MyLabel

Tình Hình Kinh Tế Xã Hội Tháng 4 Năm 2016

4/23/2016
                                                            TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI
                                                                  THÁNG 4 NĂM 2016

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
a. Sản xuất nông nghiệp
Sản xuất nông nghiệp trong tháng 4/2016 chủ yếu tập trung chăm sóc lúa vụ đông xuân và tiến hành thu hoạch một số cây hàng năm khác.
Đến ngày 15/4/2016 đã kết thúc gieo trồng vụ đông xuân 2016, tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm đạt 46.040 ha, giảm 0,4% so với cùng kỳ năm trước; trong đó lúa đông xuân 27.936 ha, chiếm 60,7% tổng diện tích gieo trồng, tăng 0,5%. Diện tích lúa tăng tập trung ở huyện Phong Điền 38 ha, huyện Phú Vang 27 ha, nguyên nhân tăng chủ yếu là nhờ hệ thống thủy lợi, trạm bơm nước ở nhiều địa phương được xây dựng, cải tạo đảm bảo nguồn nước, nên một số chân ruộng trước đây thường hay xảy ra khô hạn cuối vụ, nay đã được đưa vào gieo trồng, bên cạnh đó chuyển đổi một số diện tích trồng hoa màu sang trồng lúa.
Diện tích cây hàng năm khác chủ yếu vụ đông xuân 2016 như ngô ước đạt 1.047 ha, bằng 98,8% so cùng kỳ năm trước; khoai lang 2.438 ha, bằng 95,6%; sắn 6.525 ha, bằng 99,7%; lạc 3.186 ha, bằng 101,1%; rau các loại 2.850 ha, bằng 98,3%; đậu các loại 795 ha, bằng 98%. Diện tích gieo trồng cây hàng năm chủ yếu khác vụ đông xuân giảm so cùng kỳ nguyên nhân chủ yếu là do chương trình đổi đất xây dựng cơ sở hạ tầng của các địa phương trong tỉnh, trong đó chủ yếu quy hoạch đất ở cho dân cư và mở rộng đường giao thông xây dựng nông thôn mới.
Hiện nay cây lúa trong giai đoạn phát triển và chuẩn bị trổ đại trà, nhưng từ đầu tháng 4 đến nay thời tiết nắng nóng, trong khi đó đầu vụ có đợt lạnh đã làm kéo dài thời gian sinh trưởng của lúa, nên so với khung lịch thời vụ năm nay lúa trổ chậm hơn khoảng 7 ngày. Tính đến ngày 15/4/2016 lúa trổ khoảng 8.500 ha, chiếm hơn 30% tổng diện tích lúa, so với cùng kỳ năm trước vào thời điểm này lúa đã trổ gần 90% diện tích.
Thực hiện Công điện số 01/CĐ-UBND ngày 31/3/3016 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc tăng cường công tác vớt và xử lý bèo Lục Bình năm 2016, từ đầu tháng 4 đến nay ngành chức năng phối hợp với chính quyền các địa phương cùng với các đoàn thể trên địa bàn đã đồng loạt ra quân trục vớt bèo trên các sông, hói để khơi thông dòng chảy, đảm bảo môi trường cảnh quan và phục vụ tưới tiêu nông nghiệp. Tính đến nay đã xử lý khoảng 80% khối lượng bèo trên các sông, hói.
Tình hình sâu bệnh gây hại trên cây lúa, tính đến 15/4/2016 có khoảng 3.960 ha lúa bị nhiễm các loại bệnh phổ biến như: bệnh đạo ôn 1.050 ha, xảy ra chủ yếu ở các huyện Phú Lộc 500 ha, Phú Vang 210 ha, Quảng Điền 340 ha; bệnh khô vằn 950 ha ở các huyện Phú Lộc 500 ha, thị xã Hương Thủy 250 ha, huyện Quảng Điền 200 ha; sâu cuốn lá 800 ha ở các huyện Phú Lộc 600 ha, Quảng Điền 200 ha; rầy các loại 780 ha ở các huyện Phú Lộc 400 ha, Quảng Điền 150 ha, Phú Vang 150 ha, thị xã Hương Thủy 80 ha; chuột gây hại 350 ha ở huyện Phú Lộc; bọ trĩ 30 ha ở các huyện Phú Lộc 20 ha, huyện Quảng Điền 10 ha;… Hầu hết diện tích nhiễm bệnh có tỷ lệ và mật độ gây hại thấp nhờ chủ động trong công tác dự báo về tình hình sinh vật gây hại trên cây trồng, tăng cường kiểm tra, giám sát đồng ruộng; đồng thời chủ động thực hiện các biện pháp hữu hiệu khắc phục kịp thời tình trạng sâu bệnh gây hại xảy ra.
Chăn nuôi: Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn toàn tỉnh không xảy ra dịch bệnh ở đàn gia súc, gia cầm. Tính đến thời điểm 01/4/2016 tổng đàn trâu toàn tỉnh đạt 21.574 con, xấp xỉ bằng tháng trước và tăng 0,2% so với cùng kỳ năm trước; đàn bò 25.387 con, tăng 0,3% so tháng trước và tăng 11,6% so với cùng kỳ năm trước. Đàn bò tăng khá so cùng kỳ nguyên nhân là do chăn nuôi bò hiện nay mang lại hiệu quả kinh tế cao, mô hình chăn nuôi bò được chính quyền các địa phương hỗ trợ về vốn vay cho các hộ chính sách nuôi bò xóa đói giảm nghèo khu vực nông thôn.
Tính đến thời điểm 01/4/2016 tổng đàn lợn đạt 201.856 con, tăng 1,2% so với tháng trước và giảm 0,5% so với cùng kỳ năm trước; đàn gia cầm  2.103 nghìn con, tương ứng tăng 2,7% và tăng 1,6%, trong đó đàn gà 1.420 nghìn con, tăng 2,7% và tăng 0,5%, đàn vịt 641 nghìn con, tăng 2,6% và tăng 3,9%, đàn ngan ngỗng 41,5 nghìn con, tăng 1,2% và tăng 9%. Nguyên nhân đàn lợn giảm so cùng kỳ chủ yếu là do hiện nay số hộ chăn nuôi lợn ở khu vực nông thôn với quy mô nuôi nhỏ (từ 1 đến 3 con) ngày càng giảm, trong khi đó số hộ nuôi có quy mô lớn tăng lên nhưng chưa đủ mạnh để bù đắp cho tổng đàn. Bên cạnh đó, hiện nay một số công việc có thu nhập ổn định trong các ngành công nghiệp, xây dựng, dịch vụ đã thu hút nhiều lao động nông thôn tham gia, làm cho lao động chăn nuôi của hộ ngày càng giảm. Đàn gia cầm tăng chủ yếu do giá bán hiện nay giữ ở mức cao nên người chăn nuôi có lãi, thời tiết thuận lợi cho việc phát triển đàn, dịch bệnh trên đàn gia cầm không xảy ra, chăn nuôi tập trung theo hình thức trang trại và gia trại ngày càng phát triển khá.
Hiện nay các địa phương trong tỉnh tiếp tục triển khai tiêm phòng các loại vắc xin gia súc, gia cầm vụ xuân 2016. Tính đến 15/4/2016 đã tiêm phòng được 29.690 liều vắc xin tụ huyết trùng trâu bò đạt 83% kế hoạch; 89.530 liều vắc xin dịch tả + tam liên lợn, đạt 76% kế hoạch; 9.340 liều vắc xin VX +KT E.coli, đạt 43% kế hoạch; 168.450 liều vắc xin dịch tả vịt, đạt 37% kế hoạch; 356.960 liều vắc xin Newcastle gà, đạt 61% kế hoạch; 222.200 liều vắc xin cúm gia cầm, đạt 42% kế hoạch; 10.880 liều vắc xin tụ huyết trùng gia cầm, đạt 48% kế hoạch; 94.600 liều vắc xin đậu gà, đạt 63% kế hoạch; 185.000 liều vắc xin VX+KT Gumboro, đạt 68% kế hoạch; 27.305 liều vắc xin dại chó, đạt 40% kế hoạch.
b. Lâm nghiệp
Sản xuất lâm nghiệp tháng 4/2016 tiếp tục tập trung khai thác gỗ rừng trồng. Ước tính tổng sản lượng gỗ khai thác trong tháng đạt 18.315 m3, tăng 27,5% so với tháng cùng kỳ năm trước, trong đó toàn bộ là gỗ khai thác từ rừng trồng; sản lượng củi khai thác 15.047 ste, tăng 25,2%. Tính chung tổng sản lượng gỗ khai thác 4 tháng đầu năm 2016 đạt 95.667 m3, tăng 26% so với cùng kỳ năm trước, toàn bộ là gỗ khai thác rừng trồng. Sản lượng gỗ tăng cao chủ yếu do rừng trồng trên địa bàn tỉnh đã đến kỳ khai thác, giá thu mua gỗ ổn định, thời tiết tương đối thuận lợi cho việc khai thác và vận chuyển. Sản lượng củi khai thác 4 tháng đầu năm ước đạt 67.247 ster, tăng 24,3% so cùng kỳ, tăng chủ yếu do tận thu củi từ khai thác gỗ rừng trồng.
Diện tích trồng rừng tập trung trong tháng 4/2016 ước đạt 588 ha, tăng gấp 2 lần so tháng cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm 2016 diện tích trồng mới tập trung ước đạt 2.060 ha, tăng 2,45 lần so với cùng kỳ. Từ đầu năm đến nay, ngành Nông nghiệp phối hợp với các địa phương chủ động triển khai công tác chuẩn bị cây giống, đất lâm nghiệp và thiết kế trồng rừng. Hiện nay khâu làm đất phục vụ trồng rừng hầu hết đã được cơ giới hóa nên diện tích trồng rừng tăng cao so cùng kỳ.
Trong tháng 4/2016 xảy ra 28 vụ vi phạm lâm luật, trong đó có 1 vụ phá rừng làm nương rẫy với diện tích thiệt hại 0,04 ha; đã tịch thu 29,6 m3 gỗ tròn. Trong tháng đã xử lý 25 vụ vi phạm lâm luật, tổng các khoản thu nộp ngân sách 268 triệu đồng, trong đó tiền phạt 53 triệu đồng, tiền bán tang vật bị tịch thu 215 triệu đồng. Lũy kế 4 tháng đầu năm xảy ra 97 vụ vi phạm lâm luật, tăng 2 vụ so với cùng kỳ năm 2015; trong đó có 3 vụ phá rừng với diện tích rừng bị phá 0,2 ha, 1 vụ cháy rừng với diện tích bị cháy 1,7 ha. Đã tiến hành xử lý 97 vụ, tịch thu 117,9 m3  gỗ tròn, trong đó có 2 m3 gỗ quý hiếm. Tổng các khoản thu nộp ngân sách 590 triệu đồng, trong đó tiền phạt 244 triệu đồng, tiền bán tang vật bị tịch thu 346 triệu đồng.
c. Thủy sản
Diện tích nuôi trồng thủy sản tháng 4/2016 ước đạt 881,3 ha, tăng 17,7% so với tháng 4/2015, bao gồm nuôi nước lợ 688,3 ha, tăng 23,2%; nuôi nước ngọt 193 ha, tăng 1,6%. Trong diện tích nuôi nước lợ, chia ra nuôi cá 83 ha, giảm 4,6% so cùng kỳ; nuôi tôm 564 ha, tăng 27,5%, riêng tôm sú 473 ha, tăng 28,2%, tôm thẻ chân trắng 90 ha, tăng 34,5%; diện tích nuôi các loại thủy sản khác 41,3 ha, tăng  40,2%.
Lũy kế tổng diện tích nuôi trồng thủy sản 4 tháng đầu năm 2016 ước đạt 5.942 ha, tăng 1,4% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm diện tích nuôi nước lợ 3.979 ha, tăng 2,2%; nuôi nước ngọt 1.963 ha, giảm 0,3%. Trong nuôi nước lợ, chia ra nuôi cá 1.018 ha, giảm 1,1% so cùng kỳ; nuôi tôm 2.466 ha, tăng 6,2%, riêng nuôi tôm sú 2.123 ha, tăng 5,6%, tôm thẻ chân trắng 242 ha, tăng 12,6%; nuôi các loại thủy sản khác 495 ha, giảm 8,9%. Trong nuôi nước lợ, ngoài diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng, hầu hết diện tích còn lại cơ quan chức năng khuyến cáo tránh nuôi độc canh, nên nuôi xen ghép đa dạng hóa các đối thượng nuôi để hạn chế dịch bệnh xảy ra.
Tình hình tôm sú, tôm thẻ chân trắng nhiễm bệnh: Tính đến ngày 15/4/2016 do thay đổi thời tiết chuyển từ mùa lạnh sang nắng nóng, môi trường nuôi chưa đảm bảo nên tôm sú, tôm thẻ chân trắng bị nhiễm bệnh chủ yếu là bệnh đốm trắng và bệnh môi trường, đã xảy ra cục bộ trên một số diện tích. Tôm bị nhiễm bệnh trên địa bàn toàn tỉnh khoảng 41,8 ha, trong đó tôm sú 41,5 ha, tôm thẻ chân trắng 0,3 ha, cụ thể ở các huyện Phú vang 41,5 ha tôm sú; huyện Phong Điền 0,3 ha tôm thẻ chân trắng. Đến thời điểm này, những diện tích tôm bị nhiễm bệnh đã được xử lý bằng hóa chất, cơ quan chức năng phối hợp với chính quyền chỉ đạo và hướng dẫn người nuôi tôm áp dụng đúng quy trình kỹ thuật, đồng thời thực hiện các biện pháp phòng chống nhằm hạn chế lây lan.
Về sản xuất giống thủy sản, trong tháng 4/2016 sản xuất giống trên địa bàn tỉnh ước đạt 23,5 triệu con, tăng 14,6% so với tháng 4/2015; trong đó tôm sú giống 11 triệu con, tăng 10%; cá giống 12,5 triệu con, tăng 19%, chủ yếu cung cấp giống cho các cơ sở nuôi trên địa bàn tỉnh. Lũy kế số giống sản xuất được 4 tháng đầu năm 2016 ước đạt 88,5 triệu con, tăng 2,3% so cùng kỳ; trong đó tôm sú giống 53 triệu con, tăng 3,9%; cá giống 34,5 triệu con và giống thủy sản khác 1 triệu con, bằng cùng kỳ.
Lượng giống thả nuôi: Lượng giống tôm sú thả nuôi tháng 4/2016 đạt 23 triệu con, tăng 27,8% so với tháng 4/2015; tôm thẻ chân trắng thả nuôi 90 triệu con, tăng 34,3%; cá giống các loại thả nuôi 88 triệu con, giảm 0,6%. Nâng số giống tôm sú thả nuôi 4 tháng đầu năm 2016 đạt 125 trịệu con, tăng 4,8% so cùng kỳ năm trước; số giống tôm thẻ chân trắng thả nuôi 242,2 triệu con, tăng 15,3%; số giống cá thả nuôi 159,6 triệu con, giảm 0,7%.
Sản lượng thủy sản nuôi trồng thu hoạch tháng 4/2016 ước đạt 357 tấn, giảm  0,6% so với tháng 4/2015; trong đó sản lượng cá 252 tấn, giảm 1,6%, tôm chân trắng 62 tấn, tăng 10,7%; thủy sản khác 43 tấn, giảm 8,5%. Lũy kế sản lượng thủy sản nuôi trồng 4 tháng đầu năm 2016 ước đạt 1.182 tấn, tăng 3,9% so cùng kỳ năm trước; trong đó sản lượng cá các loại 892 tấn, tăng 4,9%; tôm thẻ chân trắng 197 tấn, tăng 4,2%; thủy sản khác 93 tấn, giảm 6,1%. 
Sản lượng khai thác tháng 4/2016 ước đạt 4.193 tấn, tăng 6,2% so với tháng 4/2015; trong đó khai thác biển 3.955 tấn, tăng 6,6%, khai thác biển trong tháng tăng là do thời tiết thuận lợi cho việc đánh bắt, một số tàu thuyền đã sửa chữa, nâng cấp, mua sắm ngư lưới cụ bắt đầu cho vụ chính đánh bắt cá Nam; khai thác nội địa 238 tấn, giảm 0,4%. Lũy kế sản lượng khai thác 4 tháng đầu năm 2016 ước đạt 11.720 tấn, tăng 5,5% so cùng kỳ năm trước; trong đó khai thác biển 10.720 tấn, tăng 6,1%; khai thác nội địa 1.000 tấn, giảm 0,6%,
Tính chung sản lượng thủy sản nuôi trồng và khai thác 4 tháng đầu năm 2016 đạt 12.902 tấn, tăng 5,4% so cùng kỳ năm trước.
2. Sản xuất công nghiệp
Tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh tháng 4/2016 đã có chuyển biến tích cực so với tháng trước tuy nhiên vẫn tiếp tục gặp khó khăn do thị trường tiêu thụ một số sản phẩm chủ lực chịu áp lực cạnh tranh lớn nhưng chưa có hướng giải quyết triệt để tìm kiếm đầu ra, trong khi đó một số năng lực sản xuất mới tăng trong tỉnh chưa đi vào hoạt động.
Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) trên địa bàn tỉnh tháng 4/2016 tăng 23,85% so tháng trước và tăng 3,94% so cùng kỳ năm trước. Tính chung bốn tháng đầu năm 2016, chỉ số sản xuất công nghiệp bằng 98,7%( ) so cùng kỳ năm trước; trong đó  ngành công nghiệp khai khoáng bằng 73,73%; sản xuất, phân phối điện, nước đá bằng 63,48%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,44%; cấp nước và xử lý nước thải, rác thải tăng 0,17%.
Trong bốn tháng đầu năm 2016, có đến 1/2 ngành công nghiệp cấp I trên địa bàn có chỉ số sản xuất giảm khá sâu, 1/2  ngành còn lại chỉ số sản xuất tăng không đáng kể. Các ngành có chỉ số sản xuất giảm mạnh bao gồm: Ngành khai thác quặng kim loại có chỉ số sản xuất bằng 50,34% so cùng kỳ năm trước; sản xuất Bia bằng 82,21%; in ấn bằng 75,57%; chế biến dăm gỗ bằng 78,74%; sản xuất điện và phân phối điện bằng 58,01%, trong đó điện sản xuất bằng 51,9%; chế biến thủy sản bằng 93,87%.
Trong các ngành có chỉ số sản xuất giảm mạnh, ngành sản xuất Bia tác động lớn nhất đến mức giảm của chỉ số sản xuất công nghiệp địa phương vì đây là ngành chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị sản xuất công nghiệp và có giá trị gia tăng cao. Ngoài ra một số ngành có chỉ số sản xuất giảm sâu như khai thác quặng kim loại, sản xuất điện cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chỉ số sản xuất của toàn ngành công nghiệp địa phương.
Các ngành có chỉ số sản xuất bốn tháng đầu năm 2016 tăng thấp so với cùng kỳ: Khai thác đá tăng 3,09%; sản xuất trang phục tăng 3,73%; sản xuất gạch ngói tăng 3,07%; sản xuất tân dược tăng 5,2%; sản xuất bê tông và các sản phẩm từ xi măng tăng 2,97%, cấp nước tăng 0,14%; thu gom rác thải tăng 0,42%.    
Các ngành có chỉ số sản xuất bốn tháng đầu năm 2016 tăng khá so với cùng kỳ: Sản sợi tăng 16,01%; sản xuất xi măng, thạch cao tăng 27,55%, sản xuất ô tô tăng gấp 2,16 lần.
Các sản phẩm công nghiệp chủ yếu có mức sản xuất tăng trong bốn tháng đầu năm 2016 so cùng kỳ năm trước: Đá xây dựng đạt 232,1 ngàn m3, tăng 1,15%; đá vôi nguyên liệu 255,5 ngàn tấn, tăng 4,96%;  tôm đông lạnh 653 tấn, tăng 10,12%; tinh bột sắn 5.844 tấn, tăng 14,56%; sợi các loại 21,7 ngàn tấn, tăng 16,01%; quần áo lót 92,4 triệu cái, tăng 8,62%; gạch tuynen 34,8 triệu viên, tăng 3,07%; clanhke 728,9 ngàn tấn, tăng 12,45%; xi măng 595 ngàn tấn, tăng 60,92%; men frit 25,1 ngàn tấn , tăng 7,16%; bê tông tươi 24,4 ngàn m3, tăng 12,18%; xe ô tô 41 chiếc, tăng gấp 2,16 lần; điện thương phẩm 324 trkwh, tăng 3,6%.
Các sản phẩm công nghiệp có mức sản xuất bốn tháng đầu năm giảm so cùng kỳ: Quặng inmenit đạt 2.681 tấn, giảm 59,19%; quặng zincol, rutile 2.235 tấn, giảm 49,66%; mực đông lạnh 171 tấn, giảm 37,7%; bia chai 30,6 triệu lít, giảm 1,32%; bia đóng lon 13,9 triệu lít, giảm 29,31%; dăm gỗ 144 ngàn tấn, giảm 21,26%; điện sản xuất 182,6 triệu kwh, giảm 48,1%.
3. Vốn đầu tư
Tổng vốn đầu tư thực hiện theo giá hiện hành trên địa bàn bốn tháng đầu năm 2016 ước đạt 4.376,5 tỷ đồng, bằng 23,4% KH năm, tăng 9,7% so với cùng kỳ năm trước; trong đó vốn Trung ương quản lý 1.139,5 tỷ đồng, bằng 21,3% KH, tăng 4,6%, chiếm 26% tổng vốn; vốn Địa phương quản lý 3.237 tỷ đồng, bằng 24,2% KH, tăng 11,6%, chiếm 74%.
Vốn thuộc ngân sách Nhà nước đạt 940 tỷ đồng, bằng 28,1% KH, bằng 85,6% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 21,5% tổng vốn, gồm có: Vốn ngân sách Trung ương quản lý 287 tỷ đồng, bằng 26,1% KH, bằng 63% so cùng kỳ; vốn ngân sách Địa phương quản lý 653 tỷ đồng, bằng 29% KH, bằng 101,5%. Nguồn vốn tín dụng đạt 1.824 tỷ đồng, bằng 22,9% KH, tăng 18,5% so cùng kỳ, chiếm 41,7% trong tổng vốn; vốn đầu tư của doanh nghiệp 670 tỷ đồng, bằng 25,2% KH, tăng 23,6%, chiếm 15,3%; vốn viện trợ 214,5 tỷ đồng, bằng 13,2% KH, giảm 5,9%, chiếm 4,9%; vốn đầu tư nước ngoài 255 tỷ đồng, bằng 22,2% KH, tăng 28,1%, chiếm 5,8%.
Nguồn vốn ngân sách Nhà nước 4 tháng đầu năm 2016 giảm mạnh so cùng kỳ năm trước do một số dự án trọng điểm quốc gia thuộc ngân sách Trung ương với số vốn bố trí lớn đã thực hiện xong trong năm 2015. Nguồn ngân sách do địa phương quản lý 4 tháng đầu năm tăng so cùng kỳ do một số dự án đã thực hiện với khối lượng công việc khá lớn: Nâng cấp mở rộng đường tỉnh lộ 10A, đoạn qua khu C đô thị mới An Vân Dương; Nâng cấp, mở rộng đường Tứ Phú - Đức Trọng. Để kịp phục vụ lễ hội Festival Huế 2016 nhiều dự án sớm được hoàn thành trước ngày khai mạc: Tu bổ, phục hồi di tích Phu Vân Lâu; Tu bổ, phục hồi lầu Tàng Thơ; Chỉnh trang vỉa hè đường Lê Lợi (đoạn từ đường Hùng Vương đến đường Đội Cung) ,... Tuy nhiên còn một số dự án dù đã đưa vào thi công đầu năm nhưng đến nay tiến độ thực hiện chậm: Kè chống sạt lở bờ biển khu vực xã Quảng Công và Quảng Ngạn huyện Quảng Điền, Dự án Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư Thuỷ Dương giai đoạn 3. Một số dự án đến nay vẫn chưa được khởi công: Đường từ xã Hồng Trung đến mốc 646, huyện A Lưới; Đường nội thị phía Tây nối Tỉnh lộ 9 - Tỉnh lộ 17, huyện Phong Điền. Nguồn ngân sách Trung ương quản lý tiếp tục đầu tư vào các dự án thuộc các Bộ ngành: Mở rộng, nâng cấp QL 49B (Thuận An-Tư Hiền-QL 1A); Trung tâm điều dưỡng người có công tỉnh Thừa Thiên Huế; Cơ sở nghiên cứu Viện nghiên cứu khoa học Miền Trung,…
Nguồn vốn đầu tư ngoài Nhà nước tiếp tục tăng cao, các dự án ngoài Nhà nước tiếp tục đầu tư vào lĩnh vực du lịch-bất động sản: Dự án Manor Crown; dự án tổ hợp Trung tâm Thương mại Vincom Hùng Vương và Khách sạn 5 sao Vinpearl Huế,…Lĩnh vực công nghiệp đầu tư vào các nhà máy thủy điện nhỏ như Nhà máy thủy điện Alin 2, Nhà máy thủy điện Alin B1, các dựa án trong ngành dệt sợi như Nhà máy sợi của Công ty sợi Phú Gia, Công ty sợi Phú Quang,… Đối với dự án trọng điểm quốc gia Đường cao tốc La Sơn - Túy Loan qua địa phận Thừa Thiên Huế đến nay công tác giải phóng mặt bằng cơ bản đã hoàn thành. Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục đầu tư vào Dự án sản xuất vỏ lon nhôm và Khu nghỉ dưỡng Laguna giai đoạn 2.   
Tháng 4/2016 không có dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký mới. Tính từ đầu năm đến nay, tổng số dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài có 3 dự án được cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 1,39 triệu USD, bằng về số dự án và giảm 32,85% về số vốn so với cùng kỳ năm 2015. Trong số 3 dự án được cấp phép, đầu tư vào công nghệ thông tin 1 dự án của Hàn Quốc với số vốn 0,01 triệu USD; 1 dự án của Pháp với số vốn 1,33 triệu USD đầu tư về lĩnh vực giáo dục và 1 dự án của Úc với số vốn 0,05 triệu USD đầu tư vào lĩnh vực tư vấn quản lý.
4. Thương mại, dịch vụ và giá cả
a. Bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 04/2016 ước đạt 2.660,4 tỷ đồng, tăng 2,06% so với tháng trước và tăng 10,73% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, kinh tế Nhà nước đạt 153,3 tỷ đồng, chiếm 5,8% tổng số, tăng 2,61% so với tháng trước và giảm 19,29% so với cùng kỳ năm trước; kinh tế ngoài Nhà nước 2.431,9 tỷ đồng, chiếm 91,4%, tương ứng tăng 2,06% và tăng 13,56%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 75,2 tỷ đồng, chiếm 2,8%, tăng 0,97% và tăng 5,65%.
Xét theo ngành hàng, doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 04/2016 ước đạt 2.007,4 tỷ đồng, chiếm 75,5% tổng số, tăng 0,86% so với tháng trước và tăng 9,82% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng so với tháng trước là do một số ngành hàng tăng như sau: lương thực, thực phẩm tăng 0,05%; hàng may mặc tăng 1,44%; vật phẩm văn hóa giáo dục tăng 2,43%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 5,23%; ô tô các loại tăng 0,63%; xăng dầu tăng 1,97%; nhiên liệu khác tăng 1,28%. Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống tháng 4/2016 ước đạt 497,7 tỷ đồng, chiếm 18,7%, tăng 7,31% so với tháng trước và tăng 15,24% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ du lịch lữ hành đạt 14,9 tỷ đồng, chiếm 0,6%, tương ứng tăng 9% và tăng 14,36%; doanh thu dịch vụ khác 140,4 tỷ đồng, chiếm 5,3%, tăng 1,06% và tăng 8,08%.
Tính chung bốn tháng đầu năm 2016, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trên địa bàn tỉnh ước đạt 10.440,4 tỷ đồng, tăng 8,89% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, Kinh tế Nhà nước đạt 639,4 tỷ đồng, chiếm 6,1% tổng số và giảm 13,73% so cùng kỳ năm trước; kinh tế ngoài Nhà nước 9.496 tỷ đồng, chiếm 91% và tăng 10,87%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 305 tỷ đồng, chiếm 2,9% và tăng 8,14%. Trong tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng bốn tháng đầu năm 2016, kinh doanh bán lẻ hàng hóa đạt 8.016,1 tỷ đồng, chiếm 76,9% tổng số và tăng 9,02% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ lưu trú và ăn uống 1.808,1 tỷ đồng, chiếm 17,3% và tăng 8,52%; du lịch lữ hành 52,4 tỷ đồng, chiếm 0,5% và tăng 7,08%; dịch vụ khác 563,8 tỷ đồng, chiếm 5,4% và tăng 8,31%.
b. Xuất, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ
- Xuất khẩu hàng hóa
Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 4/2016 ước đạt 51,87 triệu USD, giảm 3,17% so với tháng trước và tăng 3,55% so cùng kỳ năm trước; trong đó khu vực kinh tế Nhà nước đạt 7,3 triệu USD, tương ứng giảm 14,52% và giảm 14,62%; kinh tế tư nhân đạt 18,8 triệu USD, giảm 4,71% và tăng 60,33%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 25,7 triệu USD, tăng 1,91% và giảm 13,62%.
Tính chung bốn tháng đầu năm 2016, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước đạt 205,38 triệu USD, tăng 5,58% so với cùng kỳ năm trước; trong đó khu vực kinh tế nhà nước đạt 30,66 triệu USD, giảm 14,32%; kinh tế tư nhân 69,71 triệu USD, tăng 47,99% ; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 105,02 triệu USD, giảm 5,94%.
Trong bốn tháng đầu năm 2016, các nhóm hàng xuất khẩu chiếm tỉ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu: Hàng dệt may đạt 131,09 triệu USD, chiếm 63,8%, tăng 5,32% so cùng kỳ năm trước; xơ, sợi dệt các loại 28,83 triệu USD, chiếm 14%, giảm 7,8%; gỗ 28 triệu USD, chiếm 13,7%, tăng 48,91%; hàng thủy sản 10,07 triệu USD, chiếm 4,9%, tăng 10,69%.
Về thị trường xuất khẩu, Hoa Kỳ là thị trường có kim ngạch lớn nhất ước đạt 108,3 triệu USD, chiếm 52,7% trong tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu và tăng 11,56% so với cùng kỳ năm trước; Nhật Bản 25,4 triệu USD, chiếm 12,4% và giảm 3,64%; thị trường EU 27,1 triệu USD, chiếm 13,2% và tăng 25,83%; thị trường Asean 11,5 triệu USD, chiếm 5,6% và tăng 18,61%; Thổ Nhĩ Kỳ 8,5 triệu USD, chiếm 4,1% và giảm 35,87%; còn lại các nước khác.
- Nhập khẩu hàng hóa
Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 4/2016 ước đạt 28,86 triệu USD, giảm 18,87% so với tháng trước và giảm 6,58% so cùng kỳ năm trước; trong đó khu vực kinh tế Nhà nước đạt 7,06 triệu USD, tương ứng tăng 1,07% và tăng 54,55%; kinh tế tư nhân 9,58 triệu USD, giảm 3,58% và tăng 31,65%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 12,22 triệu USD, giảm 34,49% và giảm 35,86%.
Tính chung bốn tháng đầu năm 2016, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa ước đạt 123,7 triệu USD, tăng 2,89% so với cùng kỳ năm trước; trong đó kinh tế Nhà nước đạt 22,03 triệu USD, tăng 2,85%; kinh tế tư nhân 37,08 triệu USD, tăng 30,61%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 64,59 triệu USD, giảm 8,27%.
Trong bốn tháng đầu năm 2016, các nhóm hàng nhập khẩu chiếm tỉ trọng lớn trong tổng kim ngạch nhập khẩu: Vải các loại đạt 50,74 triệu USD, chiếm 41%, giảm 25,67% so cùng kỳ năm trước; bông và xơ, sợi dệt các loại 32,02 triệu USD, chiếm 25,9%, tăng 26,91%; máy móc thiết bị dụng cụ phụ tùng khác 25,99 triệu USD, chiếm 21%, tăng 3,5 lần.
Đối với thị trường nhập khẩu, Trung Quốc vẫn là thị trường lớn nhất với kim ngạch ước đạt 51,6 triệu USD, chiếm 41,7% tổng kim ngạch hàng hóa nhập khẩu và giảm 18,46% so cùng kỳ năm trước; Đài Loan 16,8 triệu USD, chiếm 13,6% và giảm 17,3%; thị trường Châu Phi 17,6 triệu USD, chiếm 14,2% và tăng gấp 2,05 lần; thị trường Asean 7,5 triệu USD, chiếm 6,1% và tăng 21,28%; còn lại các nước khác
Như vậy hoạt động xuất siêu trên địa bàn bốn tháng đầu năm 2016 ước đạt 81,7 triệu USD, bằng 39,8% tổng kim ngạch xuất khẩu và tăng 9,92% so với cùng kỳ năm trước.
c. Vận tải hành khách và hàng hóa
Vận tải hành khách tháng 4/2016 ước đạt 1.670,1 nghìn lượt khách và 82,57 triệu lượt khách.km, tăng 6,02% về lượt khách và tăng 5,93% về lượt khách.km so với tháng trước; tăng 12,43% về lượt khách và tăng 11,65% về lượt khách.km so cùng kỳ năm trước.
Dự ước vận tải hành khách bốn tháng đầu năm 2016 đạt 6.363,5 nghìn lượt khách, tăng 5,33% so cùng kỳ năm trước và 315,2 triệu lượt khách.km tăng 5,52%; trong đó vận tải hành khách đường bộ ước đạt 6.065,8 nghìn lượt khách, tăng 5,56% và 313,8 triệu lượt khách.km, tăng 5,54%; đường sông 297,7 nghìn lượt khách, tăng 1,01% và 1,36 triệu lượt khách.km, tăng 0,95%; đường biển không có hoạt động vận tải hành khách.
Vận tải hàng hóa tháng 4/2016 ước đạt 727,8 nghìn tấn và 64,35 triệu tấn.km, tăng 3,14% về tấn và tăng 6,97% về tấn.km so với tháng trước; tăng 4,16% về tấn và tăng 8,33% về tấn.km so cùng kỳ năm trước.
Trong bốn tháng đầu năm 2016, vận tải hàng hóa ước đạt 2.812,5 nghìn tấn, tăng 3,43% và 242,2 triệu tấn.km tăng 4,88% so cùng kỳ năm trước, bao gồm: vận tải hàng hóa đường bộ ước đạt 2.756,7 nghìn tấn, tăng 3,52% và 207,6 triệu tấn.km tăng 5,81%; đường sông đạt 27,4 nghìn tấn, giảm 0,07% và 0,33 triệu tấn.km, giảm 0,09%; đường biển đạt 28,4 nghìn tấn, giảm 2,1% và 34,28 triệu tấn.km, giảm 0,4%.
Doanh thu vận tải, bốc xếp tháng 4/2016 ước đạt 172,9 tỷ đồng, tăng 5,69% so với tháng trước và tăng 5,11% so cùng kỳ năm trước. Tính chung bốn tháng đầu năm 2016, doanh thu vận tải, bốc xếp ước đạt 660,8 tỷ đồng, tăng 3,48% so cùng kỳ năm trước, bao gồm: Đường bộ đạt 612,2 tỷ đồng, tăng 4,1%; đường sông 2,7 tỷ đồng, giảm 0,26%; đường biển 45,9 tỷ đồng, giảm 3,89%. Chia theo loại hình dịch vụ thì doanh thu vận tải hành khách đạt 182,7 tỷ đồng, tăng 6,09%; doanh thu vận tải hàng hóa đạt 427,8 tỷ đồng, tăng 2,69%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 50,3 tỷ đồng, tăng 1,04%.
d. Lượt khách các cơ sở lưu trú phục vụ và du lịch lữ hành
Tháng 4 năm 2016, lượng khách du lịch đến Huế tăng cao. Ngành Du lịch đã tích cực đầu tư quảng bá, kích cầu, nâng cao chất lượng các loại hình dịch vụ du lịch, xây dựng các tour tuyến du lịch mới, đa dạng, hấp dẫn; hệ thống các nhà ga, bến cảng, sân bay tăng tần suất và nâng cao chất lượng phục vụ khách. Nhìn chung, trong 4 tháng đầu năm 2016, hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh đã có những chuyển biến tích cực.
Dự ước lượt khách cơ sở lưu trú phục vụ tháng 4/2016 đạt 189,8 nghìn lượt khách, tăng 14,15% so với tháng trước và tăng 19,61% so với cùng kỳ năm trước, chia ra: lượt khách ngủ qua đêm đạt 170 nghìn lượt khách, tương ứng tăng 13,55% và tăng 19,1%; lượt khách trong ngày đạt 19,8 nghìn lượt khách, tăng 19,53% và tăng 24,2%. Đưa tổng lượt khách cơ sở lưu trú phục vụ bốn tháng đầu năm 2016 đạt 634,6 nghìn lượt khách, tăng 6,93% so cùng kỳ năm trước; trong đó lượt khách ngủ qua đêm đạt 570,1 nghìn lượt, tăng 6,56%; lượt khách trong ngày đạt 64,5 nghìn lượt, tăng 10,33%.
 Trong lượt khách ngủ qua đêm tháng 4/2016, lượt khách quốc tế đạt 77,2 nghìn lượt khách, tăng 1,47% so với tháng trước và tăng 19,96% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách trong nước đạt 92,8 nghìn lượt khách, tương ứng tăng 26,03% và tăng 18,39%. Trong tổng lượt khách ngủ qua đêm bốn tháng đầu năm khách quốc tế đạt 277,5 nghìn lượt khách, tăng 7,78%; lượt khách trong nước đạt 292,6 nghìn lượt khách, tăng 5,43%.
Ngày khách cơ sở lưu trú phục vụ tháng 4/2016 ước đạt 336,3 nghìn ngày khách, tăng 14,68% so với tháng tháng trước và tăng 14,55% so với cùng kỳ năm trước, chia ra ngày khách quốc tế 165,5 nghìn ngày khách, tương ứng tăng 2,83% và tăng 17,84%; ngày khách trong nước 170,9 nghìn ngày khách, tăng 29,07% và tăng 11,53%. Đưa tổng ngày khách cơ sở lưu trú phục vụ bốn tháng đầu năm 2016 đạt 1.141,6 nghìn ngày, tăng 4,06% so cùng kỳ năm trước; trong đó, ngày khách quốc tế 593,6 nghìn ngày, tăng 6,62%; ngày khách trong nước 548 nghìn ngày, tăng 1,42%.
Doanh thu của cơ sở lưu trú ước thực hiện tháng 4/2016 đạt 143,8 tỷ đồng, tăng 14,08% so với tháng trước và tăng 16,32% so cùng kỳ năm trước. Đưa doanh thu bốn tháng đầu năm 2016 ước đạt 483,8 tỷ đồng, tăng 4,78% so cùng kỳ năm trước.
Hoạt động du lịch lữ hành: Tháng 4/2016 ước tính lượt khách du lịch theo tour đạt 9,1 nghìn lượt, tăng 15,56% so với tháng trước và tăng 13,45% so cùng kỳ năm trước. Đưa tổng lượt khách theo tour thực hiện bốn tháng đầu năm 2016 ước đạt 30,8 nghìn lượt, tăng 7,27% so cùng kỳ năm trước. Dự ước ngày khách theo tour tháng 4/2016 đạt 18,5 nghìn ngày, tăng 9,78% so với tháng trước và tăng 12,56% so cùng kỳ năm trước. Đưa tổng ngày khách theo tour bốn tháng đầu năm ước đạt 64,7 nghìn ngày, tăng 6,81% so cùng kỳ năm trước.
e. Giá cả
- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
Chỉ số giá tiêu dùng chung toàn tỉnh tháng 4/2016 tăng 0,15% so với tháng trước, nguyên nhân chủ yếu do tác động tăng giá xăng dầu, gas và giá lương thực, ngoài ra một số mặt hàng khác cũng có tăng nhẹ do bắt đầu bước vào mùa khô như đồ uống, vật liệu xây dựng, dịch vụ khác,...Các nhóm hàng hóa dịch vụ có chỉ số giá tăng so với tháng trước bao gồm: Nhóm lương thực tăng 3,2%; nhóm giao thông tăng 1,72%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,17%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,14%; nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,1%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,24%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm hoặc không tăng bao gồm: Nhóm thực phẩm giảm 0,75%; ăn uống ngoài gia đình giảm 0,06%; văn hoá, giải trí và du lịch giảm 0,1%; thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,07%; bưu chính viễn thông giảm 0,05%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế giảm 0,02%; nhóm giáo dục không tăng giảm.
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 4/2016 tăng 1,45% so với tháng 12 năm trước và tăng 1,99% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân bốn tháng đầu năm 2016 tăng 1,38% so với bình quân cùng kỳ năm 2015.
- Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ
Chỉ số giá vàng tháng 4/2016 giảm 0,33% so với tháng trước, tăng 10,35% so với tháng 12 năm trước và tăng 3,77% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 4/2016 giảm 0,1% so với tháng trước, giảm 0,81% so với tháng 12 năm trước và tăng 3,3% so với cùng kỳ năm trước.
5. Tài chính, ngân hàng
Tổng thu ngân sách 4 tháng đầu 2016 ước đạt 1.676,8 tỷ đồng, bằng 29,8% dự toán năm, tăng 9,81% so cùng kỳ năm trước; trong đó, thu nội địa đạt 1.455 tỷ đồng, bằng 29,2% DT, tăng 10,14%; thu thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt 109,4 tỷ đồng, bằng 39,8%DT, tăng 20,02%.
Trong thu nội địa: Thu doanh nghiệp Nhà nước đạt 159,9 tỷ đồng, bằng 31,4%DT, giảm 1,32% so cùng kỳ năm trước; thu DN có vốn đầu tư nước ngoài 614,9 tỷ đồng, bằng 34,5%DT, tăng 26,19%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 268,2 tỷ đồng, bằng 28%DT, giảm 0,98%; thu thuế thu nhập cá nhân 66 tỷ đồng, bằng 34,8%DT, tăng 7,3%; thu thuế bảo vệ môi trường 93,7 tỷ đồng, bằng 23%DT, tăng gấp 2,19 lần.
Tổng chi ngân sách địa phương 4 tháng đầu năm 2016 ước đạt 2.418,3 tỷ đồng, bằng 30,4%DT; trong đó chi đầu tư phát triển 486,5 tỷ đồng, bằng 22,8%DT; chi sự nghiệp kinh tế 119,8 tỷ đồng, bằng 21,2%DT; chi sự nghiệp giáo dục đào tạo 853,6 tỷ đồng, bằng 35,8%DT; chi sự nghiệp y tế 125,1 tỷ đồng, bằng 28,9%DT; chi quản lý Nhà nước 400,9 tỷ đồng, bằng 40,7%DT.
Ngân hàng, Tổng nguồn vốn huy động đến cuối tháng 3/2015 đạt 30.610 tỷ đồng, tăng 3,9% so với đầu năm; trong đó huy động tiền gửi tiết kiệm 22.960 tỷ đồng, tăng 4,9%, chiếm 75% trong tổng nguồn vốn huy động.
Tổng dư nợ cho vay toàn địa bàn đến cuối tháng 3/2015 đạt 28.520 tỷ đồng tăng 4,4% so với đầu năm; trong đó dư nợ cho vay bằng VND đạt 27.100 tỷ đồng, tăng 5,1%, chiếm 95% trong tổng dư nợ; dư nợ cho vay ngắn hạn 10.100 tỷ đồng, tăng 1,4%, chiếm 35,4%;
Dự ước đến cuối tháng 3/2016 cho vay một số lĩnh vực ưu tiên: Cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn tăng 1,8% so với đầu năm; cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng 24,1%; cho vay phát triển SXKD hàng xuất khẩu tăng 27,6%; cho vay ngành công nghiệp hỗ trợ  tăng 35,9%. Đến thời điểm này, trên địa bàn không có dư nợ cho vay doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao.
Về lãi suất, các chi nhánh Tổ chức tín dụng trên địa bàn duy trì mức lãi suất huy động và cho vay ổn định so với tháng trước, cụ thể:
Lãi suất huy động không có kỳ hạn hoặc có kỳ hạn dưới 1 tháng phổ biến ở mức 0,8% - 1%/năm; kỳ hạn từ 1 đến dưới 6 tháng ở mức 4% - 5,4%/năm; từ 6 tháng đến dưới 12 tháng ở mức 5,5% - 6,4%/năm; kỳ hạn từ 12 tháng trở lên phổ biến ở mức 6,4% - 7,3%/năm. Lãi suất huy động ngoại tệ phổ biến bằng mức trần do NHNN quy định là 0%/năm đối với tổ chức và cá nhân.
Lãi suất cho vay các lĩnh vực ưu tiên phổ biến ở mức 6% - 7%/ năm đối với ngắn hạn; trung và dài hạn ở mức 8% - 10%/ năm. Lãi suất cho vay các lĩnh vực SXKD thông thường phổ biến ở mức 6,8% - 9%/ năm đối với vay ngắn hạn; ở mức 9% - 11%/ năm đối với trung, dài hạn. Lãi suất cho vay ngoại tệ phổ biến ở mức 2% - 6,2%/ năm; trong đó lãi suất cho vay ngắn hạn phổ biến ở mức 2% - 5,2%/ năm; cho vay trung, dài hạn 5,3% - 6,2%/năm.
6. Các vấn đề xã hội
a. Đào tạo
Năm học 2016, Đại học Huế tổ chức một Hội đồng tuyển sinh chung để tuyển sinh cho tất cả các Trường đại học thành viên, Khoa trực thuộc và Phân hiệu Đại học Huế tại Quảng Trị. Chỉ tiêu tuyển sinh năm 2016 là 12.810 sinh viên (trong đó 12.580 sinh viên đào tạo trình độ đại học cho 107 ngành học và 230 sinh viên đào tạo trình độ cao đẳng cho 5 ngành học tại Trường đại học Nông Lâm và Phân hiệu Đại học Huế tại Quảng Trị). Cụ thể như sau:
ĐVT: Sinh viên
Trường, khoa trực thuộc               Năm              Năm                    Năm 2016

                                                          2015              2016                   so 2015 (%)

Tổng số                                        12.435           12.810                            103,0
- Trường Đại học Khoa học        1.850             2.220                            120,0
- Trường Đại học Sư phạm        1.696             1.610                               94,9
- Trường Đại học Y Dược            1.545            1.500                                97,1
- Trường Đại học Nông Lâm      2.400             2.360                               98,3
- Trường Đại học Kinh tế             1.750             1.820                            104,0
- Trường Đại học Nghệ thuật         210                210                            100,0
- Trường Đại học Ngoại ngữ      1.220             1.300                            106,6
- Khoa Giáo dục thể chất                177                160                               90,4
- Khoa Du lịch                                   587                550                               93,7
- Trường Đại học Luật                     800                900                             112,5
- Phân hiệu ĐH Huế tại Quảng Trị 200                180                               90,0
b. Tình hình y tế, dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm
Tháng 3/2016, trên địa bàn tỉnh đã có 6 ca mắc sốt rét, tăng 4 ca so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu là sốt rét thường; 14 ca mắc sốt xuất huyết, tăng 1 ca; 36 ca mắc viêm gan siêu trùng, tăng 3 ca. Không có trường hợp nào tử vong. Không có ca mắc thương hàn và viêm não vi rút, bằng cùng kỳ năm trước; không có ca mắc bệnh Tay-Chân-Miệng, giảm 2 ca.
Tính chung từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã có 18 ca mắc sốt rét, tăng 9 ca so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu là sốt rét thường; 61 ca mắc sốt xuất huyết, tăng 29 ca; 80 ca mắc viêm gan siêu trùng, tăng 39 ca. Không có trường hợp nào tử vong. Không có ca mắc thương hàn và viêm não vi rút, bằng cùng kỳ năm trước; không có ca mắc bệnh Tay-Chân-Miệng, giảm 2 ca.
Tháng 3/2016, qua kiểm tra đã phát hiện 6 ca nhiễm HIV, 2 ca chuyển qua AIDS và không có ca tử vong do AIDS. Từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 20 ca nhiễm HIV, có 6 ca chuyển qua AIDS và đã có 1 ca tử vong. Như vậy tính đến thời điểm hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 1.437 ca nhiễm HIV, 528 ca chuyển qua AIDS và đã có 332 ca tử vong.
Tháng 4/2016, trên địa bàn tỉnh không có trường hợp ngô độc thực phẩm xảy ra. Từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh không có trường hợp ngộ độc thực phẩm tập thể xảy ra.
c. Hoạt động văn hóa, thể thao
Trong tháng 4/2016, trên địa bàn tỉnh đã tổ chức các hoạt động tuyên truyền kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước trong năm 2016 theo Hướng dẫn số 168-HD/BTGTW của Ban Tuyên giáo Trung ương; tổ chức các hoạt động tuyên truyền bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021.
Tổ chức khai mạc triển lãm “Văn hóa, Du lịch và Biển đảo” chào mừng 41 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước, chào mừng  Festival Huế lần thứ IX-2016 với gần 450 hình ảnh, tư liệu được trưng bày tập trung vào 2 chủ đề chính: Thừa Thiên Huế - Trung tâm Văn hóa - Du lịch và Chủ quyền Biển Đảo Tổ quốc.
Tổ chức Liên hoan sân khấu Hài kịch không chuyên toàn quốc thu hút 20 đơn vị nghệ thuật không chuyên đến từ các tỉnh, thành phố: Bắc Kạn, Hải Dương, Bình Dương, Bình Phước, Cần Thơ, Đồng Nai, Gia Lai, Hà Nội, Lạng Sơn, Quảng Ngãi, Sóc Trăng, Sơn La, Thái Bình, Thái Nguyên, Thừa Thiên Huế, Tiền Giang, TP Hồ Chí Minh, Tuyên Quang, Vĩnh Long và Bà Rịa - Vũng Tàu với chủ đề "Xây dựng văn hóa, con người Việt Nam - Xây dựng nông thôn mới".
Tổ chức Lễ khai mạc chặng đua xe đạp “Tràng Tiền-Phú Xuân” dài 42km, tranh cúp truyền hình TP.Hồ Chí Minh lần thứ 28-2016 “Non song liền một dải”.
Lễ hội Festival Huế 2016 sẽ được khai mạc vào ngày 29/4/2016 và bế mạc ngày 04/5/2016, với chủ đề “Di sản văn hóa với hội nhập và phát triển, 710 năm Thuận Hóa - Phú Xuân - Thừa Thiên Huế”. Festival Huế 2016 là cơ hội để quảng bá Huế - thành phố văn hóa, di sản, Festival và du lịch đặc trưng của Việt Nam.
Chương trình ca nhạc kỷ niệm 15 năm ngày mất của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn với chủ đề Nối vòng tay lớn sẽ tổ chức tại thành phố Huế vào cuối tháng Tư. Chương trình sẽ kết nối hơn 60.000 người yêu nhạc Trịnh từ Sài Gòn đến Huế.
d. Tai nạn giao thông
Trong tháng 3/2016, trên địa bàn tỉnh xảy ra 37 vụ tai nạn và va chạm giao thông, giảm 9 vụ so với cùng kỳ năm trước; làm chết 15 người, tăng 5 người; bị thương 34 người, giảm 10 người. Trong đó: Tai nạn giao thông đường bộ xảy ra 36 vụ, giảm 9 vụ; làm chết 14 người, tăng 5 người; bị thương 33 người, giảm 11 người. Tai nạn giao thông đường sắt xảy ra 1 vụ, không tăng giảm; làm chết 1 người, không tăng giảm; bị thương 1 người, tăng 1 người. Tai nạn đường thủy không xảy ra. Tính chung trong 3 tháng đầu năm 2016, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 114 vụ tai nạn giao thông, giảm 6 vụ so với cùng kỳ năm trước; làm chết 45 người, tăng 3 người; bị thương 96 người, giảm 10 người. Trong đó tai nạn giao thông đường bộ xảy ra 108 vụ, giảm 9 vụ; làm chết 39 người, không tăng giảm; bị thương 94 người, giảm 12 người. Tai nạn giao thông đường sắt xảy ra 6 vụ, tăng 3 vụ; làm chết 6 người, tăng 3 người; bị thương 2 người, tăng 2 người. Tai nạn đường thủy không xảy ra.
e. Tình hình cháy nổ và bảo vệ môi trường
Từ đầu tháng 4/2016 đến nay, trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ cháy nào,  giảm  2 vụ so cùng kỳ năm trước. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 4 vụ cháy, bằng cùng kỳ năm trước; không xảy ra vụ nổ, bằng cùng kỳ năm trước. Tổng giá trị thiệt hại do các vụ cháy gây ra là 524 triệu đồng, không thiệt hại về người.
Từ đầu tháng 4/2016 đến nay, xảy ra 9 vụ vi phạm môi trường, tăng 2 vụ so với cùng kỳ năm trước, đã tiến hành xử lý 7 vụ với số tiền xử phạt 32 triệu đồng. Từ đầu năm đến nay, đã xảy ra 35 vụ vi phạm môi trường, giảm 12 vụ so với cùng kỳ năm trước, đã tiến hành xử lý 33 vụ với số tiền phạt 165 triệu đồng. Các hành vi vi phạm gồm: thải nước thải ra môi trường không qua xử lý; khai thác và vận chuyển cát sạn trái phép; vận chuyển đất đá, cát sạn rơi vãi;...
f. Thiệt hại do thiên tai
Vào chiều ngày 17/4/2016, ở xã Phong Hiền và Phong  An của huyện Phong Điền đã xảy ra cơn lốc xoáy kèm theo mưa đá làm 2 người bị thương, làm tốc mái gần 300 ngôi nhà, trong đó có 61 nhà bị hư hỏng nặng, làm hư hỏng một số trường, phòng học, 155 ha lúa đông xuân đang trổ bông, 26 ha hoa màu, 2 trạm biến thế và một số cột, đường dây thông tin; nhiều cây cổ thụ, cây lâm nghiệp bị đổ gãy. Ước tính thiệt hại ban đầu khoảng 5,5 tỷ đồng. Lãnh đạo UBND tỉnh đã làm việc với UBND 2 xã bị thiên tai và đến thăm các nơi bị thiệt hại, yêu cầu chính quyền các địa phương tiếp tục huy động lực lượng giúp đỡ người dân sửa chữa nhà ở để sớm ổn định cuộc sống. Đối với những gia đình bị thiệt hại nặng, những gia đình chính sách, hộ nghèo không đủ khả năng khắc phục đề nghị huyện, xã xem xét cụ thể để có phương án hỗ trợ kịp thời. Đối với các diện tích lúa và hoa màu bị ảnh hưởng bởi lốc xoáy và mưa đá, yêu cầu địa phương có phương án khắc phục để giảm thiệt hại về năng suất, sản lượng; khẩn trương sửa chữa những trường học bị hư hỏng để các em học sinh sớm ổn định học tập./.


Gửi bởi    

HỆ THỐNG TÊN MIỀN MẠNG GSO
MÁY CHỦ TÊN MIỀN .GSO:
Chính:       10.0.1.1
Dự phòng: 10.0.1.2
  • Góc người dùng
Tên đăng nhập:
Mật khẩu:



Bạn đang dùng -

IP:3.235.22.210

Thống kê

Lượt truy cập  22128
Đang trực tuyến   5