MyLabel

Tình hình kinh tế xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế Quí I năm 2016

3/23/2016

                                        TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
                                                                   QUÍ I NĂM 2016


Năm 2016 là năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020. Năm tập trung tạo chuyển biến mạnh nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh, hội nhập và phát triển trong Cộng đồng kinh tế ASEAN và tham gia Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP).
Tỉnh Thừa Thiên Huế quyết định lấy năm 2016 là “Năm Doanh nghiệp” với mục tiêu phát triển ưu tiên nguồn lực cho đầu tư hạ tầng phục vụ sản xuất và phát triển kinh tế; bảo đảm tăng trưởng kinh tế cao hơn các năm trước gắn với bảo vệ môi trường và bảo đảm an sinh xã hội; giữ vững quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội.
Thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ  về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2016; Nghị quyết số 01-NQ/TU của Tỉnh uỷ và Nghị quyết số 08/2015/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2016; Quyết định số 3059/QĐ-UBND của UBND tỉnh về triển khai thực hiện nhiệm vụ Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2016. Trên cơ sở số liệu 2 tháng và ước tính tháng 3, Cục thống  kê Thừa Thiên Huế đánh giá kết quả thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội quí I năm 2016 trên các lĩnh vực như sau:
1. Tài chính, ngân hàng
Tài chính: Ngày 30 tháng 12 năm 2015, UBND tỉnh đã ra Quyết định số 70/2015/QĐ-UBND về việc ban hành qui định tổ chức thực hiện ngân sách Nhà nước địa phương năm 2016, do đó nguồn thu trên địa bàn có chuyển biến tích cực.
Tổng thu ngân sách quí I/2016 ước đạt 1.329,2 tỷ đồng, bằng 23,61% dự toán năm, tăng 37,68% so cùng kỳ năm trước, thu ngân sách quí I năm 2016 tăng cao là do một phần nguồn thu thu từ các đơn vị trên địa bàn nộp chậm từ cuối năm 2015 chuyển sang. Trong tổng thu, thu nội địa đạt 1.160,3 tỷ đồng, bằng 23,28% DT, tăng 40,67% so cùng kỳ; thu thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt 101,1 tỷ đồng, bằng 36,76%DT, tăng 42,83%.
Trong thu nội địa: Thu doanh nghiệp Nhà nước đạt 96,8 tỷ đồng, bằng 18,99%DT, giảm 16,54% so cùng kỳ năm trước; thu DN có vốn đầu tư nước ngoài 505,6 tỷ đồng, bằng 28,36%DT, tăng 64,15%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 186,4 tỷ đồng, bằng 19,44%DT, giảm 0,33%; thu thuế thu nhập cá nhân 42,2 tỷ đồng, bằng 22,2%DT, tăng 10,73%; thu thuế bảo vệ môi trường 73,8 tỷ đồng, bằng 18%DT, tăng gấp 2,81 lần.
Tổng chi ngân sách địa phương ba tháng đầu năm 2016 ước đạt 1.518 tỷ đồng, bằng 19,06%DT; trong đó chi đầu tư phát triển 329 tỷ đồng, bằng 15,39%DT; chi sự nghiệp kinh tế 86,2 tỷ đồng, bằng 15,27%DT; chi sự nghiệp giáo dục đào tạo 472,8 tỷ đồng, bằng 19,83%DT; chi sự nghiệp y tế 67,4 tỷ đồng, bằng 15,56%DT; chi quản lý Nhà nước 263,2 tỷ đồng, bằng 26,73%DT.
Ngân hàng: Tổng nguồn vốn huy động đến cuối tháng 3/2015 ước đạt 30.610 tỷ đồng, tăng 3,9% so với đầu năm; trong đó huy động tiền gửi tiết kiệm 22.960 tỷ đồng, tăng 4,9%, chiếm 75% trong tổng nguồn vốn huy động.
Tổng dư nợ cho vay toàn địa bàn đến cuối tháng 3/2015 ước đạt 28.520 tỷ đồng tăng 4,4% so với đầu năm; trong đó dư nợ cho vay bằng VND đạt 27.100 tỷ đồng, tăng 5,1%, chiếm 95% trong tổng dư nợ; dư nợ cho vay ngắn hạn 10.100 tỷ đồng, tăng 1,4%, chiếm 35,4%;
Dự ước đến cuối tháng 3/2016 cho vay một số lĩnh vực ưu tiên: Cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn tăng 1,8% so với đầu năm; cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng 24,1%; cho vay phát triển SXKD hàng xuất khẩu tăng 27,6%; cho vay ngành công nghiệp hỗ trợ  tăng 35,9%. Đến thời điểm này, trên địa bàn không có dư nợ cho vay doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao.
Về lãi suất, các chi nhánh Tổ chức tín dụng trên địa bàn duy trì mức lãi suất huy động và cho vay ổn định so với tháng trước, cụ thể:
Lãi suất huy động không có kỳ hạn hoặc có kỳ hạn dưới 1 tháng phổ biến ở mức 0,8% - 1%/năm; kỳ hạn từ 1 đến dưới 6 tháng ở mức 4% - 5,4%/năm; từ 6 tháng đến dưới 12 tháng ở mức 5,5% - 6,4%/năm; kỳ hạn từ 12 tháng trở lên phổ biến ở mức 6,4% - 7,3%/năm. Lãi suất huy động ngoại tệ phổ biến bằng mức trần do NHNN quy định là 0%/năm đối với tổ chức và cá nhân.
Lãi suất cho vay các lĩnh vực ưu tiên phổ biến ở mức 6% - 7%/ năm đối với ngắn hạn; trung và dài hạn ở mức 8% - 10%/ năm. Lãi suất cho vay các lĩnh vực SXKD thông thường phổ biến ở mức 6,8% - 9%/ năm đối với vay ngắn hạn; ở mức 9% - 11%/ năm đối với trung, dài hạn. Lãi suất cho vay ngoại tệ phổ biến ở mức 2% - 6,2%/ năm; trong đó lãi suất cho vay ngắn hạn phổ biến ở mức 2% - 5,2%/ năm; cho vay trung, dài hạn 5,3% - 6,2%/năm.
2. Đầu tư phát triển
Tổng vốn đầu tư thực hiện theo giá hiện hành trên địa bàn tỉnh trong 3 tháng đầu năm 2016 ước đạt 2.905 tỷ đồng, bằng 15,5% KH năm, tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước; trong đó vốn Trung ương quản lý 650 tỷ đồng, bằng 12,2% KH, tăng 3,2%, chiếm 22,4% tổng vốn; vốn Địa phương quản lý 2.255 tỷ đồng, bằng 16,9% KH, tăng 11,6%, chiếm 77,6%.
Vốn thuộc ngân sách Nhà nước 3 tháng đầu năm đạt 655 tỷ đồng, bằng 19,6% KH, giảm 10,3% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 22,5% tổng vốn, gồm có: Vốn ngân sách Trung ương quản lý 200 tỷ đồng, bằng 18,2% KH, giảm 32,2%; vốn ngân sách Địa phương quản lý 455 tỷ đồng, bằng 20,2% KH, tăng 4,6%. Nguồn vốn tín dụng đạt 1.155 tỷ đồng, bằng 14,5% KH, tăng 20,9% so cùng kỳ, chiếm 39,8% trong tổng vốn; vốn đầu tư của doanh nghiệp 425 tỷ đồng, bằng 16% KH, tăng 23,2%, chiếm 14,6%; vốn viện trợ 150 tỷ đồng, bằng 9,2% KH, giảm 14,3%, chiếm 5,2%; vốn đầu tư nước ngoài 170 tỷ đồng, bằng 14,8% KH, tăng 25,9%, chiếm 5,9%.
Việc phân bổ nguồn vốn trên địa bàn năm 2016 thực hiện nghiêm túc Chỉ thị 21/CT-UBND ngày 28/12/2015 của UBND tỉnh và công văn số 721/UBND-XDKH ngày 15/02/2016 về thực hiện nghị định số 136/2015/NĐ-CP của Chính phủ thi hành một số điều trong đầu tư công.
Trong 3 tháng đầu năm 2016, vốn từ nguồn ngân sách Nhà nước Trung ương đầu tư trên địa bàn giảm so với cùng kỳ nhưng nguồn vốn ngân sách do địa phương quản lý tăng, nhiều dự án thi công với tiến độ nhanh để đưa vào phục vụ lễ hội Festival Huế 2016: Bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích Lăng Tự Đức; Tu bổ, phục hồi di tích Phu Vân Lâu. Nhiều dự án mới khởi công từ đầu năm nhưng tiến độ thực hiện đạt cao: Nâng cấp mở rộng đường tỉnh lộ 10A, đoạn qua khu C - Đô thị mới An Vân Dương; Đường du lịch cụm điểm di tích Lăng Minh Mạng - Lăng Gia Long; Nâng cấp, mở rộng đường Tứ Phú - Đức Trọng. Tuy nhiên một số dự án đầu năm chậm khởi công: Đường từ xã Hồng Trung đến Mốc 646 - huyện A Lưới; Đường Sóng Hồng nối dài đến Tỉnh lộ 10A; Tuyến đường liên xã Phú Đa - Vinh Thái - Vinh Hà huyện Phú Vang. Trong quí I/2016, một số dự án thuộc ngân sách nhà nước Trung ương quản lý đã được đưa vào sử dụng: Dự án Trường Cao đẳng giao thông cơ sở 2; Trung tâm Ung bướu - Bệnh viện Trung ương Huế. Nguồn vốn ngân sách nhà nước trong 3 tháng đầu năm giảm so với cùng kỳ do nguồn vốn trái phiếu thực hiện giảm, các dự án có nguồn vốn trái phiếu lớn đã thực hiện xong trong năm 2015, nguồn vốn trái phiếu năm nay bố trí thấp hơn năm trước gần 30%.
Nguồn vốn ngoài Nhà nước: Trong 3 tháng đầu năm 2016, đầu tư của doanh nghiệp tăng cao do nhiều dự án từ đầu năm thi công nhanh hoàn tất những công đoạn cuối để đưa vào khai thác đúng tiến độ lập thành tích chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII: Dự án nhà máy thủy điện A Roàng; Dự án cầu đường sắt qua sông Bồ. Các dự án ngoài Nhà nước tiếp tục đầu tư vào lĩnh vực du lịch - bất động sản: Dự án Manor Crown do Công ty cổ phần Bất động sản Minh Điền Vital làm chủ đầu tư; Dự án tổ hợp Trung tâm thương mại Vincom Hùng Vương và Khách sạn 5 sao Vinpearl Huế. Đầu tư vào công nghiệp: Các nhà máy thủy điện nhỏ như Nhà máy thủy điện Alin 2; Nhà máy thủy điện Alin B1; Nhà máy sợi của công ty sợi Phú Gia; Công ty sợi Phú Quang... Đối với dự án trọng điểm quốc gia cao tốc La Sơn - Túy Loan qua địa phân tỉnh đến nay công tác giải phóng mặt bằng còn một số điểm chưa bàn giao xong mặt bằng sạch tại xã Hương Phú, Hương Lộc huyện Nam Đông. UBND huyện tiếp tục làm việc với các hộ dân để sớm giải phóng mặt bằng bằng giao dự án.
Trong 3 tháng đầu năm 2016 trên địa tỉnh nhiều dự án có qui mô lớn được khởi công: Dự án khu du lịch phức hợp Địa Trung Hải - Mediterraneo Resort; Trụ sở làm việc Vietinbank Huế; Dự án kho nhựa đường tại Cảng Chân Mây do Công ty TNHH Nhựa đường Minh Đạt làm chủ đầu tư.
Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt cao so kế hoạch đề ra do Nhà máy sản xuất vỏ nhôm có mức đầu tư lớn đến nay tiến độ thực hiện nhanh; Dự án giai đoạn 2 của Laguna tiến độ thực hiện đảm bảo kế hoạch. Trong những tháng đầu năm, dây chuyền sản xuất bia lon mới của Nhà máy bia Huế được đưa vào hoạt động.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài tính từ 15/02/2016 đến 15/3/2015 có 1 dự án đăng ký mới với số vốn đăng ký 0,05 triệu USD. Tính từ đầu năm đến nay, tổng số dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài có 3 dự án được cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 1,39 triệu USD, bằng về số dự án và giảm 32,85% về số vốn so với cùng kỳ năm 2015. Trong số 3 dự án được cấp phép, đầu tư vào công nghệ thông tin 1 dự án của Hàn Quốc với số vốn 0,01 triệu USD; 1 dự án của Pháp với số vốn 1,33 triệu USD đầu tư về lĩnh vực giáo dục và 1 dự án của Úc với số vốn 0,05 triệu USD đầu tư vào lĩnh vực tư vấn quản lý.
3. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
a. Sản xuất nông nghiệp

Vụ mùa đông xuân 2016, thời tiết khá thuận lợi, tuy nhiên trong nửa cuối tháng 01 và đầu tháng 02 xuất hiện rét đậm, rét hại và mưa trên địa bàn tỉnh nên đã xảy ra tình trạng ngập úng tại một số địa phương, ước tính diện tích lúa đã gieo bị ngập úng khoảng 3.360 ha, trong đó 284 ha phải gieo sạ lại.
Trong tháng 3/2016, sản xuất nông nghiệp tập trung chủ yếu chăm sóc cây lúa và cây hàng năm khác vụ đông xuân 2016, tăng cường công tác kiểm tra sâu bệnh để có biện pháp phòng trừ. Ước tính đến 15/3/2016 tổng diện tích gieo trồng toàn tỉnh vụ đông xuân đạt 45.636 ha, giảm 1,1% so với cùng kỳ năm trước, giảm chủ yếu là diện tích cây hàng năm khác. Trong đó diện tích lúa đông xuân đạt 27.922 ha, chiếm 61,2% tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm toàn tỉnh, tăng 0,5% so cùng kỳ. Diện tích lúa tăng tập trung ở huyện Phong Điền tăng 38 ha và huyện Phú Vang tăng 27 ha, nguyên nhân chủ yếu là nhờ hệ thống thủy lợi, trạm bơm nước được xây dựng, nâng cấp, sửa chữa đảm bảo nguồn nước nên một số chân ruộng trước đây thường hay xảy ra khô hạn cuối vụ, nay đã được đưa vào gieo trồng, bên cạnh đó chuyển đổi một số diện tích trồng hoa màu sang trồng lúa.
Cây hàng năm khác, trong quí I/2016, diện tích ngô đạt 1.040 ha, giảm 1,9% so cùng kỳ năm trước; khoai lang 2.438 ha, giảm 4,4%; sắn 6.425 ha, giảm 1,7%; lạc 3.087 ha, giảm 2,1%; rau các loại 2.805 ha, giảm 2,8%; đậu các loại 780 ha, giảm 5%; ớt cay 286,5 ha, giảm 3,7%. Diện tích đất trồng cây hàng năm khác giảm là do chương trình đổi đất xây dựng cơ sở hạ tầng của các địa phương trong tỉnh, trong đó chủ yếu quy hoạch đất ở cho dân cư, mở rộng đường giao thông xây dựng nông thôn mới, chuyển mục đích sử dụng đất để làm nhà ở.
Về cơ cấu giống lúa đông xuân 2016, các địa phương bố trí hợp lý nhóm giống lúa dài và trung ngày với nhóm giống lúa ngắn ngày phù hợp điều kiện sản xuất của từng chân ruộng. Diện tích nhóm giống lúa trung và dài ngày chiếm 17% diện tích gieo trồng; nhóm ngắn ngày và cực ngắn chiếm 83%. Tỷ lệ sử dụng giống lúa xác nhận đưa vào gieo cấy đạt trên 92% diện tích.
Tình hình sâu bệnh trên cây lúa vụ đông xuân năm nay tuy có diễn ra nhưng phạm vi hẹp, mức độ gây hại thấp. Diện tích lúa bị nhiễm các loại sâu bệnh khoảng 1.307 ha, trong đó bệnh đạo ôn 390 ha; sâu cuốn lá 350 ha; bọ trĩ 230 ha. Chuột gây hại 320 ha; ốc bươu vàng gây hại 17 ha. Để hạn chế thiệt hại do sâu bệnh và sinh vật gây hại, các ngành chức năng phối hợp với địa phương tập trung công tác kiểm tra đồng ruộng, chăm sóc cây lúa đảm bảo sinh trưởng và phát triển tốt.
Vụ đông xuân năm 2016 tình trạng nước mặn xâm thực đến sớm hơn mọi năm làm ảnh hưởng một số diện tích lúa. Theo báo cáo của các địa phương tính đến ngày 22/3/2016 diện tích lúa bị nhiễm mặn toàn tỉnh là 20,5 ha, bao gồm thị xã Hương Trà 10 ha tập trung ở xã Hương Phong; huyện Quảng Điền 5,5 ha ở xã Quảng Phước 3,5 ha, xã Quảng Công 2 ha; huyện Phú Lộc 5 ha ở xã Vinh Hải 3 ha, xã Vinh Hiền 2 ha. Hiện nay, các địa phương đang tích cực triển khai nhiều biện pháp chống mặn, phèn hạn chế tác động đến quá trình phát triển cây lúa.
Chăn nuôi: Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn toàn tỉnh không xảy ra dịch bệnh ở đàn gia súc, gia cầm. Tình hình chăn nuôi trong tháng 3/2016 ổn định và tiếp tục phát triển. So với cùng kỳ năm trước tổng đàn gia súc, gia cầm hầu hết đều tăng khá, tuy nhiên so với tháng trước giảm, nguyên nhân chủ yếu do người dân bán, giết thịt phục vụ nhu cầu thực phẩm trong dịp Tết Nguyên đán Bính Thân và các lễ hội đầu xuân.
Tính đến thời điểm 01/3/2016 tổng đàn trâu toàn tỉnh đạt 21.572 con, giảm 1,7% so với cùng kỳ năm trước và giảm 0,1% so tháng trước. Đàn bò 25.314 con, tương ứng tăng 13% và giảm 0,4%. Đàn trâu giảm so cùng kỳ do hiệu quả chăn nuôi thấp, đàn bò tăng khá do chăn nuôi bò hiện nay mang lại hiệu quả kinh tế cao, mô hình chăn nuôi bò được chính quyền các địa phương hỗ trợ về vốn vay cho các hộ chính sách nuôi bò xóa đói giảm nghèo.
Tính đến thời điểm 01/3/2016 đàn lợn đạt 199.450 con, tăng 1,2% so với cùng kỳ năm trước, giảm 1,3% so với tháng trước; đàn gia cầm đạt 2.048 nghìn con, tương ứng tăng 3,4% và giảm 5,8%, trong đó đàn gà 1.382 nghìn con, tăng 3,3% và, giảm 7,8%; đàn vịt 625 nghìn con, tăng 2,1% và tăng 1,2%; đàn ngan ngỗng 41 nghìn con, tăng 32,3% và giảm 28,1%.
Đàn lợn, đàn gia cầm tăng so với cùng kỳ nguyên nhân chủ yếu do giá thịt  hơi ổn định và có xu hướng tăng, giá thức ăn chăn nuôi giảm mạnh, trung bình giá thức ăn chăn nuôi hiện nay giảm hơn 2.800 đồng/kg, giảm 22,6% so với cùng kỳ năm trước. Chăn nuôi lợn, gia cầm trong khu vực nông thôn theo mô hình nhỏ lẻ, kém hiệu quả tiếp tục có xu hướng giảm, chuyển dần sang chăn nuôi tập trung với quy mô lớn của các doanh nghiệp, chăn nuôi hình thức gia trại, trang trại. Tình hình dịch bệnh trên địa bàn được kiểm soát tốt, công tác tiêm phòng thú y, vệ sinh môi trường chăn nuôi đảm bảo. Riêng đàn ngan ngỗng tăng mạnh so cùng kỳ do hiện nay chăn nuôi ngan ngỗng với nhiều loại giống mới sinh trưởng và phát triển nhanh, thu lợi nhuận cao hơn các loại thủy cầm khác.
Trong thời gian qua, để đảm bảo cung cấp thực phẩm an toàn cho người tiêu dùng, Tỉnh đã tổ chức 02 đợt kiểm tra tình hình sử dụng chất cấm ở một số đơn vị xuất lợn bán cho các lò mổ trên địa bàn tỉnh và tại các cơ sở giết mổ tập trung trên địa bàn thành phố Huế và chợ đầu mối. Kết quả các mẫu kiểm tra đều âm tính với chất cấm Sabultamol trên lợn và thịt lợn.
Hiện nay các địa phương tiếp tục triển khai tiêm phòng vụ xuân 2016. Tính đến 15/3/2016 đã tiêm phòng được 23.340 liều vắc xin tụ huyết trùng trâu bò đạt 66% KH; 69.690 liều vắc xin dịch tả,  tam liên lợn đạt 59% KH; 5.290 liều vắc xin VX+KT E.coli, đạt 25% KH; 118.950 liều vắc xin dịch tả vịt đạt 26% KH; 241.610 liều vắc xin Newcastle gà đạt 42% KH; 155.600 liều vắc xin cúm gia cầm đạt 29% KH; 8.020 liều vắc xin tụ huyết trùng gia cầm đạt 35% KH; 65.400 liều vắc xin đậu gà đạt 43% KH; 122.100 liều vắc xin VX+KT Gumboro đạt 45% KH.
Trong đợt rét đậm, rét hại vào cuối tháng 01 và đầu tháng 02/2016, trên địa bàn toàn tỉnh có 14 con trâu, bò, bê, nghé bị chết do rét.
b. Lâm nghiệp
Tháng 3/2016 hoạt động sản xuất lâm nghiệp tập trung chủ yếu vào khai thác gỗ rừng trồng và thực hiện các công việc của khâu lâm sinh như gieo tạo, ươm trồng, chăm sóc cây giống lâm nghiệp. Ước tính sản lượng gỗ khai thác trong tháng 3/2016 đạt 36.412 m3, tăng 26,7% so với tháng cùng kỳ năm trước, trong đó toàn bộ là gỗ khai thác từ rừng trồng; sản lượng củi khai thác 15.688 ster, tăng 26%. Ước tính tổng sản lượng gỗ khai thác quý I/2016 đạt 77.352 m3, toàn bộ là gỗ khai thác rừng trồng, tăng 25,7% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng gỗ tăng cao chủ yếu do rừng trồng trên địa bàn tỉnh đã đến kỳ khai thác, giá thu mua gỗ ổn định, thời tiết tương đối thuận lợi cho việc khai thác và vận chuyển. Sản lượng củi khai thác quý I/2016 ước đạt 52.200 ster, tăng 24%, tăng chủ yếu do tận thu củi từ khai thác gỗ rừng trồng.
Hiện nay khâu làm đất phục vụ việc trồng rừng hầu hết đã được cơ giới hóa, thời tiết thuận lợi nên diện tích trồng rừng tăng cao so cùng kỳ. Diện tích trồng rừng tập trung trong tháng 3/2016 ước đạt 634 ha, tăng 48,8% so tháng cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I/2016, diện tích trồng mới tập trung ước đạt 1.472 ha, tăng 2,7 lần so với cùng kỳ năm trước; ươm giống cây lâm nghiệp 2.814 nghìn cây, tăng 0,5%. Một số khâu lâm sinh khác trong quý I/2016 giảm so với cùng kỳ năm trước như: Diện tích rừng trồng được chăm sóc 6.874 ha, giảm 3,7%; diện tích rừng được khoanh nuôi tái sinh 845 ha, giảm 2,5%; diện tích rừng được giao khoán bảo vệ 5.261 ha, giảm 0,7%; trồng cây phân tán 1.924 nghìn cây, giảm 1,6%.
Trong quý I/2016 đã xảy ra 124 vụ vi phạm quy định quản lý bảo vệ rừng, tăng 32 vụ, tăng 34,7% so cùng kỳ năm trước; trong đó có 2 vụ phá rừng với diện tích rừng bị phá 0,16 ha, 1 vụ cháy rừng với diện tích bị cháy 1,7 ha. Đã tiến hành xử lý 123 vụ, tịch thu 158 m3 gỗ tròn, trong đó có 4,7 m3 gỗ quý hiếm. Tổng các khoản thu nộp vào ngân sách Nhà nước trong quý I/2016 là 634 triệu đồng, trong đó tiền phạt vi phạm 244 triệu đồng, tiền bán tang vật tịch thu 390 triệu đồng.
c. Thủy sản
Tháng 3/2016 là thời gian nuôi trồng thủy sản chính vụ, các ngành chức năng hướng dẫn các địa phương nuôi thả đúng khung lịch thời vụ, đúng mật độ, áp dụng mô hình nuôi xen ghép cá, tôm, cua,… đa dạng các đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao. Giống tôm phải được kiểm dịch và kiểm nghiệm theo quy trình kỹ thuật để hạn chế dịch bệnh.
Diện tích nuôi trồng thủy sản tháng 3/2016 ước đạt 3.402 ha, giảm 0,5% so với tháng cùng kỳ năm trước, bao gồm nuôi nước lợ 2.930 ha, giảm 0,4%; nuôi nước ngọt 472 ha, giảm 1%. Trong diện tích nuôi nước lợ chia ra nuôi cá 820 ha, tăng 1%; nuôi tôm 1.755 ha, tăng 0,2%, riêng tôm sú 1.630 ha, tăng 0,6%, tôm thẻ chân trắng 24,7 ha, giảm 41,2%; diện tích nuôi các loại thủy sản khác 355 ha, giảm 6,6%.
Tính chung trong quý I/2016 diện tích nuôi trồng thủy sản ước đạt 5.061 ha, giảm 1% so với cùng kỳ năm trước; giảm chủ yếu diện tích nuôi các loại thủy sản khác. Trong đó, diện tích nuôi nước lợ 3.291 ha, giảm 1,3%; nước ngọt 1.770 ha, giảm 0,5%. Trong nuôi nước lợ bao gồm nuôi cá 935 ha, giảm 0,7%; nuôi tôm 1.902 ha, tăng 1,2%, trong đó nuôi tôm có tôm sú 1.650 ha, tăng 0,5%; tôm thẻ chân trắng 152 ha, tăng 2,7%; nuôi các loại thủy sản khác 454 ha, giảm 11,8%, chủ yếu giảm diện tích nuôi hàu, vẹm ở thị trấn Lăng Cô của huyện Phú Lộc vì tránh tình trạng ô nhiễm môi trường.
Về giống thủy sản, trong tháng 3/2016 sản xuất giống trên địa bàn tỉnh ước đạt 30 triệu con, bằng cùng kỳ năm trước; trong đó tôm sú giống 17 triệu con, tăng 13,3%; cá giống 12 triệu con, giảm 14,3%, cua giống, ếch giống 1 triệu con, bằng cùng kỳ. Lũy kế giống sản xuất trong quý I/2016 ước đạt 65 triệu con, giảm 1,5% so cùng kỳ năm trước; trong đó tôm sú giống 42 triệu con, tăng 2,4%; cá giống 22 triệu con, giảm 8,3%; giống thủy sản khác 1 triệu con, bằng cùng kỳ. Giống sản xuất chủ yếu cung cấp cho các cơ sở nuôi trên địa bàn tỉnh.
Lượng giống tôm sú thả nuôi thả nuôi tháng 3/2016 đạt 99,5 triệu con, tăng 1% so cùng kỳ năm trước, tôm thẻ chân trắng thả nuôi 22 triệu con,  giảm 40,5%, cá giống các loại thả nuôi 7,2 triệu con, tăng 2,9%. Nâng số giống tôm sú thả nuôi quý I/2016 đạt 102 trịệu con, tăng 0,7% so cùng kỳ năm trước; giống tôm thẻ chân trắng thả nuôi 152,2 triệu con, tăng 6,4%; giống cá thả nuôi 71,6 triệu con, giảm 0,6%.
Sản lượng  thủy sản nuôi trồng thu hoạch tháng 3/2016 ước đạt 293 tấn, giảm  1,7% so với tháng cùng kỳ năm trước; trong đó sản lượng cá 208 tấn, tăng 4,5%; tôm chân trắng 35 tấn, giảm 25,5%; thủy sản khác 50 tấn, giảm 3,8%. Lũy kế sản lượng thủy sản nuôi trồng quý I/2016 ước đạt 825 tấn, tăng 5,9% so cùng kỳ năm trước; trong đó sản lượng cá các loại 640 tấn, tăng 7,7%; tôm thẻ chân trắng 135 tấn, tăng 1,5%; thủy sản khác 50 tấn, giảm 3,8%. 
Sản lượng khai thác thủy sản tháng 3/2016 ước đạt 3.290 tấn, giảm 0,8% so với tháng cùng kỳ năm trước; trong đó khai thác biển 2.990 tấn, giảm 0,9%; khai thác nội địa 300 tấn, tăng 0,3%. Nguyên nhân sản lượng khai thác biển trong tháng giảm là do một số tàu thuyền đang trong giai đoạn sửa chữa để chuẩn bị cho vụ đánh bắt cá Nam. Lũy kế sản lượng khai thác quý I/2016 ước đạt 7.527 tấn, tăng 5,2% so cùng kỳ năm trước; trong đó khai thác biển 6.765 tấn, tăng 5,9%; khai thác nội địa 762 tấn, giảm 0,7%.
Tính chung sản lượng thủy sản nuôi trồng và khai thác quí I/2016 đạt 8.352 tấn, tăng 5,3% so cùng kỳ năm trước.
4. Sản xuất công nghiệp
Kinh tế trong nước những tháng đầu năm 2016  ổn định và có bước phát triển, lãi suất cho vay ngân hàng ở mức thấp, giá cả nguyên vật liệu đầu vào ổn định, trong đó giá xăng dầu  giảm, là điều kiện thuận lợi để kích thích  sản xuất kinh doanh phát triển. Tuy nhiên tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh trong quí I/2016 lại gặp nhiều khó khăn, một số sản phẩm chủ lực chịu áp lực cạnh tranh lớn nên mức sản xuất và tiêu thụ đạt thấp.
Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) trên địa bàn tỉnh tháng 3/2016 tăng 51,83% so tháng trước (do tháng trước rơi vào dịp nghỉ Tết Nguyên đán) và bằng 90,63% so cùng kỳ năm trước. Tính chung ba tháng đầu năm 2016, chỉ số sản xuất công nghiệp bằng 97% so cùng kỳ năm trước, con số này cách biệt khá so xa với mức tăng 7,79% của quí I/2015. Đây là lần đầu tiên từ trước đến nay chỉ số sản xuất công nghiệp có mức tăng âm so với cùng kỳ. Trong chỉ số sản xuất công nghiệp quí I/2016, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo bằng 99,56% so cùng kỳ, thấp hơn nhiều so với mức tăng 6,96% của cùng kỳ năm 2015; sản xuất, phân phối điện, nước đá bằng 67,75% (cùng kỳ năm 2015 tăng 17,55%); ngành công nghiệp khai khoáng bằng 66,62% (cùng kỳ năm 2015 tăng 15,85%); cấp nước và xử lý nước thải, rác thải tăng 3,39% (cùng kỳ năm 2015 tăng 6,88%).
Các ngành có chỉ số sản xuất công nghiệp giảm mạnh trong quí I/2016 gồm:  Ngành khai thác quặng kim loại bằng 37,32% so cùng kỳ, sản xuất Bia bằng 76,62%, in ấn bằng 77,77%, chế biến dăm gỗ bằng 64,61%, sản xuất điện và phân phối điện bằng 62,46%, trong đó điện sản xuất bằng 56,85%.
Trong các ngành có chỉ số sản xuất giảm mạnh, ngành sản xuất Bia có tác động lớn nhất đến chỉ số sản xuất công nghiệp của địa phương. Sự sụt giảm của ngành Bia tập trung vào một số nguyên nhân chủ yếu: tình hình cạnh tranh giành lấy thị trường hết sức quyết liệt ngay ở tại tỉnh nhà và các thị trường truyền thống; người tiêu dùng nói chung dễ bị tác động tâm lý và đang có xu hướng chuyển sang tiêu dùng sản phẩm bia khác; công tác củng cố và phát triển thị trường Bia Huế chưa hiệu quả.
Khai thác quặng kim loại tuy mức độ ảnh hưởng đến toàn bộ ngành công nghiệp của tỉnh không lớn nhưng với tình hình khó khăn như hiện nay (chỉ sổ sản xuất quí I/2016 giảm đến 62,68%) đã tác động không nhỏ đến chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp của tỉnh. Nguyên nhân chủ yếu là do thị trường tiêu thụ Trung Quốc và Nhật Bản đang gặp khó khăn, giá thấp nên doanh nghiệp không xuất được hàng, phải ngừng sản xuất để tránh tồn kho.
Một số ngành khác cũng đang gặp khó khăn trong quí I/2016 như ngành chế biến dăm gỗ do thiếu  nguồn nguyên liệu đầu vào, hiện nay một số tỉnh lân cận đã có nhà máy chế biến dăm gỗ nên nguồn nguyên liệu nhập từ các tỉnh này rất hạn chế. Ngành in ấn cũng giảm khá mạnh do các sản phẩm tem, in bao bì cho Nhà máy Bia giảm, bên cạnh đó năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp in ấn có xu hướng giảm. Chỉ số sản xuất của ngành sản xuất điện giảm khá sâu do trong những tháng qua lượng mưa thấp, các hồ thủy điện thiếu nước, các nhà máy thủy điện chỉ phát điện ở mức thấp.
Một số ngành có chỉ số sản xuất 3 tháng đầu năm 2016 tăng thấp so với cùng kỳ: Khai thác đá tăng 1,37%; chế biến thủy sản tăng 1,41%; sản xuất tân dược tăng 0,74%; cấp nước tăng 1,91%.    
Một số ngành có chỉ số sản xuất 3 tháng đầu năm 2016 tăng khá so với cùng kỳ: Sản sợi tăng 13,5%; may mặc tăng 6,46%, sản xuất gạch ngói tăng 19,84%, sản xuất xi măng, thạch cao tăng 32,32%, sản xuất ô tô tăng gấp 2,07 lần.
Sau một thời gian dài  sản xuất gạch ngói liên tục giảm sút do thị trường bất động sản đóng băng kéo dài. Bước sang 3 tháng đầu năm 2016 tình hình sản xuất của các doanh nghiệp sản xuất gạch ngói trên địa bàn đã có bước hồi phục.
Các sản phẩm công nghiệp chủ yếu có mức tăng khá trong ba tháng đầu năm 2016 so cùng kỳ năm trước:  Đá xây dựng đạt 171,3 ngàn m3, tăng 3,48%; tôm đông lạnh 566 tấn, tăng 28,05%; tinh bột sắn 5.594 tấn, tăng 14,13%; sợi các loại 15,4 ngàn tấn, tăng 13,5%; quần áo lót 65,2 triệu cái, tăng 11,79%; gạch tuynen 21,5 triệu viên, tăng 19,84%; clanhke 505,3 ngàn tấn, tăng 22,62%; xi măng 359,8 ngàn tấn, tăng 62,01%; men frit 18 ngàn tấn , tăng 11,36%; bê tông tươi 18,6 ngàn m3, tăng 10,3%; xe ô tô 29 chiếc, tăng gấp 2,07 lần; điện thương phẩm 241 trkwh, tăng 5,91%; nước máy 9,9 triệu m3 , tăng 1,91%.
Các sản phẩm công nghiệp có mức sản xuất hai tháng đầu năm giảm so cùng kỳ: Quặng inmenit đạt 1.425 tấn, giảm 69,55%; quặng zincol, rutile 1.220 tấn, giảm 62,68%; mực đông lạnh 123 tấn, giảm 45,5%; bia chai 17,9 triệu lít, giảm 11,29%; bia đóng lon 10,67 triệu lít, giảm 30,42%; dăm gỗ 85,1 ngàn tấn, giảm 35,39%; điện sản xuất 150,4 triệu kwh, giảm 43,15%.
Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến chế tạo tháng 02/2016 giảm 11,68% so với tháng trước và tăng 13,42% so với tháng cùng kỳ năm trước. Tính chung 2 tháng đầu năm chỉ số tiêu thụ tăng 15,44%. Các ngành có chỉ số tiêu thụ 2 tháng đầu năm tăng cao so với cùng kỳ: Tinh bột sắn tăng gấp 2,77 lần; sản xuất sợi tăng 6,46%; may mặc tăng 17,92%; dăm gỗ tăng 7,39%; gạch ngói tăng 38%; clanhke tăng 15,47%; xi măng tăng 48,88%; menfrit tăng 20,22%; xe có động cơ tăng gấp 3,5 lần. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm: Mực đông lạnh giảm 53,39%; sản xuất Bia giảm 16,68%; in ấn giảm 25,12%.
Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến chế tạo tháng 02/2016 tăng 1,61% so với tháng trước và tăng 60,06% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó tập trung vào một số ngành như: Sản xuất bia tăng 47,94%; sản xuất sợi tăng 46,17%; may mặc tăng 93,69%; chế biến dăm gỗ tăng 80,02%; sản xuất gạch ngói tăng 12,64%; sản xuất xi măng tăng gấp 3 lần; sản xuất men Frit tăng 2,98%; sản xuất các sản phẩm từ xi măng tăng 53,86%. Một số ngành có chỉ số tồn kho trong tháng 02/2016 giảm: Mực đông lạnh giảm 90,65%; sản xuất tinh bột sắn giảm 53,63%; sản xuất clanhke giảm 18,58%; sản xuất xe có động cơ giảm 60%. Chỉ số tồn kho tháng 02/2016 tăng cao là do các doanh nghiệp gặp khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm, tuy nhiên mức tồn kho đã có giảm so với tháng trước (tháng 01/2016 chỉ số tồn kho tăng 88,7% so với cùng kỳ).
Chỉ số sử dụng lao động công nghiệp tháng 3/2016 giảm 0,41% so với tháng trước và tăng 8,64% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 3 tháng đầu năm 2016 chỉ số sử dụng lao động trong các doanh nghiệp tăng 5,87% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó tập trung vào một số ngành như: Sản xuất sợi tăng 16,91%; may mặc tăng 18,68%. Ngành có chỉ số sử dụng lao động giảm mạnh nhất  là khai thác quặng kim loại, giảm 45,49%, nguyên nhân là do ngành này đang gặp khó khăn, số lượng lao động xin nghỉ việc tăng cao. Phân theo thành phần kinh tế: Lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 11,93% so cùng kỳ; doanh nghiệp ngoài Nhà nước giảm 12,43% và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 27,42%.
Số liệu trên cho thấy sản xuất công nghiệp của tỉnh trong 3 tháng đầu năm 2016 sụt giảm khá lớn, ngoài ngành cấp nước và xử lý nước thải, rác thải có chỉ số sản xuất tăng (nhưng tăng thấp), các ngành còn lại đều giảm, đặc biệt ngành công nghiệp chế biến, chế tạo là ngành quan trọng quyết định tăng trưởng chung của công nghiệp địa phương, lần đầu tiên tăng trưởng âm sau nhiều năm đạt mức tăng trưởng khá cao làm động lực dẫn dắt nền kinh tế.
5. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp
Từ đầu năm đến nay số doanh nghiệp thành lập mới 93 doanh nghiệp, tăng 12% so với cùng kỳ năm 2015; trong đó công ty cổ phần có 6 doanh nghiệp; công ty TNHH hai thành viên trở lên 30 doanh nghiệp; công ty TNHH một thành viên 41 doanh nghiệp; doanh nghiệp tư nhân 15 doanh nghiệp; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 2 doanh nghiệp. Tổng số vốn các doanh nghiệp đăng ký thành lập mới đạt 222,6 tỷ đồng, trong đó doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có số vốn đăng ký 45 ngàn USD; giải quyết việc làm cho trên 900 lao động của địa phương. Số doanh nghiệp đã giải thể 6 doanh nghiệp, số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động 119 doanh nghiệp.
Tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong quí I và dự báo xu hướng sản xuất kinh doanh quí II năm 2016:
- Các yếu tố tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp: Có 60,87% DN cho rằng yếu tố tính cạnh tranh của hàng trong nước đã  ảnh hưởng đến hoạt động SXKD của doanh nghiệp; tương tự nhu cầu thị trường trong nước thấp có 58,7% DN; nhu cầu thị trường ngoài nước thấp có 32,61% DN; thiếu nguyên vật liệu có 21,4% DN; tính cạnh tranh của hàng nhập khẩu và chính sách pháp luật của Nhà nước có 19,57% DN; khó khăn về tài chính và thiết bị công nghệ lạc hậu có 15,22% DN.
- Xu hướng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp:
Về khối lượng sản phẩm sản xuất quý I năm nay so với quý trước, có 17,4% số doanh nghiệp có khối lượng sản phẩm sản xuất tăng lên; 39,1% số doanh nghiệp có khối lượng sản phẩm sản xuất giảm đi và 43,5% số doanh nghiệp có khối lượng sản phẩm sản xuất giữ ổn định. Xu hướng quý II/2016 so với quý I/2016 tăng lên rõ rệt với 73,9% số doanh nghiệp dự kiến có khối lượng sản phẩm sản xuất tăng lên; 10,9% số doanh nghiệp dự kiến có khối lượng sản phẩm sản xuất giảm đi và 15,2% số doanh nghiệp có khối lượng sản phẩm sản xuất giữ ổn định.
Về đơn đặt hàng sản xuất quý I năm nay so với quý trước, có 17,8% số doanh nghiệp có số đơn đặt hàng cao hơn; 31,1% số doanh nghiệp có đơn đặt hàng giảm và 51,1% số doanh nghiệp có số đơn đặt hàng ổn định. Xu hướng quý II/2016 so với quý I/2016 tăng mạnh với 68,9% số doanh nghiệp dự kiến có đơn hàng cao hơn; 4,4% số doanh nghiệp dự kiến đơn hàng giảm và 26,7% số doanh nghiệp dự kiến đơn hàng ổn định.
Về đơn đặt hàng xuất khẩu quý I năm nay so với quý trước, có 12% số doanh nghiệp khẳng định số đơn hàng xuất khẩu cao hơn; 28% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu giảm và 60% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu ổn định. Xu hướng quý II/2016 so với quý I/2016 có 56% số doanh nghiệp dự kiến đơn hàng xuất khẩu tăng; không có doanh nghiệp dự kiến đơn hàng xuất khẩu giảm và 44% số doanh nghiệp dự kiến ổn định.
Về chi phí sản xuất quý I năm nay so với quý trước, có 26,1% số doanh nghiệp có chi phí sản xuất trên một đơn vị sản phẩm tăng; 6,5% số doanh nghiệp có chi phí giảm và 67,4% số doanh nghiệp có chi phí ổn định. Xu hướng quý II/2016 so với quý I/2016 ít biến động hơn với 15,2% số doanh nghiệp cho rằng chi phí sản xuất sẽ tăng; 15,2% số doanh nghiệp cho rằng chi phí sản xuất giảm và 69,6% số doanh nghiệp ổn định.
Về giá bán bình quân trên một đơn vị sản phẩm quý I và dự kiến quí II năm nay có xu hướng giảm so cùng kỳ do giá nguyên vật liệu đầu vào giữ ổn định, giá xăng dầu có xu hướng giảm, cạnh tranh thị trường khá gay gắt. Quí I có 10,9% số doanh nghiệp có giá bán sản phẩm tăng; 13% số doanh nghiệp có giá bán giảm và 76,1% số doanh nghiệp giữ giá ổn định. Có 8,7% số doanh nghiệp dự báo giá bán sản phẩm quý II so quý I sẽ cao hơn; 15,2% số doanh nghiệp dự báo giá bán sẽ thấp hơn và 76,1% số doanh nghiệp dự báo ổn định.
 Về tồn kho sản phẩm quý I năm nay so với quý trước, có 23,9% số doanh nghiệp có lượng hàng tồn kho tăng; 30,4% số doanh nghiệp có lượng hàng tồn kho giảm và 45,7% số doanh nghiệp giữ  ổn định. Xu hướng quý II/2016 so với quý I/2016 có 19,5% số doanh nghiệp dự kiến lượng hàng tồn kho sẽ tăng; 30,4% số doanh nghiệp dự kiến lượng hàng tồn kho giảm và 50,1% số doanh nghiệp sẽ giữ ổn định.
Về sử dụng lao động quí I/2016 so với quý trước, có  4,4% khẳng định qui mô lao động tăng; 13% khẳng định giảm và 82,6% cho là ổn định. Dự báo lao động quý II/2016 so với quý I/2016, có 19,6% số DN dự báo tăng lên; 6,5% số DN dự báo giảm đi và 73,9% DN dự báo giữ ổn định.
6. Thương mại, dịch vụ và giá cả
Hoạt động dịch vụ và thị trường hàng hóa quí I/2016  ổn định, không xảy ra biến động lớn về giá; hàng hóa phong phú về chủng loại, đa dạng về mẫu mã, không có tình trạng khan hiếm nguồn hàng trong dịp tết Nguyên đán Bính Thân 2016. UBND tỉnh đã ban hành Chỉ thị số 04/CT-UBND và Kế hoạch 03/KH-BCĐ về việc tổ chức phục vụ Tết Nguyên đán Bính Thân năm 2016, tăng cường các biện pháp quản lý thị trường chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, hàng nhái, găm hàng gây sốt giá “ảo”. Thực hiện Kế hoạch số 83/KH-UBND của UBND tỉnh về kế hoạch dự trữ hàng hóa bình ổn thị trường phòng chống lụt bão năm 2015 và các tháng đầu năm 2016 phục vụ Tết Nguyên đán Bính Thân, các doanh nghiệp trên địa bàn đã ký hợp đồng với tỉnh về dự trữ hàng hóa bình ổn thị trường với giá trị hơn 6 tỷ đồng, mức hỗ trợ của tỉnh 200 triệu đồng. Các doanh nghiệp và các cơ sở kinh doanh thương mại đã triển khai dự trữ, cung ứng nguồn hàng hóa đáp ứng đủ nhu cầu của thị trường trong dịp Tết với giá trị hàng hóa dự trữ hơn 960 tỷ đồng (trong đó: dự trữ tại một số doanh nghiệp lớn hơn 600 tỷ đồng; các chợ trung tâm, chợ đầu mối 110 tỷ đồng và nguồn dự trữ khác hơn 250 tỷ đồng). Tỉnh đã chỉ đạo và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trên địa bàn hưởng ứng tích cực chương trình bình ổn giá của Tỉnh và đưa hàng về nông thôn, vùng sâu, vùng xa… nhằm tăng khả năng tiếp cận hàng bình ổn cho các đối tượng khó khăn.
a. Bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Tháng 3 năm 2016, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 2.626,7 tỷ đồng, tăng 1,92% so với tháng trước và tăng 8,83% so với cùng kỳ năm trước. Chia theo loại hình kinh tế, kinh tế Nhà nước đạt 156,9 tỷ đồng, chiếm 6% trong tổng số, giảm 0,57% so với tháng trước và giảm 15,42% so với cùng kỳ năm trước; kinh tế ngoài Nhà nước đạt 2.391,1 tỷ đồng, chiếm 91%, tương ứng tăng 2,11% và tăng 10,95%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 78,7 tỷ đồng, chiếm 3%, tăng 1,54% và tăng 7,85%.
Xét theo ngành hàng, doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 3 năm 2016 đạt 2.006,7 tỷ đồng, chiếm 76,4% trong tổng số, tăng 0,56% so với tháng trước và tăng 9,65% so với cùng kỳ năm trước. Một số ngành hàng tăng so với tháng trước: Đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 2,95%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 5,82%; ô tô các loại tăng 0,15%; hàng hóa khác tăng 3,72%. Doanh thu dịch vụ lưu trú ăn uống đạt 464,3 tỷ đồng, chiếm 17,7%, tương ứng tăng 8,46% và tăng 5,5%. Doanh thu dịch vụ du lịch lữ hành đạt 13,8 tỷ đồng, chiếm 0,5%, tăng 13,84% và tăng 4,91%. Doanh thu dịch vụ khác đạt 141,9 tỷ đồng, chiếm 5,4%, tăng 0,35% và tăng 9,02%.
Tính chung 3 tháng đầu năm 2016, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế ước đạt 7.800 tỷ đồng, tăng 8,54% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá thì tăng 7,84%. Xét theo loại hình kinh tế, khu vực Nhà nước đạt 493,7 tỷ đồng, chiếm 6,3% tổng số và giảm 10,45% so cùng kỳ năm trước; khu vực ngoài Nhà nước 7.072,4  tỷ đồng, chiếm 90,7% và tăng 10,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 233,9 tỷ đồng, chiếm 3% và tăng 10,59%. Trong tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 3 tháng đầu năm 2016, kinh doanh bán lẻ hàng hóa đạt 6.025,2  tỷ đồng, chiếm 77,3% trong  tổng số và tăng 9,05% so cùng kỳ năm trước; dịch vụ lưu trú và ăn uống 1.310,8 tỷ đồng, chiếm 16,8% và tăng 6,21%; du lịch lữ hành 37,6 tỷ đồng, chiếm 0,5% và tăng 4,76%; dịch vụ khác 426,3 tỷ đồng, chiếm 5,5% và tăng 9,13%.
b. Xuất, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ
- Xuất khẩu hàng hóa
Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 3/2016 ước đạt 50,1 triệu USD, tăng 15,21% so với tháng trước và tăng 2,58% so cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế Nhà nước đạt 10,5 triệu USD, tương ứng tăng  64,27% và tăng 10,46%;  khu vực kinh tế tư nhân 13,3 triệu USD, tăng 3,94% và tăng 26,65%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài  26,3 triệu USD, tăng 8,25% và giảm 8,76%.
Tính chung 3 tháng đầu năm 2016, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước đạt 150 triệu USD, tăng 3,88% so với cùng kỳ năm trước; trong đó khu vực kinh tế Nhà nước đạt 25,2 triệu USD, giảm 7,23%; kinh tế tư nhân 44,4 triệu USD, tăng 25,55%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 80,4 triệu USD, giảm 1,79%. Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu khu vực trong nước chiếm 46,4% trong tổng kim ngạch xuất khẩu và đóng góp 4,89 điểm phần trăm vào mức tăng chung; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 53,6% và đóng góp -1,01 điểm phần trăm.
Ba tháng đầu năm, các mặt hàng xuất khẩu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu: Hàng dệt may ước đạt 93,3 triệu USD, chiếm 62,2%, giảm 0,17% so với cùng kỳ năm 2015; xơ, sợi dệt 18,4 triệu USD, chiếm 12,3%, giảm 18,02%; gỗ 25,6 triệu USD, chiếm 17%, tăng 84,93%; hàng thủy sản 8,4 triệu USD, chiếm 5,6%, tăng 10,99%.
Cơ cấu kim ngạch hàng hóa xuất khẩu 3 tháng đầu năm 2016 có sự thay đổi so với cùng kỳ năm trước: Tỷ trọng nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp giảm từ 81,88% xuống 75,73%; nhóm hàng nông, lâm sản tăng từ 11,39% lên 18,5%; nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản giảm từ 1,51% xuống 0,19%; nhóm hàng thủy sản tăng từ 5,22% lên 5,58%.
Về thị trường xuất khẩu, Hoa Kỳ vẫn là thị trường lớn nhất trong quí I năm 2016 với kim ngạch ước đạt 76,6 triệu USD, chiếm 51,1% trong tổng kim ngạch xuất khẩu và tăng 3,3% so với cùng kỳ năm 2015; Nhật Bản 24,1 triệu USD, chiếm 16,1%, tăng 20,55%; thị trường EU 19,6 triệu USD, chiếm 13,1%, tăng 37,62%; Thỗ Nhĩ Kỳ 7,3 triệu USD, chiếm 4,8%, giảm 31,09%;...
- Nhập khẩu hàng hóa
Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 3/2016 ước đạt 34,4 triệu USD, tăng 18,99% so với tháng trước và tăng 12,6% so cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế Nhà nước đạt 5,2 triệu USD, tương ứng tăng 71,85% và giảm 11,38%; khu vực kinh tế tư nhân 7,5 triệu USD, tăng 8,41% và tăng 17,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài  21,7 triệu USD, tăng 14,4% và tăng 18,46%.
Tính chung ba tháng đầu năm 2016, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa ước đạt 93,6 triệu USD, tăng 4,82% so với cùng kỳ năm trước; trong đó khu vực kinh tế Nhà nước đạt 13,2 triệu USD, giảm 21,74%; kinh tế tư nhân đạt 25,1 triệu USD, tăng 18,67%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 55,4 triệu USD, tăng 7,84%.
Quí I năm 2016, các mặt hàng nhập khẩu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch nhập khẩu: Vải các loại ước đạt 39,8 triệu USD, chiếm 42,5% và giảm 24,69% so với cùng kỳ năm trước; bông, xơ, sợi dệt 24 triệu USD, chiếm 25,6%, tăng 37,52%; nguyên phụ liệu hàng dệt may 2,83 triệu USD, chiếm 3%, giảm 66,17%.
Cơ cấu hàng hóa nhập khẩu quí I năm 2016 có sự thay đổi so với cùng kỳ: Tỷ trọng nhóm hàng nguyên, nhiên vật liệu giảm mạnh từ 94,92% xuống 78,67%; nhóm máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng tăng mạnh từ 4,59% lên 21,3%; nhóm hàng tiêu dùng giảm từ 0,49% xuống 0,03%.
Về thị trường nhập khẩu ba tháng đầu năm 2016, Trung Quốc vẫn là thị trường lớn nhất của tỉnh với kim ngạch ước đạt 37,5 triệu USD, chiếm 40,1% tổng kim ngạch nhập khẩu và giảm 25,82% so với cùng kỳ năm trước; Đài Loan 11,9 triệu USD, chiếm 12,8% và tăng 0,21%; thị trường Châu Phi 12 triệu USD, chiếm 12,81% và tăng 44,98%; thị trường Asean 5,4 triệu USD, chiếm 5,7% và tăng 6,67%;....
Như vậy hoạt động xuất siêu trên địa bàn quí I năm 2016 ước đạt 56,4 triệu USD, bằng 37,6% tổng kim ngạch xuất khẩu và tăng 2,35% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cán cân thương mại của khối kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có mức thặng dư là 25,1 triệu USD, chiếm 44,4% trong tổng số, giảm 17,98% so cùng kỳ; khối kinh tế tư nhân có mức thặng dư là 19,3 triệu USD, chiếm 34,3%, tăng  35,74%; khối kinh tế Nhà nước có mức thặng dư là 12 triệu USD, chiếm 21,3%, tăng 16,45%.
c. Vận tải hành khách và hàng hóa
Hoạt động vận tải trong quí I/2016 diễn ra sôi động do nhu cầu đi lại của người dân trong dịp Tết. Các doanh nghiệp vận tải tăng cường năng lực vận tải, bảo đảm an toàn cho các phương tiện, đẩy mạnh bán vé qua mạng, nâng cao chất lượng dịch vụ, không để hành khách thiếu phương tiện.
Vận tải hành khách tháng 3/2016 ước đạt 1.589,7 nghìn lượt khách và 79,49 triệu lượt khách.km, giảm 1,81% về lượt khách và giảm 2,31% về lượt khách.km so với tháng trước; tăng 3,79% về lượt khách và tăng 5,78% về lượt khách.km so cùng kỳ năm trước.
Dự ước vận tải hành khách quí I năm 2016 đạt 4.707,9 nghìn hành khách, tăng 3,34% và 234,15 triệu hành khách.km tăng 4,19% so với cùng kỳ năm trước; trong đó vận tải hành khách đường bộ đạt 4.488,9 nghìn hành khách, tăng 3,52% và 233,15 triệu hành khách.km, tăng 4,21%; đường sông 219,1 nghìn hành khách, giảm 0,36% và 1,0 triệu hành khách.km, giảm 0,83%. Không có vận tải hành khách đường biển.
Vận tải hàng hóa tháng 3/2016 ước đạt 711,4 nghìn tấn và 61,38 triệu tấn.km, tăng 1,94% về tấn và tăng 6,94% về tấn.km so với tháng trước; tăng 4,25% về tấn và tăng 3% về tấn.km so cùng kỳ năm trước.
Dự ước vận tải hàng hóa quí I năm 2016 ước đạt 2.090,4 nghìn tấn, tăng 3,46% và 179,05 triệu tấn.km, tăng 4,39% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vận tải hàng hóa đường bộ ước đạt 2.049,2 nghìn tấn, tăng 3,58% và 153,4 triệu tấn.km, tăng 4,96%; đường sông 20,2 nghìn tấn, giảm 1,13% và 240 nghìn tấn.km, giảm 1,35%; đường biển 21 nghìn tấn, giảm 3,23% và 25,41 triệu tấn.km, tăng 1,13%.
Doanh thu vận tải, bốc xếp tháng 3/2016 ước đạt 163,5 tỷ đồng, tăng 0,79% so với tháng trước và tăng 3,15% so cùng kỳ năm trước. Tính chung 3 tháng đầu năm 2016 doanh thu vận tải, bốc xếp ước đạt 487,8 tỷ đồng, tăng 2,9% so với cùng kỳ năm trước; trong đó đường bộ đạt 451 tỷ đồng, tăng 3,18%; đường sông 2 tỷ đồng, giảm 1,58%, đường biển 34,8 tỷ đồng, giảm 0,32%. Chia theo loại hình dịch vụ thì doanh thu vận tải hành khách đạt 133 tỷ đồng, tăng 3,05% so cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa đạt 316,8  tỷ đồng, tăng 2,69%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 38 tỷ đồng, tăng 4,21%.
d. Lượt khách các cơ sở lưu trú phục vụ và du lịch lữ hành
Ba tháng đầu năm 2016, trên địa bàn tỉnh tập trung triển khai các chương trình kích cầu du lịch, chương trình trọng điểm du lịch 2016; tổ chức Hội nghị xúc tiến du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2016 tại Thành phố Hồ Chí Minh và tại Thủ đô Hà Nội; triển khai Kế hoạch tổ chức đón các du khách đầu tiên đến Huế năm 2016 bằng đường biển, đặc biệt là Chương trình kích cầu du lịch trong dịp Tết với các chương trình khuyến mãi hấp dẫn gắn với nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch.
Dự ước lượt khách cơ sở lưu trú phục vụ tháng 3/2016 đạt 165,6 nghìn lượt khách, tăng 18,28% so với tháng tháng trước và tăng 0,98% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: lượt khách ngủ qua đêm đạt 149,1 nghìn lượt khách, tương ứng tăng 18,69% và tăng 0,62%; lượt khách trong ngày đạt 16,5 nghìn lượt khách, tăng 14,71% và tăng 4,43%. Đưa tổng lượt khách cơ sở lưu trú phục vụ ba tháng đầu năm đạt 444,2 nghìn lượt khách, tăng 2,14% so cùng kỳ năm trước; trong đó lượt khách ngủ qua đêm đạt 399,6 nghìn lượt, tăng 1,85%; lượt khách trong ngày đạt 44,6 nghìn lượt, tăng 4,85%.
 Trong lượt khách ngủ qua đêm tháng 3/2016, lượt khách quốc tế đạt 75,1 nghìn lượt khách, tăng 22,28% so với tháng trước và tăng 2,09% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách trong nước đạt 74 nghìn lượt khách, tương ứng tăng 15,26% và giảm 0,83%. Trong tổng lượt khách ngủ qua đêm ba tháng đầu năm khách quốc tế đạt 199,6 nghìn lượt khách, tăng 3,22%; lượt khách trong nước đạt 200 nghìn lượt khách, tăng 0,52%.
Ngày khách cơ sở lưu trú phục vụ tháng 3/2016 ước đạt 303,2 nghìn ngày khách, tăng 18,79% so với tháng tháng trước và tăng 0,24% so với cùng kỳ năm trước, chia ra ngày khách quốc tế 160,4 nghìn ngày khách, tương ứng tăng 22,18% và tăng 1,56%; ngày khách trong nước 142,8 nghìn ngày khách, tăng 15,2% và giảm 1,19%. Đưa tổng ngày khách cơ sở lưu trú phục vụ ba tháng đầu năm 2016 đạt 815,3 nghìn ngày, tăng 1,47% so cùng kỳ năm trước; trong đó, ngày khách quốc tế 427,8 nghìn ngày, tăng 2,74%; ngày khách trong nước đạt 387,5 nghìn ngày, tăng 0,1%.
Doanh thu của cơ sở lưu trú ước thực hiện tháng 3/2016 đạt 128 tỷ đồng, tăng 17,85% so với tháng trước và tăng 0,35% so cùng kỳ năm trước. Đưa doanh thu ba tháng đầu năm 2016 đạt 342 tỷ đồng, tăng 1,16% so cùng kỳ năm trước.
Hoạt động du lịch lữ hành: Tháng 3/2016 ước tính lượt khách du lịch theo tour đạt 7,9 nghìn lượt, tăng 13,56% so với tháng trước và tăng 4,56% so cùng kỳ năm trước. Đưa tổng lượt khách theo tour thực hiện ba tháng đầu năm 2016 ước đạt 21,7 nghìn lượt, tăng 4,83% so cùng kỳ năm trước. Dự ước ngày khách theo tour tháng 3/2016 đạt 16,8 nghìn ngày, tăng 13,52% so với tháng trước và tăng 4,25% so cùng kỳ năm trước. Đưa tổng ngày khách theo tour ba tháng đầu năm ước đạt 46,2 nghìn ngày, tăng 4,64% so cùng kỳ năm trước.
e. Giá cả
- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
Tháng Một là tháng diễn ra Tết Dương lịch và là tháng áp Tết Nguyên đán, nhưng chỉ số giá tiêu dùng chung toàn tỉnh chỉ tăng 0,05% so với tháng trước. Tháng Hai là tháng diễn ra Tết Nguyên đán, chỉ số giá tiêu dùng chung toàn tỉnh  tăng 0,55% so với tháng trước, đây là mức tăng thấp nhất so với mức tăng của các tháng tết trong 10 năm trở lại đây. Sau Tết, chỉ số giá tiêu dùng tháng 3 tăng 0,7% so tháng trước, tăng 1,3% so tháng 12 năm trước và tăng 1,99% so cùng kỳ năm trước; bình quân 3 tháng đầu năm 2016 tăng 1,38% so cùng kỳ. Nhìn chung, chỉ số giá quí I/2016 có tăng nhưng không cao như nhiều năm trước đây, tăng chủ yếu do diễn ra Tết nguyên đán và các lễ hội đầu năm nên một số mặt hàng tiêu dùng như thực phẩm, may mặc, đồ dùng gia đình và một số hàng hoá tiêu dùng khác tăng so ngày thường. Riêng chỉ số giá tiêu dùng tháng 3/2016 tăng chủ yếu do nhóm y tế tăng cao 37,06% (dịch vụ khám bảo hiểm y tế tăng), ngoài ra giá lương thực và một số mặt hàng ăng uống trong dịp lễ 8-3 cũng tăng, nhóm lương thực tăng 0,69% so tháng trước; nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 0,69%. Các nhóm hàng hóa dịch vụ còn lại đều ổn định hoặc giảm nhẹ, bao gồm: Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,12% so tháng trước; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,02%; nhóm bưu chính viễn thông, giáo dục không tăng; nhóm giao thông giảm mạnh 3,63% do giá xăng dầu giảm; thực phẩm giảm 0,68%; may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,38%; thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,14%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,05%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,09%.
- Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ
Chỉ số giá vàng tháng 3/2016 tăng 7,76% so với tháng trước, tăng 10,72% so với tháng 12 năm trước và tăng 2,25% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 3/2016 giảm 0,06% so với tháng trước, giảm 0,71% so với tháng 12 năm trước và tăng 4,35% so với cùng kỳ năm trước.
7. Các vấn đề xã hội
a. Chính sách - xã hội
    Thực hiện Quyết định số 28/QĐ-CTN của Chủ tịch nước; Quyết định số 90/QĐ-UBND và Kế hoạch số 133/KH-UBND của UBND tỉnh về việc tặng quà cho các đối tượng chính sách xã hội nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Thân 2016. Tỉnh Thừa Thiên Huế đã hỗ trợ kịp thời cho các đối tượng và trao 143.566 suất quà với tổng số tiền 29,110 tỷ đồng, trong đó:
- Hỗ trợ 43.230 suất quà của Chủ tịch nước, của Tỉnh, huyện và các xã, phường, thị trấn cho người có công với tổng số tiền 8,7 tỷ đồng;
- UBND tỉnh đã trích ngân sách tỉnh và thông qua các nguồn vận động của UBMTTQVN tỉnh, các tổ chức đoàn thể, các doanh nghiệp,…đã hỗ trợ quà Tết cho 100.336 đối tượng là hộ nghèo, đối tượng hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội và các gia đình có hoàn cảnh khó khăn khác với tổng số tiền 20,4 tỷ đồng. Ngoài ra, UBND huyện Phong Điền và Phú Vang đã trích hơn 23 tấn gạo từ nguồn gạo dự trữ để hỗ trợ cho các hộ có nguy cơ thiếu đói trên địa bàn.
b. Tình hình giải quyết việc làm
Từ đầu năm đến nay, Tỉnh đã tổ chức 5 phiên giao dịch việc làm với 105 lượt đơn vị tham gia, 1.487 lượt lao động đến sàn, sơ tuyển 279 lao động bổ sung nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp và xuất khẩu lao động.
Giải quyết chế độ Bảo hiểm thất nghiệp cho 280 người/300 người đăng ký hưởng bảo hiểm thất nghiệp với tổng số tiền 2.524 triệu đồng (trong đó, chi hỗ trợ học nghề 9,65 triệu đồng).
c. Giáo dục phổ thông
Học kỳ I năm học 2015-2016, Ngành GD&ĐT tỉnh đã hoàn thành cơ bản các chỉ tiêu đề ra: Mạng lưới trường lớp từng bước được sắp xếp phù hợp theo quy hoạch; công tác phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi đúng tiến độ theo lộ trình đề ra, được Bộ GD&ĐT công nhận là tỉnh đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi; giáo dục tiểu học có nhiều nét khởi sắc, đặc biệt là thực hiện nghiêm túc, hiệu quả việc đánh giá học sinh tiểu học theo Thông tư 30/2014/TT-BGDĐT; số lượng và chất lượng học sinh học 2 buổi/ngày tăng; số trường đạt chuẩn quốc gia cao hơn năm trước; triển khai có hiệu quả đề án “Xây dựng Xã hội học tập giai đoạn 2012-2020” và Đề án “xóa mù chữ  đến năm 2020”.
Kết thúc học kỳ I năm học 2015-2016, tình hình học lực của học sinh các cấp học giữa năm học như sau: Khối tiểu học tỷ lệ học sinh hoàn thành chương trình đạt trên 99%; khối Trung học cơ sở 51,3% đạt loại khá giỏi, tăng 7,37% so cùng kỳ năm trước; khối Trung học phổ thông 39,4% đạt loại khá giỏi, tăng 1,03%.
Thi học sinh giỏi:
+ Có 77 học sinh tham gia thi 10 môn trong kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia năm 2016.
+ Tỉnh đã công nhận 683 học sinh đạt giải trong kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp tỉnh lớp 12, trong đó: Khối THPT không chuyên đạt 467 giải, gồm 9 giải Nhất; 48 giải Nhì; 173 giải Ba; 237 giải Khuyến khích; khối THPT chuyên đạt 216 giải, gồm 10 giải Nhất; 45 giải Nhì; 69 giải Ba; 92 giải Khuyến khích.
 + Cuộc thi giải toán bằng Máy tính cầm tay năm học 2015 - 2016 có 308 giải được công nhận (gồm: 12 giải Nhất; 59 giải Nhì;106 giải Ba; 131 giải Khuyến khích).
d. Tình hình y tế, dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm
Tháng 02/2016, trên địa bàn tỉnh đã có 6 ca mắc sốt rét, tăng 1 ca so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu là sốt rét thường; 10 ca mắc sốt xuất huyết, tăng 6 ca; 31 ca mắc viêm gan siêu trùng, tăng 23 ca. Không có trường hợp nào tử vong. Không có ca mắc thương hàn, bệnh Tay-Chân-Miệng và viêm não vi rút, bằng cùng kỳ năm trước.
Tính chung từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã có 12 ca mắc sốt rét, tăng 5 ca so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu là sốt rét thường; 47 ca mắc sốt xuất huyết, tăng 28 ca; 44 ca mắc viêm gan siêu trùng, tăng 36 ca; Không có trường hợp nào tử vong. Không có ca mắc thương hàn, bệnh Tay-Chân-Miệng và viêm não vi rút, bằng cùng kỳ năm trước.
Tháng 02/2016, qua kiểm tra đã phát hiện 7 ca nhiễm HIV, 4 ca chuyển qua AIDS và 1 ca tử vong do AIDS. Từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 14 ca nhiễm HIV, có 4 ca chuyển qua AIDS và đã có 1 ca tử vong. Như vậy tính đến thời điểm hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 1.431 ca nhiễm HIV, 526 ca chuyển qua AIDS và đã có 332 ca tử vong.
Từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh không có trường hợp ngộ độc thực phẩm tập thể xảy ra. Trong dịp tết nguyên đán Bính Thân, ngành Y tế tỉnh đã thành lập 136 đoàn kiểm tra liên ngành tiến hành kiểm tra tình hình đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn toàn tỉnh, đặc biệt tại các cơ sở sản xuất, chế biến thực phẩm, các chợ, các quầy hàng kinh doanh thực phẩm và một số hàng hóa phục vụ Tết nguyên đán Bính Thân 2016. Kết quả thanh tra, kiểm tra như sau:
Tổng số cơ sở được thanh tra, kiểm tra 2.879 cơ sở; số cơ sở có vi phạm 488 cơ sở; số cơ sở vi phạm bị xử lý 96 cơ sở, trong đó số cơ sở bị cảnh cáo 92 cơ sở, số cơ sở bị phạt tiền 4 cơ sở. Tổng số tiền phạt 6 triệu đồng.
Các nội dung vi phạm chủ yếu: Điều kiện vệ sinh cơ sở (113 cơ sở), Điều kiện trang thiết bị dụng cụ (206 cơ sở), Điều kiện con người (149 cơ sở),…
e. Hoạt động văn hóa, thể thao
Trong tháng 01 và tháng 02/2016: Diễn ra Hội chợ “Xuân – 2016” với 200 gian hàng của 120 doanh nghiệp trên cả nước; tổ chức chương trình giao lưu văn hóa hữu nghị Việt - Nhật; tổ chức Lễ khai mạc Khai hội Văn hóa Thể thao và Du lịch năm 2016 của tỉnh Thừa Thiên Huế.
Triển khai Kế hoạch số 133/KH-UBND ngày 09/12/2015 của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế về việc tổ chức các hoạt động mừng Đảng, mừng Xuân Bính Thân 2016 trên địa bàn toàn tỉnh: Tổ chức các hoạt động chào mừng 86 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam; tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao mừng Đảng, mừng Xuân Bính Thân 2016.
Trong tháng 3/2016: Tuyên truyền kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước trong năm 2016 theo Hướng dẫn số 168-HD/BTGTW của Ban Tuyên giáo trung ương. Tổ chức các hoạt động tập trung tuyên truyền sâu rộng về mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng của cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016 – 2021.
Tổ chức Giải cờ vua đồng đội mạnh học sinh thành phố Huế tranh cúp Hương Giang lần thứ IV; tổ chức giải cờ Vua, cờ Tướng các nhóm tuổi khu vực miền Trung mở rộng năm 2016, kết quả Thừa Thiên Huế đạt giải nhất toàn đoàn và đã giành được 24 HCV; khởi tranh giải bóng đá Thanh niên Thừa Thiên Huế tranh cúp HUDA lần I -2016.
f. Tai nạn giao thông
Ngày 25/12/2015, Chủ tịch UBND tỉnh Thừa Thiên Huế  ban hành Chỉ thị số 19/CT-UBND về việc tăng cường công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông dịp Tết Dương lịch, Tết Nguyên đán Bính Thân, các Lễ hội mùa Xuân và năm 2016.
Trong tháng 02/2016, trên địa bàn tỉnh xảy ra 38 vụ tai nạn và va chạm giao thông, tăng 5 vụ so với cùng kỳ năm trước; làm chết 12 người, giảm 4 người; bị thương 32 người, giảm 1 người. Trong đó: Tai nạn giao thông đường bộ xảy ra 34 vụ, tăng 3 vụ; làm chết 8 người, giảm 6 người; bị thương 31 người, giảm 2 người. Tai nạn giao thông đường sắt xảy ra 4 vụ, tăng 2 vụ; làm chết 4 người, tăng 2 người; bị thương 1 người, tăng 1 người. Tai nạn đường thủy không xảy ra. Tính chung trong 2 tháng đầu năm 2016, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 77 vụ tai nạn giao thông, tăng 3 vụ so với cùng kỳ năm trước; làm chết 30 người, giảm 3 người; bị thương 62 người, không tăng giảm. Trong đó tai nạn giao thông đường bộ xảy ra 72 vụ, không tăng giảm; làm chết 25 người, giảm 5 người; bị thương 61 người, giảm 1 người. Tai nạn giao thông đường sắt xảy ra 5 vụ, tăng 3 vụ; làm chết 5 người, tăng 2 người; bị thương 1 người, tăng 1 người. Tai nạn đường thủy không xảy ra.
g. Tình hình cháy nổ và bảo vệ môi trường
Tháng 3/2016, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 1 vụ cháy rừng trồng, bằng cùng kỳ năm trước, ước thiệt hại ban đầu 134 triệu đồng. Nguyên nhân vụ cháy đang được các cơ quan chức năng điều tra làm rõ. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 4 vụ cháy, tăng 2 vụ so cùng kỳ năm trước; không xảy ra vụ nổ, bằng cùng kỳ năm trước. Tổng giá trị thiệt hại do các vụ cháy gây ra là 524 triệu đồng, không thiệt hại về người.
Tháng 3/2016, xảy ra 10 vụ vi phạm môi trường, giảm 15 vụ so với cùng kỳ năm trước, đã tiến hành xử lý 10 vụ với số tiền xử phạt 80 triệu đồng. Từ đầu năm đến nay, đã xảy ra 26 vụ vi phạm môi trường, giảm 14 vụ so với cùng kỳ năm trước, đã tiến hành xử lý 26 vụ với số tiền phạt 133 triệu đồng. Các hành vi vi phạm gồm: thải nước thải ra môi trường không qua xử lý; khai thác và vận chuyển cát sạn trái phép; vận chuyền đất đá, cát sạn rơi vãi;...

Khái quát lại, trong quí I/2016, tình hình kinh tế - xã hội trong tỉnh mặc dù đã đạt được những kết quả quan trọng trong các lĩnh vực sản xuất nông lâm thuỷ sản, đầu tư, dịch vụ, bình ổn giá cả và các lĩnh vực xã hội, nhưng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong khu vực công nghiệp vẫn còn gặp nhiều khó khăn về thị trường tiêu thụ đối với một số sản phẩm công nghiệp chủ lực, đặc biệt quan tâm là sản phẩm Bia ảnh hưởng không nhỏ đến tăng trưởng ngành công nghiệp và toàn bộ nền kinh tế. Nếu không có các quyết sách kịp thời, dự báo tăng trưởng kinh tế 6 tháng và cả năm 2016 thấp nhất từ trước đến nay.
Để tháo gỡ khó khăn trong sản xuất kinh doanh, phấn đấu hoàn thành các mục tiêu kinh tế - xã hội 6 tháng và cả năm 2016, góp phần thực hiện cao nhất các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội của năm đầu tiên thời kỳ kế hoạch 5 năm 2016 - 2020, các cấp, các ngành trong thời gian tới cần tập trung một số vấn đề trọng tâm sau đây:
Thứ nhất, tập trung triển khai thực hiện hiệu quả Kế hoạch số 145/KH-UBND ngày 30/12/2015 của UBND tỉnh về hoạt động “Năm doanh nghiệp Thừa Thiên Huế 2016”. Trong đó tập trung đẩy mạnh và nâng cao chất lượng công tác xúc tiến đầu tư, giải phóng mặt bằng tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp triển khai các dự án và kêu gọi đầu tư; nâng và đẩy nhanh tiến độ xúc tiến mời các doanh nghiệp đầu tư vào các ngành công nghiệp hỗ trợ (nhất là dệt, may), du lịch (dịch vụ chất lượng cao), liên kết sản xuất thiết bị hỗ trợ và dịch vụ ngành ô tô (sản xuất theo chuỗi cho Trường Hải, Toyota, ford... thông qua xí nghiệp ô tô Thống Nhất), thiết bị y tế để sớm nâng cao giá trị gia tăng cho nền kinh tế.
Thứ hai, nâng cao sức cạnh tranh, tìm kiếm và mở rộng thị trường đầu ra cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp  trong các lĩnh vực kinh tế mũi nhọn, các lĩnh vực phát triển nhân tố và năng lực sản xuất mới của nền kinh tế. Đây là một trong những vấn đề quan trọng quyết định đến tăng trưởng tổng sản phẩm trong tỉnh. Trước mắt cần có những chính sách và giải pháp kịp thời củng cố, ổn định thị trường Bia Huế bằng các hình thức tuyên truyền, vận động, tiếp thị, khuyến mại,... trong và ngoài tỉnh để lấy lại niềm tin của người tiêu dùng.
Thứ ba, tiếp tục thực hiện hiệu quả chương trình kích cầu du lịch năm 2016; tăng cường công tác quản lý nhà nước về du lịch; làm tốt công tác dịch vụ lữ hành, tìm kiếm khai thác các tuyến du lịch đường biển, đường hàng không quốc tế (Bangkok – Huế) và các tuyến nội địa liên kết trong khu vực và các thành phố lớn. Tạo được những sản phẩm du lịch đặc thù, hấp dẫn có lợi thế cạnh tranh để thu hút du khách. Tập trung tổ chức Festival Huế 2016 theo hướng chuyên nghiệp, xã hội hoá và đa dạng hoá các loại hình tổ chức; tăng cường quảng bá về thành phố Huế - Thành phố Văn hóa ASEAN, Thành phố bền vững về môi trường ASEAN.
Thứ tư, có giải pháp ứng phó với tình hình nắng nóng gay gắt và xâm nhập mặn. Tu sửa, nạo vét các công trình thủy lợi, điều tiết nguồn nước các công trình thủy điện, khai thác tối đa các nguồn nước phục vụ sản xuất và đời sống. Chăm sóc tốt lúa đông xuân, theo dõi chặt chẽ diễn biến tình hình thời tiết, sâu bệnh để có biện pháp ứng phó kịp thời. Tăng cường  công tác phòng chống dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm và thủy sản.
Thứ năm, triển khai thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình xây dựng nông thôn mới. Triển khai và hướng dẫn đầy đủ Quy chế thi Trung học phổ thông quốc gia và Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy năm 2016. Quan tâm, tạo điều kiện về chế độ chăm sóc sức khỏe, bảo hiểm y tế cho người dân, nhất là hộ chính sách, hộ nghèo./.


Gửi bởi    

HỆ THỐNG TÊN MIỀN MẠNG GSO
MÁY CHỦ TÊN MIỀN .GSO:
Chính:       10.0.1.1
Dự phòng: 10.0.1.2
  • Góc người dùng
Tên đăng nhập:
Mật khẩu:



Bạn đang dùng -

IP:54.236.59.154

Thống kê

Lượt truy cập  2173
Đang trực tuyến   4