lần; chế biến dăm gỗ tăng gấp 3,71 lần
Chỉ số sử dụng lao động tháng 12/2015 tăng 1,14% so với tháng trước và tăng 7,95% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung cả năm 2015 chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp tăng 7,4% so với năm trước. Trong đó tập trung vào một số ngành như: chế biến thực phẩm tăng 27,31%; sản xuất sợi tăng 15,09%; may mặc tăng 8,34%; sản xuất các sản phẩm khoáng phi kim loại tăng 11,15%; cấp nước tăng 5%. Chỉ số sử dụng lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước năm 2015 giảm 3,34% so với năm trước; doanh nghiệp ngoài Nhà nước giảm 3,94% và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 21,51%.
Kết quả điều tra xu hướng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến chế tạo trong quí IV năm 2015 như sau:
 Các yếu tố tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp: Có 60,87% DN cho rằng yếu tố tính cạnh tranh của hàng trong nước đã  ảnh hưởng đến hoạt động SXKD của doanh nghiệp; tương tự nhu cầu thị trường trong nước thấp có 45,65% DN; nhu cầu thị trường ngoài nước thấp có 30,43% DN; thiếu nguyên vật liệu có 30,43% DN; tính cạnh tranh của hàng nhập khẩu và chính sách pháp luật của Nhà nước có 21,74% DN; khó khăn về tài chính và lãi suất cao có 17,39% DN; thiết bị, máy móc lạc hậu có 15,22% DN.
Xu hướng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp:Về khối lượng sản phẩm sản xuất quý IV năm nay so với quý trước, có 32,6% số doanh nghiệp có khối lượng sản phẩm sản xuất tăng lên; 34,8% số doanh nghiệp có khối lượng sản phẩm sản xuất giảm đi và 32,6% số doanh nghiệp có khối lượng sản phẩm sản xuất giữ ổn định. Xu hướng quý I/2016 so với quý IV/2015 giảm đi đáng kể do quí I rơi vào dịp Tết với 21,7% số doanh nghiệp dự kiến có khối lượng sản phẩm sản xuất tăng lên; 45,7% số doanh nghiệp dự kiến có khối lượng sản phẩm sản xuất giảm đi và 32,6% số doanh nghiệp có khối lượng sản phẩm sản xuất giữ ổn định. Xu hướng giảm quí I/2016 tập trung vào một số ngành như sản xuất sợi, sản xuất dăm gỗ, sản xuất vật liệu xây dựng (khoáng phi kim loại), in ấn. Xu hướng trong cả năm 2016 so với năm 2015 có 52,2% số doanh nghiệp dự kiến có khối lượng sản phẩm sản xuất tăng lên; 8,7% số doanh nghiệp dự kiến có khối lượng sản phẩm sản xuất giảm đi và 39,1% số doanh nghiệp có khối lượng sản phẩm sản xuất giữ ổn định.
Về đơn đặt hàng sản xuất quý IV năm nay so với quý trước, có 22,2% số doanh nghiệp có số đơn đặt hàng cao hơn; 37,8% số doanh nghiệp có đơn đặt hàng giảm và 40% số doanh nghiệp có số đơn đặt hàng ổn định. Xu hướng quý I/2016 so với quý IV/2015 giảm khá với 20% số doanh nghiệp dự kiến có đơn hàng cao hơn; 44,4% số doanh nghiệp dự kiến đơn hàng giảm và 35,6% số doanh nghiệp dự kiến đơn hàng ổn định. Xu hướng trong cả năm 2016 so với năm 2015 có 46,7% số doanh nghiệp dự kiến có khối lượng sản phẩm sản xuất tăng lên; 11,1% số doanh nghiệp dự kiến có khối lượng sản phẩm sản xuất giảm đi và 42,2% số doanh nghiệp có khối lượng sản phẩm sản xuất giữ ổn định.
Về đơn đặt hàng xuất khẩu quý IV năm nay so với quý trước, có 22,7% số doanh nghiệp khẳng định số đơn hàng xuất khẩu cao hơn; 31,8% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu giảm và 45,5% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu ổn định. Xu hướng quí hướng quý I/2016 so với quý IV/2015 có 21,7% số doanh nghiệp dự kiến tăng đơn hàng xuất khẩu; 52,2% số doanh nghiệp dự kiến đơn hàng xuất khẩu giảm và 26,1% số doanh nghiệp dự kiến ổn định. Xu hướng trong cả năm 2016 so với năm 2015 có 47,8% số doanh nghiệp dự kiến đơn hàng xuất khẩu tăng lên; 21,7% số doanh nghiệp dự kiến đơn hàng xuất khẩu giảm đi và 30,4% số doanh nghiệp dự kiến đơn hàng xuất khẩu giữ ổn định.
Về chi phí sản xuất quý IV năm nay so với quý trước, có 21,7% số doanh nghiệp có chi phí sản xuất trên một đơn vị sản phẩm tăng; 15,2% số doanh nghiệp có chi phí giảm và 63% số doanh nghiệp có chi phí ổn định. Xu hướng quý I/2016 so với quý IV/2015 ít biến động hơn với 17,4% số doanh nghiệp cho rằng chi phí sản xuất sẽ tăng; 17,4% số doanh nghiệp cho rằng chi phí sản xuất giảm và 65,2% số doanh nghiệp ổn định.
Về giá bán bình quân trên một đơn vị sản phẩm quý IV năm nay so với quý trước có xu hướng giảm với 13% số doanh nghiệp có giá bán sản phẩm tăng; 30,3% số doanh nghiệp có giá bán thấp hơn và 56,5% số doanh nghiệp giữ giá ổn định. Xu hướng quý I/2016 so với quý IV/2015, có 13% số doanh nghiệp dự báo giá bán sản phẩm sẽ cao hơn; 23,9% số doanh nghiệp dự báo giá bán sẽ thấp hơn và 63,1% số doanh nghiệp sẽ ổn định giá bán sản phẩm.
Về tồn kho sản phẩm quý IV năm nay so với quý trước, có 28,3% số doanh nghiệp có lượng hàng tồn kho tăng; 37% số doanh nghiệp có lượng hàng tồn kho giảm và 34,8% số doanh nghiệp giữ  ổn định. Xu hướng quý I/2016 so với quý IV/2015, có 21,7% số doanh nghiệp dự kiến lượng hàng tồn kho sẽ tăng; 32,6% số doanh nghiệp dự kiến lượng hàng tồn kho giảm và 45,7% số doanh nghiệp sẽ giữ ổn định.
4. Tình hình đăng ký doanh nghiệp
Từ đầu năm đến nay, số doanh nghiệp thành lập mới trên địa bàn là 510 doanh nghiệp, trong đó: công ty cổ phần 52 DN; công ty TNHH hai thành viên trở lên 141 DN; công ty TNHH một thành viên 216 DN; DNTN 92 DN; DN có vốn đầu tư nước ngoài 9 DN. Tổng số vốn các doanh nghiệp đăng ký thành lập mới đạt 11.867,8 tỷ đồng, trong đó DN có vốn ĐTNN có số vốn đăng ký 10.045,5 tỷ đồng. Đã giải quyết việc làm cho gần 4.500 lao động địa phương.
Trong năm không có doanh nghiệp ngừng hoạt động quay trở lại hoạt động. Số doanh nghiệp giải thể là 62 DN; số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động 87 DN. Các doanh nghiệp này tập trung vào doanh nghiệp nhỏ, nguồn vốn thấp không có khả năng mở rộng SXKD, sức cạnh tranh yếu, hoạt động SXKD không hiệu quả nhiều năm liền.
5. Bán lẻ hàng hoá, hoạt động của các ngành dịch vụ
Trong năm 2015, kinh tế trong tỉnh tiếp tục đà phục hồi; công tác quản lý điều hành bình ổn thị trường được tập trung chỉ đạo chặt chẽ; tăng cường dự trữ hàng hóa trong mùa mưa bão và các dịp lễ, tết; tổ chức các hội chợ thương mại, các chương trình bán hàng khuyến mại, thực hiện cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, các phiên chợ bán hàng Việt về nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Nhờ đó, hoạt động thương mại dịch vụ trên địa bàn có nhiều chuyển biến tích cực
a. Bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế  tháng 12/2015 ước đạt 2.577,4 tỷ đồng, tăng 1,33% so với tháng trước và tăng 6,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu bán lẻ hàng hóa  đạt  2.030,9 tỷ đồng, tương ứng tăng 1,25% và tăng 8,57%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 393,9 tỷ đồng, tăng 1,37% và giảm 2,2%; doanh thu du lịch lữ hành 10,3 tỷ đồng, tăng 1,3% và giảm 5,32%; doanh thu dịch vụ khác 142,3 tỷ đồng, tăng 1,38% và tăng 8,4%.
 Dự ước năm 2015, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 30.263,7 tỷ đồng, tăng 8,41% so với năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 7,59%. Xét theo loại hình kinh tế, khu vực Nhà nước đạt 2.508,1 tỷ đồng, chiếm 8,29% tổng số và giảm 1,21% so với năm trước; khu vực ngoài Nhà nước 26.909,5 tỷ đồng, chiếm 88,92% và tăng 9,51%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 846,1 tỷ đồng, chiếm 2,8% và tăng  5,03%. Trong tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2015, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 23.486,9 tỷ đồng, chiếm 77,61% tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng, tăng 9,77% so với năm 2014, mức tăng của các nhóm ngành hàng năm nay so với năm 2014 như sau: Lương thực, thực phẩm tăng 12,32%; hàng may mặc tăng 9,39%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 13,38%; vật phẩm văn hoá, giáo dục tăng 9,87%; phương tiện đi lại tăng 5,31%; xăng, dầu tăng 6,6%. Doanh thu dịch vụ lưu trú ăn uống đạt 4.940,7 tỷ đồng, chiếm 16,33%, tăng 2,21% so năm trước; du lịch lữ hành đạt 144,1 tỷ đồng, chiếm 0,48%, giảm 0,2%; dịch vụ khác 1.692,1 tỷ đồng, chiếm 5,59%, tăng 9,69%.
b. Vận tải hành khách và hàng hóa
Vận tải hành khách năm 2015 ước đạt 18.811,03 nghìn hành khách, tăng 2,29% và 863,96 triệu hành khách.km tăng 1,29% so với năm trước; trong đó vận tải hành khách đường bộ đạt 18.581,7 nghìn hành khách, tăng 6,16% và 863,55 triệu hành khách.km, tăng 1,71%.
Vận tải hàng hóa năm 2015 ước đạt 7.632,86 nghìn tấn, tăng 12,26% và 625,41 triệu tấn.km, 13,31% so với năm trước, trong đó vận tải hàng hóa đường bộ ước đạt 7.426,12 nghìn tấn, tăng 12,73% và 528,2 triệu tấn.km, tăng 9,96%; đường biển 89,77 nghìn tấn, tăng 11,58% và 96,24 triệu tấn.km, tăng 37,13%.
Doanh thu vận tải, bốc xếp năm 2015 ước đạt 1.924,45 tỷ đồng, tăng 10,64% so với năm trước; trong đó đường bộ đạt 1.785,72 tỷ đồng, tăng 9,76%; đường biển 132,03 tỷ đồng, tăng 30,02%.
c. Lượt khách các cơ sở lưu trú phục vụ và du lịch lữ hành
Năm 2015, các hoạt động quảng bá, xúc tiến du lịch của Tỉnh được đẩy mạnh; hình thành nhiều tour du lịch với các hình thức phong phú. Đặc biệt đã kết nối tổ chức thành công tuyến bay Bangkok (Thái Lan), Đà Lạt - Phú Bài Huế, là sự kiện quan trọng trong hợp tác phát triển kinh tế và du lịch giữa tỉnh Thừa Thiên Huế với các địa phương của Thái Lan, khu vực Tây Nguyên. Tuy nhiên, năm nay lượng khách đến Huế giảm do lượng khách quốc tế đến Việt Nam giảm (11 tháng đầu năm giảm 2% so cùng kỳ).
Tháng 12 năm 2015, ước tính lượt khách đến Huế do cơ sở lưu trú phục vụ đạt 134,6 nghìn lượt khách, giảm 1,43% so với tháng trước và giảm 3,46% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung cả năm 2015, lượt khách cơ sở lưu trú phục vụ đạt 1.775,8 nghìn lượt khách, giảm 3,76% so với năm trước, trong đó khách quốc tế  745,1 nghìn lượt, giảm 2,1%. Tổng ngày khách phục vụ năm 2015 ước đạt 3.367,4 nghìn ngày khách, giảm 4,43% so với năm trước; trong đó ngày khách quốc tế 1.658 nghìn ngày khách, giảm 2,64%.
Doanh thu các cơ sở lưu trú tháng 12/2015 ước đạt 106,3 tỷ đồng, giảm 0,2% so với tháng trước và giảm 4,91% so cùng kỳ năm trước. Đưa doanh thu các cơ sở lưu trú năm 2015 ước đạt 1.462,2 tỷ đồng, giảm 1,35% so năm trước.
Tháng 12/2015 ước tính lượt khách du lịch theo tour đạt 6,6 nghìn lượt, tăng 0,89% so với tháng trước và giảm 2,96% so cùng kỳ năm trước. Đưa tổng lượt khách theo tour thực hiện năm 2015 ước đạt 88,5 nghìn lượt, giảm 2,94% so  năm trước; ngày khách theo tour đạt 184,7 nghìn ngày, giảm 3,49%.
d. Bưu chính viễn thông
Tính đến cuối năm 2015, số thuê bao điện thoại trên địa bàn tỉnh ước đạt 1.126.030 máy, tăng 1,98% so cùng kỳ năm trước, đạt mật độ 98,47 máy/100 dân; trong đó  điện thoại cố định 129.203 máy, giảm 1,24%; điện thoại di động 996.827 máy, tăng 2,41%; Internet có 89.972 thuê bao, tăng 5,18%, đạt mật độ 7,97 thuê bao internet/100 dân.
II. ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ
1. Chỉ số giá
a. Chỉ số giá tiêu dùng
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trên địa bàn tỉnh tháng 12/2015 tăng 0,08% so với tháng trước, đây là tháng cao điểm vào mùa Noel, Tết Dương lịch và áp Tết Nguyên đán nhưng CPI  tăng thấp. CPI tháng 12 năm nay tăng thấp chủ yếu do tác động giá xăng dầu giảm. Trong CPI tháng 12 so với tháng trước, nhóm giao thông giảm 1,51%; nhóm tăng cao nhất là lương thực tăng 0,96%; tiếp đến là thực phẩm tăng 0,44%;  may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,39%. Các nhóm tăng nhẹ gồm: Nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,21%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,15%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,09%; giáo dục tăng 0,07%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,01%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,28%. Các nhóm không tăng gồm: Thuốc và dịch vụ y tế; bưu chính viễn thông; nhóm ăn uống ngoài gia đình.
Trong năm 2015, tình hình giá cả thị trường ít biến động, chỉ số giá tiêu dùng tháng 12/2015 tăng 0,82% so với tháng 12 năm trước, đây là mức tăng  thấp nhất so mức tăng cùng kỳ nhiều năm trước đây (năm 2014 tăng 2,13%; năm 2013 tăng 9,46%; năm 2012 tăng 9,43%). Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 12 tháng năm 2015 tăng 0,87% so với bình quân năm 2014. Trong năm 2015, chỉ số giá tiêu dùng bình quân mỗi tháng tăng 0,07%.
CPI năm 2015 tăng thấp so với năm trước chủ yếu do các yếu tố tác động sau: Giá các mặt hàng nhiên liệu như xăng, dầu, gas giảm nhiều lần trong năm tác động làm giảm giá thành của nhiều ngành sản xuất kinh doanh, nhất là ngành vận tải. Hàng năm tỉnh Thừa Thiên Huế và khu vực Trung bộ thường chịu nhiều thiên tai, gây nên sự khan hiếm hàng hóa trong vùng, nhất là các mặt hàng nông sản, nên đã đẩy giá hàng hóa tăng, nhưng năm nay thời tiết khá thuận lợi nên tình trạng tăng giá do nguyên nhân này không xảy ra. Ngoài ra các mặt hàng hóa và dịch vụ do nhà nước quản lý giá như y tế, giáo dục năm nay không điều chỉnh tăng nhiều. Thêm vào đó, hậu quả suy giảm kinh tế chưa được khắc phục dứt điểm nên sức mua thị trường vẫn còn yếu, nhu cầu nhiều mặt hàng không tăng, thậm chí giảm. Cùng với đó, trong năm UBND tỉnh đã chỉ đạo các ngành chức năng làm tốt công tác dự trữ hàng hóa, tổ chức bán hàng bình ổn kết hợp với chương trình đưa hàng Việt về nông thôn phục vụ nhu cầu tiêu dùng tăng lên trong dịp lễ, tết, trong mùa mưa bão; thực hiện tốt công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, ngăn chặn các hành vi gian lận thương mại, đầu cơ găm hàng gây sốt giá nên không xảy ra hiện tượng tăng giá đột biến. Nhờ đó đã làm chỉ số giá tiêu dùng các tháng trong dịp lễ, tết biến động không đáng kể, chẳng hạn như chỉ số giá tháng 2/2015 (tháng tết âm lịch) so tháng trước cũng chỉ tăng 0,18%, thấp hơn rất nhiều mức tăng của những năm trước đây.
 b. Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ
Chỉ số giá vàng tháng 12/2015 giảm 3,6% so với tháng trước, giảm 5,13% so với tháng 12 năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 12/2015 tăng 0,65% so với tháng trước, tăng 5,05% so với tháng 12 năm trước.
2. Đầu tư phát triển
Năm 2015 ưu tiên các nguồn lực đầu tư phát triển hạ tầng phục vụ sản xuất, phát triển kinh tế. Tổng vốn đầu tư thực hiện theo giá hiện hành trên địa bàn năm 2015 ước đạt 16.320 tỷ đồng, đạt 100,74% KH năm, tăng 11,02% so năm trước; trong đó vốn khu vực Nhà nước đạt 7.977,7 tỷ đồng, đạt 93,55% KH, tăng 7,55%, chiếm 48,9% tổng vốn; vốn khu vực ngoài Nhà nước 7.142,3 tỷ đồng, đạt 101,86% KH, tăng 17,31%, chiếm 43,8%; vốn đầu tư nước ngoài đạt 1.200 tỷ đồng, đạt 181,82% KH, xấp xỉ cùng kỳ, chiếm 7,3%.
Trong vốn đầu tư thực hiện khu vực Nhà nước năm nay, vốn từ ngân sách Nhà nước ước tính đạt 2.410 tỷ đồng, đạt 102,5% kế hoạch và bằng 98,08% so năm trước, gồm có: vốn ngân sách Trung ương quản lý đạt 551,3 tỷ đồng, đạt 100,2% KH, bằng 144,36% so năm trước; vốn ngân sách Địa phương quản lý 1.858,7 tỷ đồng, đạt 103,2% KH, bằng 89,56%. Trong nguồn vốn ngân sách Nhà nước địa phương, vốn ngân cấp tỉnh đạt 1.548,7 tỷ đồng, đạt 102,5% KH và bằng 87,96% so năm trước; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 254,9 tỷ đồng, đạt 106,8% KH và bằng 96,91%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 55,1 tỷ đồng, đạt 107,3% KH và bằng 106,59%.
Tỷ trọng nguồn vốn đầu tư khu vực Nhà nước trong tổng vốn đã có thay đổi, giảm từ 50,4% năm 2014 xuống còn 48,8% năm 2015, cho thấy công tác xã hội hóa trong đầu tư đã có chuyển biến tích cực.
Để Thúc đẩy công tác đầu tư xây dựng trên địa bàn, trong năm 2015 UBND tỉnh đã ban hành các văn bản: Công văn số 136/KH-UBND về triển khai chương trình phát triển hạ tầng kinh tế và hạ tầng kỹ thuật năm 2015; Công văn số 1166/UBND-GT và Quyết định 786/QĐ-UBND về công tác giải phóng mặt bằng Quốc lộ 1A; Công văn số 2092/UBND-XD về tăng cường các biện pháp xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản nguồn đầu tư công.
Trong năm 2015, nguồn vốn Nhà nước trên địa bàn thực hiện khá nhanh ngay từ đầu năm, nhiều dự án sớm đưa vào khai thác: Đường Điện Biên Phủ; Hệ thống cấp nước sạch xă Vinh Hà; Trung tâm văn hoá thể thao huyện Phong Điền;... một số dự án tiếp tục ứng trước nguồn 2016 để thực hiện: Nâng cấp mở rộng đường Tỉnh lộ 9; Trường PTTH Nguyễn Huệ giai đoạn 2; cải tạo Đập Đá,… Tuy nhiên nguồn địa phương quản lý giảm so cùng kỳ, do kế hoạch bố trí nguồn vốn này thấp, mặc dù năm nay đã được bổ sung 103 tỷ đồng. Nguồn trung ương tăng nhanh do kế hoạch bố trí nguồn này khá cao, nhiều dự án lớn được đẩy nhanh tiến độ: Mở rộng, nâng cấp QL 49B (Thuận an-Tư Hiền-QL 1A); Trung tâm ung bướu Bệnh viện Trung ương Huế; Nhà hát Sông Hương-Học viện âm nhạc Huế;… Nguồn trái phiếu tiếp tục đầu tư vào các công trình trọng điểm quốc gia trên địa bàn đến nay đạt tiến độ thi công cao: Mở rộng đường quốc lộ 1A đoạn La Sơn - Lăng Cô; đường La Sơn - Nam Đông. Ngoài ra, năm nay những dự án thuộc chương trình nông thôn mới đầu tư từ nguồn trái phiếu tiến hành khá nhanh.
Nguồn viện trợ đạt thấp so cùng kỳ do dự án cải thiện môi trường nước thành phố chiếm tỷ lệ vốn lớn trên 70% tổng nguồn vốn này, nhưng trong năm thực hiện chậm.
Nguồn vốn ngoài Nhà nước: Trong năm, vốn đầu tư của doanh nghiệp tăng cao, trong đó có những dự án mang tính xã hội hóa với số vốn đầu tư lớn trong lĩnh vực giao thông: Mở rộng quốc lộ 1A; Hầm đường bộ Phú Gia - Phước Tượng; những dự án trong công nghiệp đã được đưa vào hoạt động: Nhà máy 1,5 vạn cọc sợi của công ty Thiên An Thịnh; Nhà máy sản xuất viên nén năng lượng của công ty kinh doanh lâm nghiệp. Những dự án doanh nghiệp tiếp tục đầu tư xây dựng các nhà máy thủy điện nhỏ A Roàng, Nhà máy thủy điện Thượng Lộ. Năm nay trên địa bàn tỉnh có nhiều dự án qui mô lớn được khởi công: KCN Phong Điền - Viglacera; Cảng biển số 3 - Chân Mây Lăng Cô; Trung tâm thương mại Vincom Hùng Vương và khách sạn 5 sao Vinpearl Huế; Dự án Khu nhà ở Tam Thai. Ngoài ra có một số dự án công nghiệp đã được cấp phép đầu tư.
Tính từ đầu năm đến nay, đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn thu hút 9 dự án được cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 446,57 triệu USD, bằng về số dự án và tăng gấp 10,5 lần về số vốn so với năm 2014, do năm nay có 2 dự án đăng ký với số vốn lớn: Dự án khu du lịch nghỉ dưỡng quốc tế Minh Viễn Lăng Cô có vốn đăng ký 368 triệu USD và Dự án sản xuất vỏ lon nhôm có vốn đăng ký 74,8 triệu USD. Trong năm có 2 dự án bổ sung điều chỉnh giấy phép đầu tư với số vốn điều chỉnh tăng là 5,08 triệu USD. Như vậy tổng vốn đăng ký của các dự án cấp mới và vốn cấp bổ sung đạt 451,65 triệu USD, tăng 10,6 lần so với cùng kỳ năm 2014. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện năm 2015 ước đạt 54,16 triệu USD, giảm 4,85% so với năm trước.
Trong số 9 dự án được cấp phép mới trong năm 2015, đầu tư vào thông tin truyền thông 1 dự án và thương mại 1 dự án với tổng số vốn đăng ký 0,37 triệu USD; dịch vụ lữ hành 1 dự án với số vốn 1,93 triệu USD; xuất khẩu thủy sản 1 dự án và công nghiệp 1 dự án với tổng số vốn 1,1 triệu USD; giáo dục 1 dự với số vốn 0,26 triệu USD, 2 dự án đầu tư về công nghiệp với số vốn 74,91 triệu USD và 1 dự án về du lịch nghỉ dưỡng với tổng số vốn  368 triệu USD.
Nhìn chung, tình hình thực hiện vốn đầu tư trên địa bàn năm 2015 có nhiều chuyển biến tích cực, đây là năm đầu tiên vượt kế hoạch trong vòng 5 năm trở lại đây.
3. Tài chính, tín dụng
Tổng thu ngân sách năm 2015 ước đạt 5.010 tỷ đồng, bằng 102,6% dự toán năm, tăng 5,32% so năm trước; trong đó thu nội địa 4.327 tỷ đồng, bằng 105,1% DT, tăng 11,12%; thu thuế xuất nhập khẩu 300 tỷ đồng, bằng 76,9%DT, giảm 16,9%.
Trong thu nội địa: Thu doanh nghiệp Nhà nước đạt 450,4 tỷ đồng, bằng 100% DT, tăng 19,47% so năm trước; thu DN có vốn đầu tư nước ngoài 1.485 tỷ đồng, bằng 93,7% DT, giảm 1%, nguồn thu DN có vốn đầu tư nước ngoài đạt thấp so dự toán do sản phẩm bia trong năm sản xuất và tiêu thụ chậm lại, đây là nguồn thu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu ngân sách của Tỉnh; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 840 tỷ đồng, bằng 95,2%DT, tăng 10,53%. Hai nguồn thu còn lại có tốc độ thu tăng cao so năm trước là thu thuế thu nhập cá nhân đạt 175 tỷ đồng, bằng 116,7% DT, tăng 20,69% và thu thuế bảo vệ môi trường 280 tỷ đồng, bằng 191,8% DT, tăng gấp 2 lần.
Tổng chi ngân sách địa phương năm 2015 ước đạt 7.182,9 tỷ đồng, bằng 101,4% DT; trong đó chi đầu tư phát triển 1.496,9 tỷ đồng, bằng 102,1% DT; chi sự nghiệp kinh tế đạt 597,1 tỷ đồng, bằng 108,47% DT; chi sự nghiệp giáo dục đào tạo 2.287,4 tỷ đồng, bằng 100,7% DT; chi sự nghiệp y tế 460,9 tỷ đồng, bằng 101,5% DT; chi quản lý Nhà nước 1.016,8 tỷ đồng, bằng 105% DT.
Tín dụng: Tổng vốn huy động đến cuối năm 2015 ước đạt 28.000 tỷ đồng, tăng 15,2% so với đầu năm, trong đó vốn huy động trên 12 tháng chiếm tỷ trọng 29%, vốn huy động bằng đồng Việt Nam chiếm tỷ trọng 95%.
Tổng dư nợ cho vay toàn địa bàn đến cuối năm 2015 ước đạt 26.200 tỷ đồng, tăng 9,9% so với đầu năm, đạt 71% so kế hoạch đề ra; trong đó dư nợ cho vay ngắn hạn chiếm tỷ trọng 35% trong tổng dư nợ; dư nợ cho vay bằng VNĐ chiếm 93%.
Cho vay một số lĩnh vực ưu tiên: Dự ước đến cuối năm 2015, tín dụng đối với nông nghiệp nông thôn (có tính dư nợ ngân hàng CSXH) tăng 9% so với đầu năm; doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng 6,9%; hoạt động xuất khẩu tăng 3%; công nghiệp hỗ trợ giảm 5,9%. Trên địa bàn không có dư nợ cho vay công nghệ cao.
Trong năm 2015, lãi suất huy động bằng VNĐ không có kỳ hạn hoặc có kỳ hạn dưới 1 tháng phổ biến ở mức 0,8 - 1%/năm; kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng ở mức 4,0% - 5,4%/năm;  kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng dao động ở mức 5,4% - 6,4%/năm; kỳ hạn từ 12 tháng trở lên phổ biến ở mức 6,4% - 7,2%/năm.
Lãi suất cho vay các lĩnh vực ưu tiên phổ biến ở mức 6 - 7%/ năm đối với ngắn hạn; trung và dài hạn ở mức 8% - 10%/ năm. Lãi suất cho vay các lĩnh vực SXKD thông thường phổ biến ở mức 6,8% - 9%/ năm đối với vay ngắn hạn; trung, dài hạn phổ biến ở mức 9% - 11%/ năm.
Lãi suất huy động USD phổ biến bằng mức trần do NHNN qui định là  0,25%/năm đối với tiền gửi của cá nhân và 0,0%/năm đối với tiền gửi của tổ chức. Lãi suất cho vay USD phổ biến ở mức 3 - 6,7%/ năm; trong đó lãi suất cho vay ngắn hạn 3% - 5,5%/ năm; cho vay trung, dài hạn 5,5% - 6,7%/năm.
4. Hoạt động xuất, nhập khẩu
a. Xuất khẩu hàng hóa
Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 12/2015 ước đạt 68,16 triệu USD, tăng 3,34% so với tháng trước và tăng 10,41% so cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế Nhà nước đạt 10,3 triệu USD, tương ứng tăng 9,84% và tăng 9,21%; khu vực kinh tế tư nhân 18,9 triệu USD, tăng 4,58% và tăng 26,24%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 38,95 triệu USD, tăng 1,17% và tăng 4,36%.
Tính chung năm 2015, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước đạt 667,24 triệu USD, tăng 5,16% so với năm trước; trong đó khu vực kinh tế Nhà nước đạt 112,26 triệu USD, giảm 4,12%; kinh tế tư nhân 164,01 triệu USD, tăng 10,07%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 390,97 triệu USD, tăng 6,12%. Nếu loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm 2015 tăng 8,95%. Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 58,6% tổng kim ngạch xuất khẩu và đóng góp 3,55 điểm phần trăm vào mức tăng chung, khu vực trong nước chiếm 41,4% và đóng góp 1,61 điểm phần trăm.
Năm 2015, các mặt hàng xuất khẩu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu: Hàng dệt may ước đạt 428,46 triệu USD, chiếm 64,2%, tăng 8,11% so với năm 2014; xơ, sợi dệt 100,56 triệu USD, chiếm 15,1%, tăng 3,48%; gỗ 69,47 triệu USD, chiếm 10,4%, giảm 9,72%; hàng thủy sản 36,39 triệu USD, chiếm 5,5%, tăng 24,12%.
Cơ cấu kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm 2015 có sự thay đổi so với năm trước: Tỷ trọng nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp tăng từ 79,8% lên 81,7%; nhóm hàng nông, lâm sản giảm từ 13,3% xuống 11,4%; nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản giảm từ 2,4% xuống 1,4%; nhóm hàng thủy sản tăng từ 4,6% lên 5,5%.
Về thị trường xuất khẩu, Hoa Kỳ vẫn là thị trường lớn nhất trong năm 2015 với kim ngạch ước đạt 298,69 triệu USD, chiếm 44,8% và giảm 3,73% so với năm 2014; Nhật Bản 110,52 triệu USD, chiếm 16,6%, tăng 59,13%; thị trường EU 78,04 triệu USD, chiếm 11,7%, tăng 35,65%; Thỗ Nhĩ Kỳ 38,56 triệu USD, chiếm 5,8%, giảm 26,79%; còn lại là các nước khác với kim ngạch ước đạt 126,73 triệu USD, chiếm 19%, tăng 24,78%.
b.  Nhập khẩu hàng hóa
Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 12/2015 ước đạt 35,38 triệu USD, tăng 2,27% so với tháng trước và giảm 3,16% so cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế Nhà nước đạt 6,66 triệu USD, tương ứng giảm 7,98% và tăng 19,25%; khu vực kinh tế tư nhân 10,23 triệu USD, giảm 2,04% và giảm 16,33%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 18,43 triệu USD, tăng 9,35% và giảm 1,2%.
Tính chung năm 2015 kim ngạch nhập khẩu hàng hóa ước đạt 392,95 triệu USD, giảm 2,17% so với năm trước, do nguyên phụ liệu dệt may giảm 43,1% so cùng kỳ; trong đó khu vực kinh tế Nhà nước đạt 69,15 triệu USD, giảm 2,61%; kinh tế tư nhân 106,15 triệu USD, giảm 8,49%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 217,65 triệu USD, tăng 1,4%.
Năm 2015, các mặt hàng nhập khẩu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch nhập khẩu: Vải các loại ước đạt 226,85 triệu USD, chiếm 57,7% trong tổng kim ngạch nhập khẩu và tăng 13,1% so với năm 2014; bông, xơ, sợi dệt 85,6 triệu USD, chiếm 21,8%, giảm 12,4%; nguyên phụ liệu hàng dệt may 24,65 triệu USD, chiếm 6,3%, giảm 43,1%.
Cơ cấu hàng hóa nhập khẩu năm 2015 có sự thay đổi so với cùng kỳ: Tỷ trọng nhóm hàng nguyên, nhiên vật liệu tăng từ 94,3% lên 94,4%; nhóm máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng tăng từ 5,1% lên 5,3%; nhóm hàng tiêu dùng giảm từ 0,6% xuống 0,3%.
Về thị trường nhập khẩu năm 2015, Trung Quốc vẫn là thị trường lớn nhất của tỉnh với kim ngạch ước đạt 201,53 triệu USD, chiếm 51,3% tổng kim ngạch nhập khẩu và giảm 12,16% so với năm 2014; Đài Loan 62,71 triệu USD, chiếm 16% và tăng 26,04%; thị trường Châu Phi 35,16 triệu USD, chiếm 9% và tăng 39,55%; thị trường Asean 22,33 triệu USD, chiếm 5,7% và giảm 10,69%; còn lại là của các nước khác ước đạt 71,22 triệu USD, chiếm 18,1% và giảm 1,45%.
Như vậy hoạt động xuất siêu trên địa bàn năm 2015 ước đạt 274,29 triệu USD, bằng 41,1% tổng kim ngạch xuất khẩu và tăng 17,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cán cân thương mại của khối kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có mức thặng dư là 173,32 triệu USD, chiếm 63,2%, tăng 12,72%; khối kinh tế tư nhân có mức thặng dư 57,86 triệu USD, chiếm 21,1%, tăng 75,35%; khối kinh tế Nhà nước có mức thặng dư 43,11 triệu USD, chiếm 15,7%, giảm 6,47%.
III. BẢO ĐẢM AN SINH XÃ HỘI, PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC, Y TẾ, VĂN HÓA VÀ CÁC LĨNH VỰC XÃ HỘI KHÁC
1. Dân số
Dân số trung bình toàn tỉnh năm 2015 ước tính 1.143,6 nghìn người, tăng 0,7% so với năm 2014, trong đó: Dân số nam 567,3 nghìn người, chiếm 49,6% tổng dân số toàn tỉnh, tăng 0,86%; dân số nữ 576,3 nghìn người, chiếm 50,4%, tăng 0,55%; dân số khu vực thành thị 556,1 nghìn người, chiếm 48,6%; khu vực nông thôn là 587,5 nghìn người, chiếm 51,4%.
Tỷ lệ sinh 15,26‰; tỉ lệ chết 4,26‰; tỉ lệ tăng tự nhiên dân số 11‰. Tổng tỷ suất sinh năm 2015 đạt 2,09 con/phụ nữ. Tỷ số giới tính của trẻ em mới sinh là 111,3 bé trai/100 bé gái, giảm so với mức 112,9 bé trai/100 bé gái của năm 2014.
2. Công tác an sinh xã hội
a. Chương trình giảm nghèo
Tiếp tục triển khai Kế hoạch thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo năm 2015, UBND tỉnh có kế hoạch phân bổ vốn đầu tư cho công tác giảm nghèo 2015 cho 31 xă  đặc biệt khó khăn, vùng bãi ngang ven biển và hải đảo với tổng kinh phí 33,4 tỷ đồng. Triển khai mô hình sinh kế giảm nghèo bền vững năm 2015 tại 2 huyện Phong Điền và Quảng Điền.
Đã cấp 25.619 thẻ BHYT cho người nghèo; 29.218 thẻ BHYT cho người dân tộc thiểu số sinh sống tại các xã đặc biệt khó khăn; hỗ trợ tiền điện cho hộ nghèo và hộ chính sách với tổng kinh phí 11,323 tỷ đồng. Dự ước đến cuối năm 2015, tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn tỉnh còn 4,5%.
b. Giải quyết việc làm 
Năm 2015, thông qua việc mở rộng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, xuất khẩu lao động, hoạt động tư vấn giới thiệu việc làm, tổ chức sàn giao dịch việc làm,.. đã giải quyết việc làm mới cho 16.500 lao động, đạt 103,1% kế hoạch năm.
Đã giải quyết chế độ bảo hiểm thất nghiệp cho 4.600 người/4.700 người đăng ký hưởng bảo hiểm thất nghiệp với tổng kinh phí 42,2 tỷ đồng.
Tiến hành cấp mới 53 giấy phép lao động cho lao động là người nước ngoài đến làm việc trên địa bàn tỉnh (trong đó: cấp mới 39 giấy phép và cấp lại 14 giấy phép); xác nhận cho 64 lao động nước ngoài không thuộc diện cấp phép lao động. Đưa tổng số đến nay có 251 lao động là người nước ngoài đang làm việc trên địa bàn được xác nhận và cấp phép.
c. Chính sách - xã hội
Nhân dịp Tết Nguyên đán Ất Mùi 2015, lãnh đạo tỉnh và các địa phương đã tổ chức thăm và tặng quà của Chủ tịch Nước, của Tỉnh và các địa phương như sau:
Thăm hỏi, tặng quà các đối tượng chính sách, có công: Giá trị quà của Chủ tịch Nước, của Tỉnh và cấp huyện tặng gồm 38.767 suất trị giá 7,99 tỷ đồng.
Trợ cấp khó khăn cho các đối tượng xã hội: Giá trị quà hỗ trợ gồm 96.801 suất quà trị giá 16,4 tỷ đồng và 109,47 tấn gạo.
Tổng giá trị quà trợ cấp cho đối tượng chính sách và đối tượng xã hội là 135.568 suất quà trị giá 24,4 tỷ đồng (Trong đó: Quà Chủ tịch Nước 7,29 tỷ đồng; quà của Tỉnh 10,56 tỷ đồng; huyện 200,9 triệu đồng và thông qua nguồn vận động 6,35 tỷ đồng) và 109,47 tấn gạo.
Nhân Kỷ niệm 68 năm ngày Thương binh liệt sỹ, các ban, ngành và các địa phương trong tỉnh tổ chức trao tặng quà của Chủ tịch nước, quà của địa phương cùng với việc gặp mặt, thăm hỏi. Đã có 37.292 suất quà được trao tặng đến người có công và gia đình người có công với tổng kinh phí hơn 6,1 tỷ đồng. Trong đó: Quà Chủ tịch nước 23.438 suất với tổng trị giá 4.939 triệu đồng; quà tỉnh 50 suất với tổng trị giá 35 triệu đồng; quà huyện/thị xã/thành phố 313 suất với tổng trị giá 119,2 triệu đồng; quà xã/phường/thị trấn 13.413 suất với tổng trị giá 972,3 triệu đồng và các tổ chức, doanh nghiệp khác 78 suất với tổng trị giá 37,5 triệu đồng.
Từ đầu năm đến nay, các địa phương trong tỉnh đã thực hiện tốt công tác trợ cấp xã hội thường xuyên tại cộng đồng, đã chi trả cho 49.799 lượt đối tượng với kinh phí hàng tháng gần 13 tỉ đồng/tháng, tăng hơn 2.000 đối tượng so với cùng kỳ năm trước.
Đã cấp thẻ BHYT năm 2015 cho 601 đối tượng đang được nuôi dưỡng tại 14 cơ sở bảo trợ xã hội ngoài công lập trên địa bàn tỉnh với tổng kinh phí 374 triệu đồng.
Tổ chức tốt tháng hành động vì trẻ em năm 2015 với chủ đề  “Lắng nghe trẻ em nói” tại các địa phương trên địa bàn toàn tỉnh. Từ đầu năm đến nay, thông qua các nguồn đã vận động hơn 13,3 tỷ đồng giúp đỡ cho hơn 29.000 trẻ em đặc biệt khó khăn. Đã cấp 125.348 thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi đạt trên 98% (số chưa được cấp vẫn có thể sử dụng giấy khai sinh để khám chữa bệnh miễn phí).
3. Giáo dục, đào tạo
a. Hoạt động giáo dục
Năm học 2015 – 2016, ngành Giáo dục Đào tạo tỉnh Thừa Thiên Huế  đã cơ bản hoàn thành cơ sở vật chất, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, tính đến cuối năm 2015:
Khối Mầm non có 207 trường, tăng 5 trường, tăng 2,48% so với năm học trước, với 52.987 học sinh, giảm 1,5%. Số trường đạt chuẩn quốc gia 51 trường, đạt tỷ lệ  24,64%.
Khối Tiểu học có 219 trường (01 trường tư thục) giảm 07 trường, giảm 3,1% so với năm học trước do ghép một số trường có quy mô nhỏ và khoảng cách giữa các trường gần nhau, với 89.934 học sinh, giảm 2,9%. Số trường đạt chuẩn Quốc gia 133 trường, đạt tỷ lệ 60,73%.
Khối Trung học cơ sở có 132 trường (13 trường cấp 1-2) với 73.417 học sinh, tăng 3,7% so với năm học trước. Số trường đạt chuẩn Quốc gia 52 trường, đạt tỷ lệ 39,39%.
Khối Trung học phổ thông có 40 trường (3 trường cấp 2-3) với 38.810 học sinh, giảm 8,1% so với năm học trước. Số trường đạt chuẩn Quốc gia 10 trường, đạt tỷ lệ 25%.
Tình hình đội ngũ cán bộ, giáo viên: Toàn ngành có 20.035 cán bộ; giáo viên, trong đó giáo viên 16.277 người, giảm 1,1% so với năm học trước, bao gồm: Mầm non 3.881 giáo viên, tăng 2,6%; Tiểu học 5.065 giáo viên, giảm 4,0%; Trung học cơ sở 4.839 giáo viên, tăng 0,6%; Trung học phổ thông 2.492 giáo viên, giảm 0,4% so với năm học trước. Tỷ lệ giáo viên trên chuẩn đạt 75,6%; trong đó Mầm non đạt 79,4%; Tiểu học 93,6%; Trung học cơ sở 80,5%; Trung học phổ thông 17,0%.
Năm 2015, Bộ Giáo dục - Đào tạo đã trao quyết định công nhận tỉnh Thừa Thiên Huế đạt chuẩn Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi giai đoạn 2010-2015.
Chất lượng năm học 2014 – 2015: 
Khối Tiểu học: Môn toán có 99,31% học sinh hoàn thành; môn Tiếng Việt có 99,14% học sinh hoàn thành; phát triển phẩm chất có 99,96% học sinh đạt; phát triển năng lực có 99,59% học sinh đạt.
Khối Trung học cơ sở: Hạnh kiểm xếp loại tốt có 57.996 em, đạt tỷ lệ 83,5%, tăng 1,43% so với năm học trước; loại khá 10.392 em, đạt tỷ lệ 15,0 %,  giảm 0,88%. Học lực xếp loại giỏi có 14.354 em, đạt tỷ lệ 20,7%, tăng 2,27% so với năm học trước; loại khá 27.248 em, đạt tỷ lệ 39,2%, tăng 0,89%.
Khối Phổ thông trung học: Hạnh kiểm xếp loại tốt có 29.030 em, đạt tỷ lệ 77,2%, tăng 3,51% so với năm học trước; loại khá 6.827 em, đạt tỷ lệ 18,2 %, giảm 2,38%. Học lực xếp loại giỏi có 4.090 em, đạt tỷ lệ 10,9%, tăng 3,12% so với năm học trước; loại khá 16.866 em, đạt tỷ lệ 44,9%, tăng 5,17%.
b. Hoạt động đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và đào tạo nghề
Trên địa bàn tỉnh hiện nay có 8 trường đại học, 2 trường cao đẳng và 2 trường trung cấp chuyên nghiệp, 3 trường cao đẳng nghề, 7 trường trung cấp nghề, 3 trung tâm dạy nghề và 34 cơ sở đào tạo nghề khác.
Năm 2015, Đại học Huế tổ chức một Hội đồng tuyển sinh chung để tuyển cho tất cả 8 trường đại học thành viên, 2 Khoa trực thuộc và Phân hiệu Đại học Huế tại Quảng Trị. Chỉ tiêu tuyển sinh năm học 2015 là 12.435 sinh viên, tăng 535 sinh viên so với năm 2014; trong đó 12.135 sinh viên đào tạo trình độ đại học cho 107 ngành học và 300 sinh viên đào tạo trình độ cao đẳng cho 6 ngành học.
Năm học 2015-2016, Đại học Huế có 11.717 sinh viên nhập học, giảm 2,2% so với năm học trước.
Từ đầu năm đến nay, các cơ sở đào tạo nghề đã tuyển sinh được 9.917  học viên tham gia các khóa học nghề, đạt 101% so với kế hoạch năm 2015 trong đó có: 906 sinh viên cao đẳng nghề; 1.071 học sinh trung cấp nghề, 5.420 sơ cấp nghề và và 2.520 học nghề dưới 3 tháng.
Dạy nghề nông thôn: Từ đầu năm đến nay, có 2.318 lao động nông thôn học nghề theo Đề án 1956 của Thủ tướng Chính phủ, đạt tỷ lệ 105% so với kế hoạch với tổng kinh phí đào tạo 4,97 tỷ đồng.
Dự kiến năm 2015, đào tạo nghề cho 10.110 lao động đạt trên 100% kế hoạch và đưa tỉ lệ lao động qua đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh đến cuối năm 2015 đạt 56%.
4. Chăm sóc sức khỏe cộng đồng

Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã có 66 ca mắc sốt rét, giảm 31 ca so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu là sốt rét thường; 402 ca mắc sốt xuất huyết, tăng 189 ca; 271 ca mắc viêm gan siêu trùng, tăng 154 ca; 42 ca mắc bệnh Tay-Chân-Miệng, giảm 97 ca. Không có trường hợp nào tử vong. Không có ca mắc bệnh viêm não vi rút, giảm 13 ca so cùng kỳ; không có ca mắc thương hàn, bằng cùng kỳ. Từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 67 ca nhiễm HIV, có 14 ca chuyển qua AIDS và đã có 8 ca tử vong. Như vậy tính đến thời điểm 20/12/2015, trên địa bàn tỉnh có 1.412 ca nhiễm HIV, 520 ca chuyển qua AIDS và đã có 331 ca tử vong.
Từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh không có trường hợp ngộ độc thực phẩm xảy ra.
Trong năm 2015, công tác vệ sinh an toàn thực phẩm được tăng cường, cơ quan chức năng đã tổ chức 415 đoàn thanh kiểm tra trên địa bàn toàn tỉnh. Trong tổng số 5.816 cơ sở sản xuất được kiểm tra có 696 cơ sở vi phạm (chiếm 12% số cơ sở thanh kiểm tra); đã tiến hành xử lý và cảnh cáo 325 cơ sở vi phạm, trong đó 14 cơ sở vi phạm bị phạt tiền với số tiền 86,7 triệu đồng.
5. Hoạt động văn hoá, thể thao
Trong năm 2015, nhiều hoạt động văn hóa, thể thao diễn ra trên địa bàn tỉnh: Tổ chức các hoạt động mừng Đảng, mừng Xuân Ất Mùi 2015; tổ chức Lễ tế Xã Tắc; tổ chức thành công Festival nghề truyền thống Huế lần thứ VI; tổ chức Chương trình Liên hoan “Bài ca về nguồn” chào mừng kỷ niệm 40 năm ngày giải phóng Miền Nam thống nhất Tổ quốc; tổ chức Ngày hội văn hóa, thể thao các dân tộc miền núi tỉnh Thừa Thiên Huế lần thứ XI-2015; tham gia Lễ hội Làng Sen năm 2015 với chủ đề “Sáng mãi tên người - Hồ Chí Minh” tại Nghệ An; tổ chức Liên hoan dân ca khu vực Bắc Trung bộ lần thứ VI năm 2015; triển lãm “Chủ tịch Hồ Chí Minh với Di sản văn hóa”; triển lãm về Festival Nghề truyền thống Huế; tổ chức Cầu truyền hình trực tiếp “Hà Nội - Huế - Thành phố Hồ Chí Minh: Nghĩa tình sắc son”; tổ chức trọng thể Đại lễ Phật đản Phật lịch 2559; khai mạc Ngày hội Du lịch - Huế 2015; tổ chức tuyên truyền về Đại hội Đảng các cấp, Đại hội thi đua yêu nước toàn tỉnh lần thứ IV; tuyên truyền kỷ niệm 70 năm Ngày Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9; tổ chức triển lãm Thừa Thiên Huế - 70 năm thành tựu kinh tế xã hội; tổ chức các hoạt động chào mừng Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên Huế lần thứ XV; tổ chức Triển lãm Mỹ thuật truyền thống năm 2015; tổ chức các chương trình kỷ niệm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam.
Kết quả công tác thanh tra, kiểm tra cơ sở kinh doanh văn hoá phẩm, năm 2015, công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm được triển khai tích cực, đã kiểm tra và ban hành 48 quyết định xử phạt vi phạm hành chính với các tổ chức, cá nhân với số tiền xử phạt là 201 triệu đồng;  tịch thu và tiêu hủy hơn 2.000 đĩa CD, VCD, DVD bản ghi âm, ghi hình ca múa nhạc, sân khấu không dán nhãn kiểm soát; buộc tháo dỡ hơn 1.200 băng rôn, pano, bảng quảng cáo các loại.
Hoạt động thể dục - thể thao, trong năm 2015, cơ sở vật chất đầu tư cho thể dục thể thao được cải thiện đáng kể. Hiện nay trên địa bàn tỉnh có hơn 400 sân cầu lông ngoài trời, 100 sân cầu lông trong nhà, 36 sân quần vợt, 175 nhà tập thể thao, 250 sân bóng đá, 150 sân bóng chuyền và bóng rổ, 530 câu lạc bộ TDTT. Nhờ đó hoạt động thể dục thể thao ở cơ sở ngày càng thu hút đông đảo cán bộ và người dân tham gia; tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”.
Từ đầu năm đến nay, Tỉnh đã tổ chức tốt các hoạt động TDTT cấp toàn quốc trên địa bàn tỉnh như: Tổ chức Giải Karatedo Nghĩa Dũng lần thứ II/2015; Giải bóng đá thiếu niên toàn quốc cúp Mobifone 2015; tổ chức các trận thi đấu bóng đá trong khuôn khổ giải bóng đá quốc gia U15, U17, U19; Giải Bơi – Lặn vô địch quốc gia bể 25m; Giải đua xe đạp tranh Cúp truyền hình thành phố Hồ Chí Minh; Giải Quần vợt vô địch đồng đội quốc gia; Giải Cầu lông đồng đội toàn quốc năm 2015; Giải vô địch vật dân tộc toàn quốc; tổ chức Giải Việt dã truyền thống "Cùng Sacombank chạy vì sức khỏe cộng đồng" lần thứ IX; tổ chức Giải Vô địch cờ vây, cờ tướng toàn quốc 2015; tham gia Hội thao Người khuyết tật toàn quốc 2015; tổ chức Hội khỏe Phù Đổng tỉnh năm 2015;...
Về thể thao thành tích cao: Từ đầu năm đến nay, ngành TDTT tỉnh đã cử nhiều đội tuyển bao gồm Cờ vua, Điền kinh, Taekwondo, Karatedo, Bóng đá, Bơi lội, Vật, Judo,…tham gia thi đấu tại các giải trẻ khu vực, giải vô địch toàn quốc và đã đạt được 265 Huy chương các loại (25 HCV, 26 HCB, 36 HCĐ), trong đó có 16 Huy chương quốc tế (67HCV, 82HCB, 116HCĐ). Riêng thể thao thành tích cao đạt 251 huy chương (65 HCV, 76 HCB, 110 HCĐ), trong đó có 27 huy chương quốc tế (11 HCV, 11 HCB và 05 HCĐ)
6. Tai nạn giao thông
Ngày 08/01/2015 UBND tỉnh ra Chỉ thị số 02/CT-UBND về việc tăng cường công tác đảm bảo an ninh trật tự, bảo vệ an toàn tuyệt đối Tết Nguyên đán Ất Mùi, Đại hội Đảng các cấp và các sự kiện quan trọng của quê hương đất nước trong năm 2015. Ủy ban Nhân dân tỉnh cũng đã có Công văn chỉ đạo các sở, ngành chức năng tổ chức tốt công tác phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân và bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trong dịp nghỉ Lễ 30/4, 1/5 và 2/92015.
Thực hiện Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, Tỉnh đã tổ chức ký cam kết đảm bảo trật tự an toàn giao thông đối với hơn 100 đơn vị thi công trên tuyến QL 1A, chủ doanh nghiệp, chủ phương tiện vận tải hàng hóa. Đồng thời các lực lượng chức năng tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lý triệt để các trường hợp vi phạm như: chở quá tải, quá chiều cao, chiều dài xe, chạy quá tốc độ quy định, vượt sai quy định, sử dụng rượu bia trong khi tham gia giao thông,…
Mười một tháng đầu năm 2015, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 496 vụ tai nạn giao thông, giảm 287 vụ so với cùng kỳ năm trước; làm chết 143 người, giảm 12 người; bị thương 480 người, giảm 292 người. Trong đó tai nạn giao thông đường bộ xảy ra 490 vụ, giảm 289 vụ; làm chết 137 người, giảm 15 người; bị thương 479 người, giảm 291 người; tai nạn giao thông đường sắt xảy ra 6 vụ, tăng 2 vụ; làm chết 6 người, tăng 3 người; làm 1 người bị thương, giảm 1 người; tai nạn đường thủy không xảy ra.
7. Tình hình cháy, nổ và bảo vệ môi trường
Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 27 vụ cháy, giảm 2 vụ so cùng kỳ năm trước; làm chết 1 người, không tăng giảm; không có người bị thương, giảm 2 người; tổng giá trị thiệt hại gần 18.912 triệu đồng. Không xảy ra vụ nổ, bằng cùng kỳ năm trước.
Công tác bảo vệ môi trường, từ đầu năm đến nay, đã xảy ra 169 vụ vi phạm môi trường, giảm 10 vụ so với cùng kỳ năm trước, đã tiến hành xử lý 169 vụ với số tiền phạt 2.138 triệu đồng. Các hành vi vi phạm chủ yếu là thải nước thải ra môi trường không qua xử lý; khai thác và vận chuyển cát sạn trái phép; vận chuyển đất đá, cát sạn rơi vãi; khai thác rừng trái phép;...
IV. ĐÁNH GIÁ CHUNG, ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP
Năm 2015, kinh tế xã hội trong tỉnh tiếp tục chuyển biến tích cực, các cân đối vĩ mô giữ ổn định; doanh nghiệp trên đà phục hồi sản xuất; năng lực sản xuất mới tăng trong công nghiệp dệt may, xi măng, điện năng phát huy tác dụng tốt; sản xuất nông lâm, thủy sản tiếp tục duy trì ổn định và phát triển, không xảy ra dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm và thủy sản; giá cả thị trường không có những biến động lớn, nhất là giá nguyên vật liệu đầu vào ổn định, giá xăng dầu giảm tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất kinh doanh; đầu tư trên địa bàn có dấu hiệu tích cực. Công tác an sinh xã hội, gia đình chính sách, hộ nghèo được quan tâm chăm lo, không có tình trạng thiếu đói trong kỳ giáp hạt; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội giữ vững.
1. Kết quả nổi bật:
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt khá cao so với mức tăng năm 2014 và so với các tỉnh trong khu vực.
- Vốn đầu tư vượt kế hoạch đề ra. Trong đó, khu vực kinh tế  đầu tư nước ngoài tăng cao với 9 dự án được cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 446,6 triệu USD, bằng về số dự án và tăng 10,5 lần về số vốn so với năm 2014.
- Số xã  đạt chuẩn nông thôn mới tăng cao (dự kiến đến cuối năm 2015 đạt 22 xã, trong đó riêng năm 2015 có 16 xã).
2. Hạn chế: Tuy nhiên kinh tế năm 2015 còn bộc lộ những tồn tại, hạn chế tác động đến việc thực hiện kế hoạch năm 2015 và mục tiêu phát triển kinh tế xã hội thời kỳ 5 năm 2016-2020.
Thứ nhất, khu vực công nghiệp, sản phẩm có lợi thế so sánh, đóng vai trò chủ lực về tăng trưởng cũng như thu ngân sách như Bia, xi măng tiếp tục bị cạnh tranh gay gắt, thị trường có xu hướng bị thu hẹp; các sản phẩm có mức tăng khá tập trung vào ngành dệt may dựa vào lao động giá rẻ (chi phí nhân công thấp) và chủ yếu là sản xuất gia công, chưa hình thành được các doanh nghiệp phụ trợ để hạn chế nhập khẩu nguyên liệu, tạo sự bền vững lâu dài cho ngành sản xuất chính và đem lại giá trị gia tăng cao. Tăng trưởng còn phụ thuộc lớn vào một số doanh nghiệp FDI, trong khi đó nội lực của nền kinh tế chưa phát huy nhiều. Phần lớn doanh nghiệp trên địa bàn là doanh nghiệp vừa và nhỏ, tiềm lực còn hạn chế; chưa có những doanh nghiệp qui mô lớn, xương sống của nền kinh tế có vai trò dẫn dắt vào tạo sức lan tỏa; chưa phát triển nhân tố và năng lực sản xuất mới có tính đột phá làm vai trò động lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Thứ hai, thu hút đầu tư hiện nay đã có tín hiệu tích cực. Tuy nhiên trong những năm qua nền kinh tế chưa tạo được sức bật về thu hút đầu tư đối với các dự án lớn, chuỗi sản xuất giá trị toàn cầu mang lại hiệu quả kinh tế cao. Năng lực sản xuất và khả năng cạnh  của doanh nghiệp ngành xây dựng trên địa bàn tỉnh còn hạn chế, chưa thể hiện vai trò chủ đạo trong thu hút đầu tư và thi công những công trình, dự án lớn, khả năng vươn ra các tỉnh bạn còn yếu. Công tác giải phóng mặt bằng một số dự án đạt thấp đã ảnh hưởng đến tiến độ thi công. Giải ngân vốn ODA chậm đối với một số dự án trên địa bàn thành phố.
Thứ ba, du lịch chưa có hướng phát triển mang tính đột phá; lượng khách du lịch lưu trú năm 2015 giảm so với năm trước ảnh hưởng lớn đến tốc độ tăng và đóng góp của khu vực dịch vụ. Thị trường khách quốc tế truyền thống bị giảm so cùng kỳ, Pháp giảm (-6,27%); Thái Lan giảm (-3,67%); Australia giảm (-2,09%); Đức giảm (-2,84%); Tây Ban Nha giảm (-5,34%);....
Thứ tư, xuất khẩu năm 2015 gặp khó khăn, hoạt động xuất nhập khẩu trên địa bàn tỉnh phần lớn phụ thuộc vào khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, chủ yếu là hàng dệt may, đây là ngành hàng sản xuất gia công là chủ yếu. Các mặt hàng xuất khẩu chế biến sâu có hàm lượng giá trị gia tăng cao còn chiếm tỷ trọng thấp trong tổng kim ngạch xuất khẩu. Các mặt hàng truyền thống phục vụ du lịch và xuất khẩu cũng chiếm tỷ trọng thấp; một số mặt hàng đặc sản Huế chưa tạo dựng được thương hiệu mạnh trên thị trường.
Thứ năm, khu vực nông nghiệp chưa có bước chuyển dịch mạnh trong cơ cấu cây trồng, vật nuôi và hàng hóa nông sản đầu tư công nghệ cao, có giá trị gia tăng lớn. Trong năm 2015 cây cà phê diện tích giảm mạnh, cây cao su gặp khó khăn do giá giảm. Chăn nuôi bước đầu sản xuất theo hướng qui mô hàng hóa nhưng cơ sở còn ít, nhỏ lẻ, chưa nhân rộng những mô hình sản xuất hiệu quả. Thủy sản có chuyển biến trong đầu tư phát triển nhưng nuôi trồng, khai thác còn mang tính chất thô sơ, nhỏ lẻ, dịch vụ hậu cần biển còn hạn chế, chưa tương xứng tiềm năng, lợi thế biển và vùng đầm phá của tỉnh. Và giá gia súc, gia cầm đang giảm vào cuối năm 2015 sẽ ảnh hưởng đến kế hoạch phát triển chăn nuôi cho năm 2016 (Năm 2015 tổng đàng chăn nuôi trong hộ dân giảm, chăn nuôi qui mô lớn và trang trại tăng)
3. Một số vấn đề cần tập trung lãnh đạo, chỉ  đạo trong thực hiện nhiệm vụ kinh tế-xã hội năm 2016.
Năm 2016 là năm đầu triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020. HĐND tỉnh đã quyết định chọn năm 2016 là “Năm doanh nghiệp”, với mục tiêu tổng quát là ưu tiên nguồn lực cho đầu tư hạ tầng phục vụ sản xuất và phát triển kinh tế; bảo đảm tăng trưởng kinh tế cao hơn các năm trước gắn với bảo vệ môi trường và bảo đảm an sinh xã hội; giữ vững quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội.
Sản xuất nông lâm nghiệp trong năm 2016 dự kiến tiếp tục có những chuyển biến tích cực nhờ chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi; đầu tư phát triển tổng đàn theo qui mô doanh nghiệp và hình thức trang trại, gia trại. Sản lượng đánh bắt thủy sản tăng khá nhờ đầu tư phương tiện đánh bắt và dịch vụ hậu cần thủy sản. Tuy nhiên giá sản phẩm nông nghiệp đang có xu hướng giảm sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng khu vực này.
Năng lực tăng thêm của ngành công nghiệp trong năm 2016 không nhiều, khó có khả năng bù đắp với những hạn chế trong năm 2015 và chưa thể tạo ra đột biến trong tăng trưởng kinh tế, vốn đầu tư, xuất khẩu, du lịch. Chưa xuất hiện nhân tố mới có tính đột phá, đóng vai trò động lực thúc đẩy công nghiệp tiếp tục tăng trưởng cao. Qui mô nguồn lực huy động cho đầu tư phát triển còn nhỏ, nếu không thu hút được các dự án lớn thì khó khăn cho việc thực hiện kế hoạch đề ra. Các doanh nghiệp hoạt động trong ngành xây dựng trên địa bàn chưa có nhiều chuyển biến trong sản xuất kinh doanh nên chưa thể tạo ra giá trị sản xuất lớn trong xây dựng.
Các lĩnh vực xã hội tiếp tục tạo được những chuyển biến tích cực nhất là trong một số ngành thế mạnh như y tế, giáo dục, văn hóa,...
Để đạt được mục tiêu cao nhất, cần tập trung:
- Tập trung mọi nguồn lực kêu gọi các dự án đầu tư lớn vào các khu công nghiệp, khu kinh tế trên địa bàn (Tăng cường công tác xúc tiến đầu tư). Nâng cao chất lượng sản phẩm và mở rộng thị trường cho các sản phẩm chủ lực như bia và xi măng. 
- Huy động tối đa mọi nguồn lực để tiếp tục xây dựng, hoàn thiện kết cấu hạ tầng kinh tế và đô thị hiện đại, đồng bộ theo hướng phát triển bền vững tạo điều kiện kêu gọi các dự án đầu tư. Trước mắt công tác đầu tư của tỉnh cần tập trung vào một số công trình, dự án chính như hoàn thành trục lộ giao thông thành phố Huế - thị trấn Thuận An; Dự án xây dựng Cầu qua sông Hương…. Tạo mọi điều kiện cho các công trình lớn như: Dự án tổ hợp Trung tâm thương mại Vincom Hùng Vương và Khách sạn 5 sao Vinpearl Huế, Nhà máy Lon nhôm, Dự án Khu du lịch nghỉ dưỡng quốc tế Minh Viễn Lăng Cô, các công trình hạ tầng kinh tế, kỹ thuật và đô thị… nhằm tạo hình ảnh mới trong thu hút vốn đầu tư trên địa bàn.
- Kêu gọi các dự án của các công ty, tập đoàn khách sạn, dịch vụ du lịch lớn trong và ngoài nước đến đầu tư để tạo đột phá trong phát triển dịch vụ du lịch. (Điểm yếu của phát triển du lịch hiện nay là sản phẩm du lịch chỉ mới tập trung khai thác những cái vốn có, chưa sáng tạo ra được các sản phẩm dịch vụ mới). Về khai thác nguồn khách, kết nối và phát triển các công ty lữ hành lớn, có khả năng khai thác đa dạng thị trường khách du lịch, bên cạnh các thị trường khách truyền thống cần tập trung khai thác tốt thị trường khách du lịch từ các quốc gia có tiềm năng như: Nhật Bản, Hàn Quốc, khu vực Đông Nam Á, Nga và Trung Đông (nếu không khai thác được cơ hội sẽ mất). Trong xây dựng các chương trình kinh tế trọng điểm cần có chuyên đề riêng bàn về công tác phát triển du lịch trên địa bàn, trong đó chú trọng việc phối hợp, tranh thủ nắm bắt lợi thế du lịch của các tỉnh trong khu vực.
- Tăng cường công tác quản lý thị trường và tích cực mở rộng thị trường tiêu thụ hàng Việt về nông thôn, vùng sâu, vùng xa; thường xuyên tổ chức các chương trình bán hàng khuyến mại, giảm giá, các hình thức sử dụng dịch vụ giá rẻ để kích cầu tiêu dùng.
- Mở rộng thị trường xuất, nhập khẩu hàng hóa theo hướng đa dạng, tránh tình trạng phụ thuộc quá nhiều vào một vài thị trường để tránh rủi ro khi kinh tế thế giới có nhiều biến động.
- Tập trung phát triển khu vực nông nghiệp theo hướng hàng hóa, xanh, sạch và môi trường bền vững. Nghiên cứu mở rộng qui mô chăn nuôi ở các huyện miền Núi bằng các hình thức đầu tư và hướng dẫn sản xuất có hiệu quả cho người dân, tránh tình trạng đầu tư nhưng không phát triển được sản xuất mà ăn hết dần vào đồng vốn.
- Có biện pháp tăng thu ngân sách bằng việc tập trung duy trì và bồi dưỡng nguồn thu từ khu vực công nghiệp, dịch vụ hiện có cùng với việc kêu gọi đầu tư các dự án lớn để bổ sung nguồn thu mới./.

                                            


 
                
 
 




 

 

Gửi bởi    

HỆ THỐNG TÊN MIỀN MẠNG GSO
MÁY CHỦ TÊN MIỀN .GSO:
Chính:       10.0.1.1
Dự phòng: 10.0.1.2
  • Góc người dùng
Tên đăng nhập:
Mật khẩu:



Bạn đang dùng -

IP:3.235.22.210

Thống kê

Lượt truy cập  22135
Đang trực tuyến   12